Tôn giáo địa phương (bản địa) và văn hóa Nam Bộ – Phần 1

Tác giả bài viết: Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân  NGÔ VĂN LỆ

TÓM TẮT

     Cộng đồng cư dân sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, vì vậy, văn hóa, trong đó có tín ngưỡng tôn giáo, góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam. Mặt khác, trong bối cảnh cụ thể của Nam bộ, nơi có điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội khác với các địa phương khác, nên trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, đã có những biến đổi cho phù hợp với điều kiện của vùng đất mới.

* * *

     Nam bộ là một đồng bằng lớn ở nước ta với diện tích trên 64.000km2. Đây là vùng đất mới đối với lịch sử lâu đời của nước Việt Nam, nhưng lại là vùng đất hứa, và là niềm hy vọng của bao lớp cư dân đến sinh cơ lập nghiệp. Các thế hệ người Việt cùng với các thế hệ của các tộc người anh em khác đã chung lưng đấu cật khai phá và bảo vệ vùng đất này làm nên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống xâm lược cũng như trong xây dựng hòa bình.

     Khi nghiên cứu về Nam bộ với tư cách là một vùng văn hóa lịch sử, chúng tôi nhận thấy cảnh quan, địa lý cùng với bối cảnh cụ thể, đa dạng của vùng đã chi phối một cách sâu sắc đến các yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội của cả khu vực cũng như của từng cộng đồng dân cư sinh sống trên vùng đất Nam bộ(1). Có thể nói, Nam bộ là một trong số những vùng khá đặc biệt không những đối với Việt Nam mà đối với cả thế giới. Đây là một trong những vùng đồng bằng duy nhất mà ở đó có bốn tộc người cư trú khác biệt nhau về mọi phương diện. Chưa nói đến là nơi đây đã từng có một số tộc người sinh sống nhưng do những lý do những biến động lịch sử họ đã di chuyển đến nơi khác(2). Những biến động lịch sử làm cho làn sóng di cư xảy ra liên tục(3). Ở đây đã diễn ra ba hình thức di dân. Đó là di dân tự nhiên, di dân cơ chế, di dân tại chỗ(4). Các tộc người cư trú ở Nam bộ có mặt vào các thời điểm khác nhau, nhưng giữa các tộc người này luôn diễn ra quá trình giao lưu văn hóa và tiếp biến văn hóa lẫn nhau.

     Hơn nữa, Nam bộ là nơi có nhiều tôn giáo, bởi sự du nhập từ ngoài do các đoàn lưu dân mang theo như Phật giáo, Công giáo, Islam, Tin lành, … ngoài ra còn có nhiều tôn giáo xuất hiện ở đây mang sắc thái địa phương rõ rệt như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Hòa Hảo. Những tôn giáo này thường có tính hỗn hợp (syncretisme) bởi giáo lý được vay mượn từ các tôn giáo khác, kể cả những tôn giáo lớn được du nhập từ bên ngoài.

     Những tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn đến một bộ phận dân cư Nam bộ. Trong bài viết đăng trên Tạp chí Dân tộc học Xô Viết trước đây, nhà dân tộc học đồng thời cũng là một nhà tôn giáo học nổi tiếng người Nga, giáo sư tiến sỹ S.A.Tocarev nêu lên luận điểm cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội(5). Xung quanh vấn đề này đã dẫn đến cuộc thảo luận học thuật được đăng tải trên Tạp chí Dân tộc học Xô Viết trong nhiều năm. Các nhà dân tộc học Xô Viết đã có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này(6). Trong bài viết có tính chất tổng kết cuộc trao đổi sôi nổi này, giáo sư Tocarev vẫn bảo lưu ý kiến của mình(7). Chúng tôi tán thành ý kiến của giáo sư S.A.Tocarev khi nói về tôn giáo như là một hiện tượng xã hội. Và một khi coi tôn giáo như là một hiện tượng xã hội thì nguyên nhân của sự ra đời của các tôn giáo cũng phải được xem xét trong bối cảnh xã hội nhất định. Không đặt trong một khung cảnh xã hội nhất định với các mối liên hệ chúng ta sẽ không có cơ sở để lý giải các hiện tượng xã hội có liên quan đến sự ra đời của các tôn giáo. Trên cơ sở lập luận như vậy, chúng tôi muốn đánh giá lại bối cảnh xã hội và thành phần tộc người tại Nam bộ; vấn đề đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam bộ trong suốt chiều dài lịch sử.

     Các tín ngưỡng tôn giáo bản địa được ra đời trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Bối cảnh xã hội mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong đề tài này là bối cảnh xã hội của Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là giai đoạn ghi đậm dấu ấn của người Việt tại Nam bộ và tạo ra dấu ấn đặc trưng về tôn giáo tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của các tộc người ở đây.

     Bên cạnh cư dân bản địa sinh sống lâu đời tại Nam bộ, những lưu dân vào Nam bộ khai hoang, lập nghiệp là những người nghèo khó hay vì những lý do khác nhau không thể sinh sống ở quê nhà, nơi “chôn nhau, cắt rốn” phải rời bỏ quê hương ra đi. Những lưu dân ra đi tư nhiều vùng miền khác nhau chính vì thế thành phần cư dân vô cùng phức tạp. Họ ra đi từ nhiều làng quê ở miền Bắc, miền Trung, gặp nhau ở vùng đất lạ mà thiên nhiên lại vô cùng khắc nghiệt”, “Đồng Nai xứ sở lạ lùng, dưới sông cá lội trên giồng cọp um”, hay “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma”. Ở các làng miền Việt miền Bắc, miền Trung thành phần dân cư không phức tạp như vậy. Thông thường mỗi làng chỉ bao gồm thành viên của một vài dòng họ. Nhìn chung thành phần cư dân ở đó tương tương đối thuần nhất giữa những thành viên trong một làng (công xã) thường có mối quan hệ thân thuộc. Còn những ngươi từ vùng khác di cư đến (thường số lượng không nhiều) là dân ngụ cư và hầu như không có vai trò gì trong mọi hoạt động của làng (xã). Tình hình đó cho đến ngày nay vẫn còn quan sát thấy ở các làng miền Bắc(8). Đứng về mặt nào cũng phải thừa nhận nông dân nói chung không bao giờ tự giải phóng được mình mà chỉ làm đội quân hùng hậu dưới sự lãnh đạo của các giai cấp khác mà thôi. Nông dân biết rất rõ vì sao họ chịu khổ cực nhưng họ lại không biết nguyên nhân của cái nguyên nhân đó. Nông dân do trực quan thấy được rằng họ khổ là do không có ruộng đất, nhưng họ lại chưa hiểu vì sao họ không có ruộng đất, họ cũng không biết là bị bóc lột như thế nào. Đối với họ có lẽ số phận đã sinh ra như thế và chính ở lĩnh vực có tính tha hóa về ý thức nông dân đã đem lại bao màu sắc tôn giáo và phương thuật cho phong trào nông dân. Làng Việt Nam bộ là làng khai phá. Quá trình hình thành làng Việt ở Nam bộ khác với quá trình hình thành làng ở miền Bắc và miền Trung. Nếu như các làng Việt Bắc Bộ ra đời do sự tan rã dần của công xã nong thôn mà dấu tích còn lại chính là ruộng công điền, công thổ thì làng Việt Nam bộ ra đời do nhu cầu khai phá đất mới từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Có làng do dân cư từ nhiều nguồn khác nhau tập hợp lại trong quá trình khai phá, cũng có làng vốn là những đồn điền của chúa Nguyễn của nhà Nguyễn.

     Mặt khác, do dân cư có nguồn gốc khác nhau nên trong làng có thành viên của nhiều dòng họ khác nhau làm cho mối quan hệ dòng họ vốn rất bền chặt ở các làng Việt Bắc Bộ, lại có phần lỏng lẻo hơn so với làng Việt Bắc Bộ và cũng không có cảnh “trong họ ngoài làng”, “ba họ chín đời” cũng vì thế mà không có sự phân biệt chính cư, ngụ cư vốn hết sức nặng nề trong các làng Việt Bắc Bộ. Một điều cũng dễ dàng nhận thấy là cùng khai hoang lập làng với người Việt còn có người Khmer, người Hoa, người Chăm thậm chí còn cả các tộc người khác đã từng cư trú ở Nam bộ trước khi người Việt có mặt ở đây. Trong quá trình khai hoang lập làng giữa các tộc người đã diễn ra quá trình giao lưu văn hóa có sự trao đổi, tiếp nhận những giá trị văn hóa. Quá trình đó diễn ra liên tục trong nhiều thế kỷ, kết quả là đã hình thành vùng văn hóa “văn minh miệt vườn” với những đặc trưng rất khác biệt so với các vùng văn hóa khác. Ngoài ra ở các làng xã Nam bộ hầu như không có hương ước, vốn rất phổ biến ở các làng Việt Bắc Bộ. Làng Việt Nam bộ được hình thành trong quá trình khai phá, mối quan hệ dòng họ lỏng lẻo trong vùng có nhiều thành phần tộc người sinh sống, làng không vận hành theo hương ước, không có các tổ chức phi quan phương cùng song hành với các tổ chức quan phương như các làng Việt Bắc bộ. Tất cả những nhân tố đó góp phần lý giải sự ra đời các tôn giáo bản địa của người Việt ở Nam bộ.

     Còn nguyên nhân trực tiếp theo chúng tôi phải xem xét từ hoàn cảnh cụ thể của Nam bộ trong giai đoạn này. Những vấn đề có tính đặc thù của Nam bộ mà chúng tôi nhìn nhận như là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc ra đời những tôn giáo bản địa nói riêng và sự phát triển của tôn giáo tín ngưỡng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tại Nam bộ nói chung. Điều đó cũng góp phần lý giải vì sao những tôn giáo đó chỉ có ảnh hưởng trong phạm vi Nam bộ mà không lan ra các vùng khác của Việt Nam.

     Có một thực tế là những người nông dân Việt vào Nam bộ khai hoang lập làng (ấp) hầu hết là những người nghèo khổ, thiếu học, đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đức làm dân, làm người mà không thuộc kinh truyện(9). Xét về cơ bản, nền giáo dục của lớp cư dân vào Nam bộ khai hoang vẫn nằm trong khuôn khổ của ý thức hệ Nho giáo. Đó là nền tảng giáo dục của xã hội Việt Nam thời bây giờ. Nhưng những di dân lại là những người nghèo khó, những người vì những lý do khác nhau đã phải rời bỏ quê hương, môi trường lao động cực nhọc ở miền đất mới không phải là mảnh đất tốt cho Nho giáo bám rễ sâu. Nhà nước phong kiến không quan tâm đến việc học hành, thi cử mà chỉ quan tâm đến việc thu thuế, bắt lính. Đó là lý do giải thích vì sao ở giai đoạn đầu trong quá trình khai phá, giáo dục không được quan tâm. Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá sớm và đã có ảnh hưởng rất lớn về mọi mặt(10). Từ thế kỷ XV Nho giáo đã chiếm được vũ đài chính trị thay thế vai trò của Phật giáo. Nhà Lê đề cao Nho giáo vì những đóng góp của nho sỹ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Do đó, Nho giáo đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống mọi mặt của nhân dân ta thời đó. Nhưng một khi chính trị suy vi, Nho giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam bộ, Nho giáo đã nhạt dần lại tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó ít học thì khó lòng có thể xác lập được một chỗ trong xã hội để chi phối và ảnh hưởng như nó đã từng có trong xã hội Việt Nam.

     Phật giáo du nhập vào nước ta từ đầu công nguyên và đã từng có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những đặc điểm văn hóa Đại Việt và góp phần không nhỏ trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Từ thời Lý và đặc biệt là thời Trần, Phật giáo đã chi phối một cách sâu sắc đến đời sống mọi mặt của nước ta và để lại một di sản văn hóa có giá trị cho tới ngày nay. Nhưng dần dần Nho giáo đã thay thế vai trò của Phật giáo. Phật giáo từ bỏ vũ đài chính trị trở về với quảng đại quần chúng nhân dân lao động nhưng đã mất đi cái ảnh hưởng lớn lao đã từng có trong Phật giáo. Bởi vì kể từ thế kỷ XV bắt đầu thời kỳ suy vi của Phật giáo. Trong bối cảnh như vậy lại ở những vùng đất đầy khó khăn, những giáo lý cao siêu của Phật giáo ở một mức độ nào đó không còn thích hợp với những lưu dân rời bỏ quê hương vì nhiều lý do khác nhau. Một khoảng trống trong đời sống tâm linh của những lưu dân trên vùng đất phương Nam xa xôi với cội nguồn chưa được lấp đầy. Bằng con đường hoạt động tích cực của các giáo sỹ phương Tây, Công giáo đã du nhập vào Việt Nam. Đến thế kỷ XIX, Công giáo đã có một lượng tín đồ đáng kể và phát triển mạnh mẽ ở các vùng ven biển, nơi có điều kiện tiếp xúc với các giáo sỹ phương Tây. Nhưng đây là tôn giáo mới du nhập vào nước ta trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Hơn thế nữa, Công giáo có những giáo lý xa lạ với những tập tục truyền thống vốn có lâu đời ở nước ta, gắn bó với những người lao động. Do đó, Công giáo khi du nhập vào Nam bộ ngay từ đầu đã vấp phải sức chống đối. Về sau này khi thực dân Pháp đã thiết lập được ách thống trị của mình trong phạm vi cả nước và đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cho Công giáo có thể mở rộng nhưng Công giáo cũng chỉ gây được ảnh hưởng khiêm tốn(11). Chỉ sau năm 1954, với âm mưu di cư nửa triệu người Công giáo từ miền Bắc vào Nam do chính sách ưu ái Công giáo của chế độ Mỹ – ngụy vai trò Công giáo mới rõ ràng hơn ở dải đất miền Nam Việt Nam. Như vậy, chúng tôi đã trình bày một cách rất khái quát những tôn giáo hiện hữu ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng như vai trò va những ảnh hưởng của những tôn giáo đó đến đời sống của người Việt. Do những nguyên nhân rất khác nhau các tôn giáo đó ảnh hưởng rất hạn chế đến đời sống của những lưu dân trên vùng đất mới. Một khoảng trống, một sự hụt hẫng trong đời sống tâm linh là có thật đối với những lưu dân khi phải sống xa cội nguồn, khi mà cuộc sống có nhiều khó khăn, bất trắc luôn đe doạ cuộc sống.

     Những lưu dân từ miền Trung hay miền Bắc vào Nam bộ vốn trước đây sinh sống ở những vùng tương đối thuần nhất xét về phương diện môi trường. Khi họ di cư vào Nam bộ, họ thấy một thiên nhiên đa dạng và bí ẩn với “Ruộng đồng mặc sức chim bay, biển hồ lai láng, cá bầy đua bơi” hay, “tới đây xứ sở lạ lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”.

     Môi trường nơi con người sinh sống có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách, đến việc hình thành những đặc trưng văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của một cộng đồng(12). Mảnh đất này còn là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng tộc người có lịch sử hình thành khác nhau, có dân tộc đã từng sinh sống lâu đời, có dân tộc mới di cư tới. Sự xáo trộn về phương diện dân cư thường bị tác động bởi nhiều yếu tố mà kết quả cuối cùng là dẫn đến sự giao lưu, hỗn dung văn hóa. Do cư dân ở đây vốn là tín đồ của các tôn giáo khác nhau nên cũng đã xảy ra sự tiếp nhận các yếu tố tôn giáo khác nhau. Hiển nhiên trong sự giao lưu đó sẽ có cả những yếu tố tích cực và cả yếu tố mê tín dị đoan. Một khía cạnh khác cũng cần lưu ý là ảnh hưởng của môn phong thủy (geomancie) xem vùng đất thuộc Nam bộ như là một vùng linh địa, miền đất thiêng, nơi xuất hiện những nhân vật hiển linh cứu người.

     Trong bối cảnh như vậy, những yếu tố thiên nhiên đa dạng, trình độ dân trí có hạn được giải thích một cách huyền bí là những nguyên nhân dẫn đến việc xuất hiện các tôn giáo mang tính cứu thế suốt thế kỷ XIX, và rộ lên vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. G. Cuolet đã có những miêu thuật khá tốt trong cuốn sách Những xã hội kín trên đất An Nam(13). Đó là một đặc trưng đáng lưu ý ở Nam bộ với hai địa điểm huyền bí: Miền Bảy Núi và núi Bà Đen. Đó cũng là hai trung tâm xuất hiện hai tôn giáo mới: Đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo mà chúng tôi gọi là các tôn giáo bản địa.

     Đạo Cao Đài được một nhóm trí thức và giới thượng lưu thời Pháp thành lập vào năm 1926, hỗn hợp giáo lý của các tôn giáo đương thời (kiểu tôn giáo Islam) nhuốm mầu sắc Đạo giáo về nội dung và phương pháp hành lễ lấy kinh nghiệm tổ chức đạo của Công giáo, tôn Đấng Chí tôn ngồi trên đài trên cao như một Đấng tối cao, đứng trên các vị sáng lập các tôn giáo Đông Tây theo nguyên tắc Tam giáo đồng nguyên, ngũ chi hợp nhất (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo, Công giáo và đạo Phong thần của Khương Tử Nha). Đạo phát triển mạnh ở miền Đông Nam bộ, sau lan ra khắp miền Nam. Đạo Hòa Hảo thì ngược lại, xuất hiện ở miền Bảy Núi ra đời năm 1939 tại làng Hòa Hảo – làng của người đứng ra lập đạo Huỳnh Phú Sổ và cũng vì vậy mà đạo này được gọi là đạo Hòa Hảo. Đạo kế thừa truyền thống của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (1848) và đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa phát triển rộng rãi ở Nam bộ. Giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo là dựa trên truyền thống của các tôn giáo dân tộc và đạo Phật được phổ thông hóa bằng bốn điều: ơn Tổ quốc, ơn Pháp bảo, ơn đồng bào, nhân loại được thể hiện qua các bài sấm truyền theo hình thức song thất lục bát của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ tự nhận là người được thánh nhân phù trợ, trời sai xuống cứu thế trước là cứu thể xác (chữa bệnh) sau là cứu linh hồn. Triết lý của đạo mộc mạc, lễ thức đơn giản chỉ thờ một tấm trần điều, hương hoa, nước lã tại gia không có nơi thờ tự công cộng, thích hợp với tâm lý và tình cảnh của người nông dân Nam bộ. Và cũng lại chính vùng đất Nam bộ trong thời kỳ tiến hành hai cuộc kháng chiến cho đến nay, nảy sinh và phát triển những đạo mới trong đó có đạo Dừa, một số đạo phái Tin lành khác xa với giáo lý của đạo Tin Lành chính thống cũng như một số hiện tượng tôn giáo mới như Long Hoa Di Lặc, Thanh Hải vô thượng sư. Chúng tôi đã nêu lên một số nguyên nhân dẫn đến sự ra đời những tôn giáo bản địa ở Nam bộ vào những thập niên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Các nghiên cứu gần đây cũng đã giải thích những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các tôn giáo bản địa ở Nam bộ. Trong bài viết Đạo Cao Đài – một thực tiễn khách quan, một thế ứng xử Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến đạo Cao Đài trở thành tôn giáo như sau:(14)

     – Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho đến ngày nay. Sự xuất hiện các tôn giáo hay một số hiện tượng tôn giáo mới thường do những nguời ở tầng lớp giàu có, tri thức đương thời khai sáng. Đạo Cao Đài hơn các đạo mới thành lập khi mọc, khi lặn ở chỗ đã hiểu được tâm lý xã hội người nông dân Nam bộ đương thời.

     – Về phương diện tôn giáo, điều đáng lưu ý nhất là đạo Cao Đài mang tính thực tiễn.

     Có thể có các cách lý giải khác nhau về nguyên nhân ra đời các tôn giáo bản địa Nam bộ. Nhưng có một thực tế là các tôn giáo chỉ ra đời trong xã hội của người Việt Nam bộ và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi đó. Rõ ràng xã hội của người Việt Nam bộ và bối cảnh của xã hội Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời các tôn giáo ở Nam bộ và cũng chính những điều đó lại chế định vùng ảnh hưởng của các tôn giáo đó. Khi các tôn giáo đó ra đời và xác lập được vị tri của mình trong đời sống của cư dân Nam bộ đến lượt mình các tôn giáo mới lại tác động đến đời sống mọi mặt của cư dân. Bởi vì, một sự du nhập hay là sự xuất hiện của một tôn giáo ở một xã hội nào đó nếu xét trên bình diện văn hóa là sự xuất hiện một thành tố văn hóa mới. Tôn giáo, dù là những tôn giáo có tính quốc tế (như Phật giáo, Công giáo…) hay một tôn giáo có tính khu vực (như Ấn độ giáo, Khổng giáo…) hay có tính địa phương (như Cao Đài, Hòa Hảo…) cũng chỉ là một thành tố (component) văn hóa của một tộc người. Vì rằng, trước khi các tôn giáo đó du nhập hay mới xuất hiện ở một tộc người thì bản thân tộc người đó đã có một nền văn hóa của mình. Nhờ có những giá trị văn hóa nên các tộc người mới tồn tại và phát triển. Cho nên, mặc dù tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống mọi mặt của một tộc người, thậm chí còn là nền tảng văn hóa của một tộc người nhưng không phải là tất cả.

     Các tôn giáo bản địa ra đời trong bối cảnh cụ thể của vùng đất Nam bộ, đã có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của các cư dân Nam bộ. Văn hóa của một tộc người bao gồm những giá trị vật thể và phi vật thể mà tôn giáo chỉ là một trong nhiều thành tố (component) góp phần làm phong phú văn hóa của tộc người. Tôn giáo không phải là tổng thể văn hóa của một tộc người. Nhưng “tôn giáo là hình thái ý thức xã hội ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay, tồn tại cùng loài người trong một thời gian khó mà đoán định trước được. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, tư tưởng văn hóa – xã hội và tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia, dân tộc của các tầng lớp người, nhất là đối với thế hệ trẻ”(15). Một nhận định có tính chất bao quát như vậy theo chúng tôi cũng rất phù hợp với tình hình thực tế ở Nam bộ khi các tôn giáo bản địa ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Và trong bối cảnh cụ thể của Nam bộ khi các tôn giáo mới ra đời cũng có ảnh hưởng nhất định đến đời sống mọi mặt của cư dân. Chúng tôi đặt trở lại vấn đề các tôn giáo bản địa ra đời ở Nam bộ vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống mọi mặt của cư dân Nam bộ, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo? Như là một hệ quả, các tôn giáo đó với tư cách là một thành tố văn hóa mới đã góp phần làm phong phú thêm văn hóa của người Việt Nam bộ. Các tôn giáo bản địa ra đời vào các thời điểm khác nhau nhưng đều ra đời ở Nam bộ mà tín đồ chủ yếu là nông dân, địa bàn cư trú chủ yếu vẫn là nông thôn nơi có điều kiện bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu như trước đây trong không gian văn hóa Nam bộ, người Việt với những giá trị văn hóa truyền thống của mình đã cùng cộng cư với người Khmer, người Hoa, người Chăm có những đặc trưng văn hóa riêng đã tạo nên bức khảm văn hóa khá đa dạng. Tuy nhiên, văn hóa người Việt vẫn là một thể thống nhất cho dù có một bộ phận người Việt theo Phật giáo hoặc Công giáo với số lượng hạn chế. Thì giờ đây khi xuất hiện các tôn giáo mới cho dù có được tổ chức chặt chẽ hay không, có hệ thống giáo lý hay không, một sự kế thừa các tôn giáo có trước, hay là một sự hỗn dung thì các tôn giáo đó vẫn tồn tại như một thực thể và chính những điều đó đã góp phần làm cho bức tranh văn hóa Nam bộ thêm phong phú. Những quy định của giáo luật mà mỗi tín đồ của các tôn giáo này thực hiện và phải tuân thủ (như quy định về y phục, lễ phục, việc búi tóc, hình thức thờ cúng, lễ vật, …) đã làm cho họ khác với những người không theo các tôn giáo đó. Có một thực tế là các tôn giáo ra đời ở Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng văn hóa Việt, mà cái nôi là Đồng bằng sông Hồng có truyền thống ngàn năm đã hằn sâu vào tiềm thức các thế hệ người Việt cho dù họ sinh sống ở đâu. Những lễ hội truyền thống, việc thờ cúng tổ tiên những quan hệ dòng họ, quan hệ làng xã là hằng số văn hóa tạo nên bản sắc không dễ dàng có thể loại bỏ. Các tôn giáo mới ra đời trong sự kế thừa và hỗn dung các tôn giáo có trước không đủ mạnh để thiết lập ảnh hưởng một cách tuyệt đối nên không đủ sức phá vỡ nền tảng văn hóa truyền thống bền vững của người Việt, để xác lập vị trí độc tôn của tôn giáo mới như chúng ta đã thấy hiện tượng đó đã xảy ra ở một số nơi(16). Do đó, ảnh hưởng của các tôn giáo này đến đời sống tín ngưỡng người Việt cũng có giới hạn. Điều này cũng cắt nghĩa tại sao các tôn giáo mới ra đời ở Nam bộ lại không cực đoan như một số giáo phái mới ra đời ở các nơi khác, thường mở rộng vùng ảnh hưởng cũng như giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp tôn giáo bằng các cuộc bạo lực vũ trang mang nặng tính ký thị tôn giáo. Và nó cũng thể hiện khả năng tiếp biến văn hóa của người Việt trong môi trường mới. Những người nông dân Việt trong quá trình khai hoang lập làng cùng cộng cư với các tộc người khác, có ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo khác biệt nhưng bằng năng lực và dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống đã biết cởi bỏ những ràng buộc không còn phù hợp để tiếp nhận có chọn lọc những giá trị văn hóa của các tộc người khác làm phong phú văn hóa, nhưng lại không làm mất đi những nét đẹp của văn hóa truyền thống. Các tôn giáo ra đời ở Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều thể hiện tính nhập thế như là một trào lưu diễn ra trong suốt thế kỷ XIX và rộ lên vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Mặc dù Phật giáo Hòa Hảo nói pháp môn là học Phật tu nhân nhưng trong thực tế đời sống nhiệm vụ của người tín đồ tập trung vào tu nhân. Thực hiện tu nhân các tín đồ chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa truyền thống Việt Nam và đi vào cụ thể hơn như đã được nhấn mạnh trong quan điểm tứ trọng đại ân: ân tổ tiên, cha mẹ, ân quê hương, đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào, nhân loai. Còn đối với Cao Đài, trừ nhóm nhỏ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, còn các phái khác đều tự xem là phổ độ, hướng dẫn đồng bào tu hành để được giải thoát. Các hoạt động thực tiễn của Cao Đài và Hòa Hảo kể từ khi lập đạo cho đến năm 1975 khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, khi mà ở một mức độ nào đó vai trò của những người đứng đầu các tôn giáo này đã giảm, đã thể hiện rõ tính nhập thế. Những người đứng đầu các tôn giáo này thậm chí đã thành lập các đảng phái chính trị, các lực lượng vũ trang tham gia tích cực vào đời sống chính trị, trở thành những thế lực nhất định trên chính trường ở miền Nam trước năm 1975. Với tinh thần bình đẳng, khoan dung, ý thức trách nhiệm chia sẻ với đồng loại có một hoạt động mang tính xã hội rất tiêu biểu của các tín đồ hai tôn giáo Cao Đài và Hòa Hảo là việc làm từ thiện. Là một người sinh ra và lớn lên ở miền Bắc khi vào công tác ở miền Nam lúc đầu chúng tôi rất ngạc nhiên về hoạt động nhân đạo của các tổ chức và các cá nhân, nhất là các tôn giáo. Bất kỳ một sự thiệt hại nào do thiên tai gây ra cho đồng bào ở các vùng miền khác nhau như lũ lụt, bão gió thì có ngay một phong trào quyên góp ủng hộ, chia sẻ. Với các tín đồ của các tôn giáo bản địa những hoạt động từ thiện còn nằm trong đường hướng tu hành và với một tinh thần chia sẻ khó khăn khi hoạn nạn việc làm từ thiện được các tín đồ thực hiện hàng ngày và rất tự nhiên. Ngoài những hoạt động tôn giáo bình thường hàng ngày mà mỗi tín đồ phải thực hiện, hàng năm các tôn giáo bản địa còn tổ chức một số ngày lễ trọng với quy mô cộng đồng, nhằm củng cố đức tin, khuyếch trương thanh thế, phát triển đạo.

     Còn tiếp….

_________
1. Nguyễn Công Bình và các tác giả, Văn hóa và cư dân Nam bộ, Nxb. KHXH. H. 1990, Nguyễn Công Bình và các tác giả, Nam Bộ-Nghiên cứu và phát triển, Nxb. KHXH. H. 1995. Trịnh Hoài Đức, Gia định thành thông chí, Nxb. Giáo dục, H., 1998. Mạc Đường và các tác giả, Vấn đề dân tộc ở Nam Bộ, Nxb. KHXH. H1991. Huỳnh Lứa và các tác giả, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb. Tp. HM. 1987. Huỳnh Lứa, Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Nxb. KHXH. h. 2000. Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu hay văn minh miệt vườn, Nxb. An Tiêm, Sài Gòn, 1968. Sơn Nam, Lịch sử khai hoang miền Nam, Nxb. Đông Phố Sài Gòn, 1973. Phan Quang, Nam Bộ, Nxb, Văn hóa. 1981. Nguyễn Phương Thảo, Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo, Nxb. Giáo dục, H. 1997.

     2. Trần Văn Giàu (Chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987, trg. 134-135.

     3. Ngô Văn Lệ, Di dân và những vấn đề đặt ra, trong sách: Những vấn đề khoa học xã hội và nhân văn, Nxb. Đại Học Quốc Gia Tp. HCM, 2007, trg 220-226.

     4. Mạc Đường, Về vấn đề dân cư và dân tộc ở Nam Bộ, trong sách: Một số vấn đề về khoa học xã hội về Nam Bộ, Nxb. KHXH H. 1982, trg 178.

     5. S. A. Tocarev, Về tôn giáo như là một hiện tượng xã hội, Tạp chí Dân tộc học Xô Viết, số 3 -1979.

     6. Xin xem các bài viết có liên quan đến cuộc thảo luận được đăng tải trong Tạp chí Dân tộc học Xô Viết từ tháng 3 năm 1979 đến số 1 năm 1981.

     7. S. A. Tocarev, Một lần nữa lại bàn về tôn giáo như là một hiện tượng xã hội, Tạp chí Dân tộc học Xô Viết, số 1-1891.

     8. Philippe Papin-Olivier Tessier (Chủ biên), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề
còn bỏ ngỏ. Trung tâm KHXH & NVQG, H. 2000, tr. 251. Ngô Văn Lệ, Làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ, Hội thảo quốc tế Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: những tiếp cận nhân học, bản thảo tr. 15.

     9. Trần Văn Giàu (Chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987, tr. 245.

     10. Toan Ánh, Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng) Nxb Tp. HCM, tr. 280 -283.

     11. Trần Hữu Hợp, Cộng đồng người Việt Công giáo ở Nam Bộ, luận án tiến sỹ sử học, năm 2006, tr. 60, theo đó số tín đồ Công giáo ở Nam bộ vào năm 2003 là 690. 283 người, chiếm 4, 008% dân số toàn khu vực. Trong mấy trăm năm qua dân cư vùng Nam bộ không ngừng tăng nhanh, nhưng số lượng tín đồ Công giáo cũng chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn so với dân cư trong vùng.

     12. Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hoá tộc người, Nxb. ĐHQGTp. HCM; 2004, tr. 234 – 241. . .

     13. G. Cuolet, Les societes secretes en terre d”Annam, Sài Gòn 1926.

     14. Viện Nghiên cứu tôn giáo, Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài, Nxb. KHXH, H, 1995, trg 49 – 61.

     15. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1997, tr. 206. 15.

     16. Thí dụ như ở Philippines nơi Công giáo đã du nhập vào cùng với sự xâm lược của các nước phương Tây và đã xác lập được vị trí độc tôn trong đời sống xã hội trở thành quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á nơi có tới trên 85% dân số theo Công giáo. 16.

Nguồn: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam và
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM 
Phật giáo vùng Mê-Kông: Di sản và văn hóa

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

     Còn tiếp: Kính mời Quý độc giả đón xem tiếp:

Tôn giáo địa phương (bản địa) và văn hóa Nam BộPhần 2