Tôn giáo địa phương (bản địa) và văn hóa Nam Bộ – Phần 2

Tác giả bài viết: Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân  NGÔ VĂN LỆ

     Văn hóa của bất kỳ một tộc người nào trong quá trình tồn tại và phát triển đều có sự kế thừa truyền thống (tradition), sư cách tân (innovation), sự giao lưu văn hóa (echanges culturelles) và sự tiếp biến văn hóa (acculturation). Các tôn giáo ra đời ở Nam bộ trong không gian xã hội của người Việt là sự kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống, có sự cách tân, có giao lưu và tiếp biến văn hóa nhưng rõ ràng những giá trị văn hóa mới này không đủ sức phá vỡ cơ tầng văn hóa truyền thống vốn đã tạo nên sức mạnh để cho tộc người Việt tồn tại và phát triển trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, để xác lập vị trí độc tôn, chi phối đến đời sống mọi mặt của người Việt Nam bộ. Điều này cũng đã xảy ra tương tự ở xã hội người Chăm. Khi Islam du nhập vào xã hội người Chăm đã gặp sự phản ứng mạnh mẽ của Bàlamôn giáo vốn có ảnh hưởng sâu rộng chi phối đến mọi khía cạnh đời sống của người Chăm để rồi dẫn đến một kết quả là Bàlamôn giáo không mất đi ảnh hưởng nhưng lại xuất hiện một cộng đồng Bàni. Bàni là một cộng đồng theo Islam được tiếp biến rất mạnh mẽ của văn hóa truyền thống Chăm ở Việt Nam, mà địa bàn cư trú giới hạn ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay. Cộng đồng dân cư này, tuy thừa nhận là những người theo tôn giáo Islam nhưng lại có sinh hoạt tôn giáo độc lập với cộng đồng Islam của người Chăm ở Nam bộ, cũng như đối với cộng đồng Islam thế giới. Cộng đồng Chăm Bàni tuân thủ giáo lý Islam theo một cách riêng, trong đó có nhiều điều hoàn toàn xa lạ với giáo luật Islam, như có tầng lớp tu sỹ tách biệt với tín đồ làm nhiệm vụ trung gian giao tiếp giữa tín đồ với các vị thần thánh, với thượng đế, các tín đồ không làm lễ mỗi ngày năm lần. Cũng như nhóm Bà-lamôn, họ vẫn giữ chế độ mẫu hệ, vẫn tiến hành các tập quán của cha ông, vẫn làm những nghi lễ với nhóm Bà-la-môn, trong các trường hợp các nghi lễ này có liên quan tới các hệ thống thủy lợi…(17) Chúng tôi nói đến trường hợp văn hóa của người Chăm, như muốn nhấn mạnh đến một thực tế là cho dù trong lòng xã hội người Việt Nam bộ đã xuất hiện những tôn giáo mới nhưng những tôn giáo này chỉ góp phần làm phong phú văn hóa của người Việt mà không đủ sức làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống.

     Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận những tác động của các tôn giáo mới, với tư cách là những thành tố văn hóa, đối với đời sống của người dân với tư cách là một tín đồ. Những công trình nghiên cứu gần đây về tôn giáo bản địa ở Nam bộ(18) đã đề cập đến những tác động đó. Nhưng theo chúng tôi, những tác động đó cũng chỉ dừng lại ở một mức độ nào đó. Bởi vì, trong đời sống hàng ngày của người Việt nói chung và người Việt Nam bộ nói riêng, việc thờ cúng tổ tiên không chỉ riêng trong việc cúng bái ngày giỗ chạp, ngày sóc, ngày vọng mà còn liên quan đến các phong tục tập quán của cộng đồng, của từng cá nhân như liên quan đến những thời điểm quan trọng nhất trong chu kỳ đời sống của một con người: sinh đẻ, hôn nhân, lúc về già, khi chết và kể cả sau khi chết để được mồ yên mả đẹp. Những tín đồ Cao Đài và Hòa Hảo vẫn giữ một truyền thống duy trì một cách nề nếp việc thờ cúng tổ tiên. Đây là một nét văn hóa truyền thống trong hầu hết các gia đình người Việt và là tín ngưỡng đứng ở vị trí then chốt trong đời sống tâm linh của mỗi gia đình người Việt. Đặng Nghiêm Vạn trong các công trình nghiên cứu về tôn giáo đã trình bày khá chi tiết về hệ thống tôn giáo dân tộc của người Việt mà ông gọi là Đạo tổ tiên(19). Theo đó, thì không một người Việt nào dù sống ở nông thôn hay thành thị, ở trong nước hay ở nước ngoài cũng đều có Đạo tổ tiên. Và như vậy, trước khi trở thành những tín đồ của Cao Đài, Hòa Hảo trong mỗi người nông dân Việt Nam bộ đã duy trì việc thờ cúng tổ tiên như khi họ còn ở miền Bắc hay miền Trung, không gian tôn giáo không thay đổi trong môi trường mới. Và như vậy, bất kỳ một yếu tố văn hóa ngoại nhập nào (mà ở đây là những tôn giáo bản địa như là một thành tố văn hóa) muốn xác lập được vị trí của mình trong đời sống tâm linh của người Việt Nam bộ phải đủ sức phá vỡ cơ tầng văn hóa truyền thống (mà ở đây là Đạo thờ tổ tiên), vốn đã ngấm sâu trong tâm khảm của người dân, là bản sắc (identité) văn hóa tộc người Việt. Sự ra đời các tôn giáo trong lòng xã hội của người Việt Nam bộ, trước hết với tư cách là một thành tố văn hóa góp phần làm phong phú thêm văn hóa của người Việt tai vùng đất mới và thứ hai với tư cách là một tôn giáo, các tôn giáo này tác động đến đời sống mọi mặt của cư dân.

     Như vậy, tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời trong những điều kiện xã hội cụ thể và cũng chính những điều kiện cụ thể đó lại chế định vùng ảnh hưởng của tôn giáo. Tôn giáo, dù là tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào hay là tôn giáo bản địa xét cho cùng cũng chỉ là một trong nhiều thành tố văn hóa của tộc người góp phần làm phong phú văn hóa của chính tộc người đó. Tôn giáo không phải là tất cả những giá trị văn hóa của một tộc người ngay cả khi tôn giáo đó là quốc giáo. Nhưng với tư cách là một tôn giáo thì chính tôn giáo đó lại tác động một cách sâu sắc đến đời sống mọi mặt của cư dân. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do điều kiện địa lý tự nhiên do môi trường xã hội đã xuất hiện một số tôn giáo bản địa trên địa bàn Nam bộ như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Hòa Hảo. Những tôn giáo bản địa đó đã góp phần làm phong phú văn hóa của người Việt Nam bộ, tạo nên một sắc thái riêng của văn minh miệt vườn.

     Bên cạnh đó, tín đồ các tôn giáo bản địa còn kế thừa tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đại bộ phận chức sắc và tín đồ của các tôn giáo này hướng về Tổ quốc và có những đóng góp nhất định cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đại bộ phận tín đồ và chức sắc của các tôn giáo bản địa là nông dân, những người đã đổ bao công sức, mồ hôi và xương máu khai phá vùng đất phương Nam của Tổ quốc.

     Tóm lại, các tôn giáo bản địa ra đời ở người Việt Nam bộ và cũng chỉ giới hạn ảnh hưởng của mình trong không gian đó. Với tư cách là một tôn giáo, các tôn giáo đó đã tác động đến đời sống mọi mặt của cư dân người Việt Nam bộ. Nhưng do những tôn giáo này ra đời dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống của người Việt lại là sự hỗn hợp của nhiều tôn giáo nên không đủ sức phá vỡ cơ tầng văn hóa truyền thống để xác lập vị trí độc tôn trong đời sống tâm linh của người Việt Nam bộ. Chính vì thế, các tín đồ của các tôn giáo bản địa vẫn duy trì việc thờ cúng tổ tiên như các thế hệ cha ông, bên cạnh việc thực hành các quy định của giáo luật. Khi nghiên cứu về văn hóa người Việt cần lưu ý đến khía cạnh này. Người Việt có khả năng tiếp nhận các giá trị văn hóa của các tộc người khác và bằng trí tuệ của mình đã bản địa hóa thành những giá trị mang đậm nét văn hóa Việt.

     Tôn giáo thuộc thế giới tâm linh và đời sống tinh thần, nó có sức hấp dẫn thần bí. Tiến trình của tôn giáo tương quan mật thiết với sự phát triển của nhân loại. Sự tồn tại của tôn giáo cho đến ngày nay vẫn có ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc đối với nhiều người trên thế giới. Khi nói về chức năng của tôn giáo, trong cuốn sách Phát hiện Ấn Độ, J. Nehru đã viết: “Rõ ràng là tôn giáo đã đáp ứng một nhu cầu trong tính con người, và đa số rộng lớn con người trên thế giới đều không thể không có một dạng tín ngưỡng nào đó… Tôn giáo đã đưa ra một loại giá trị cho cuộc sống của con người, mặc dù một số chuẩn mực ngày nay không còn được áp dụng, thậm chí còn tai hại những chuẩn mực khác vẫn còn là cơ sở cho tinh thần và đạo đức”… “Nói rộng hơn, tôn giáo đề cập đến những khu vực còn nguyên sơ trong kinh nghiệm con người, tức là những gì mà tri thức khoa học ngày nay chưa biết đến. Nói theo một nghĩa nào đó, tôn giáo có thể được xem như là một bộ phận phụ thêm của khu vực đã biết đến”. Ở một đoạn khác ông viết tiếp: “Cuộc sống không phải bao gồm toàn những gì chúng ta nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy, tức là thế giới hữu hình đang biến đổi theo thời gian, không gian; nó còn liên tục tiếp xúc với một thế giới vô hình của các yếu tố khác, có thể bền vững hơn hoặc cũng biến đổi như vậy; và không một ai có trí suy xét lại có thể bỏ qua thế giới vô hình này”.

     Cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, nhất là quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người đã dẫn đến một thực tế là ngày nay, không có một tộc người nào trên thế giới lại không theo một tôn giáo nào. Đã nhiều lần người ta lên tiếng phê phán tôn giáo và cho rằng cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học, trình độ dân trí ngày một nâng cao, tôn giáo tự nó mất vai trò của mình trong đời sống xã hội, tôn giáo không còn nữa. Nhưng sự thật lại khác, khoa học vẫn phát triển, đời sống mọi mặt và dân trí của người dân ngày một nâng cao, mà tôn giáo lại không mất đi, thậm chí ở một số nơi tôn giáo có vai trò quyết định chi phối đến đời sống mọi mặt. Là một thành tố văn hóa của một tộc người tôn giáo đã góp phần làm phong phú văn hóa tộc người, có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tộc người.

    Với tư cách là một thành tố rất quan trọng văn hóa của tộc người, nhất là ở những tộc người theo tôn giáo độc thần, tôn giáo có thể có nhiều chức năng (như chức năng phân biệt giữa các cộng đồng theo các tôn giáo khác nhau, chức năng về thế giới quan, chức năng giao tiếp, chức năng tích hợp xã hội, chức năng kiểm soát xã hội, chức năng hỗ trợ xã hội). Ở đây, chúng tôi quan tâm đến ba chức năng. Đó là tích hợp xã hội, chức năng kiểm soát xã hội và chức năng hỗ trợ xã hội.

     Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có các tộc người Việt Khmer, Hoa, Chăm sinh sống, lại theo các tín ngưỡng tôn giao khác nhau. Trong bối cảnh cụ thể đó tôn giáo làm chức năng tích hợp xã hội. Mỗi tôn giáo có giáo luật, giáo lý quy định các hành vi của từng tín đồ chức sắc, do đó, tôn giáo có giá trị, chuẩn mực của nó, làm nên sự khác biệt với những giá trị và chuẩn mực các tôn giáo khác. Vì thế những người theo cùng một tôn giáo gắn bó với nhau hơn nhờ những giá trị và chuẫn mực đó. Điều đó cũng lý giải vì sao những người thuộc các thành phần tộc người khác nhau, nhưng theo một tôn giáo, người ta lại có khắc phục những trở ngại về ngôn ngữ, khi họ cùng có mặt tại một cơ sở tôn giáo. Trong những vấn đề xã hội, nhiều khi chính yếu tố tôn giáo lại góp phần làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nhóm, giữa các tộc người thậm chí giữa các quốc gia. Những trường hợp như thế tôn giáo đã làm chức năng tích hợp xã hội. Ở đồng bằng sông Cửu Long chức năng tích hợp xã hội được thể hiện bằng việc gắn kết những người đồng đạo với nhau vì những người đồng đạo dễ đoàn kết và sống hài hòa, trong việc chăm lo đời sống, hỗ trợ những người gặp khó khăn. Chính những việc làm thiết thực đó đối với cộng đống tín đồ một tôn giáo đã tạo nên tính kết dính, tích hợp giữa các tín đồ lại với nhau.

     Bên cạnh chức năng tích hợp xã hội tôn giáo còn có chức năng kiểm soát xã hội. Các tôn giáo với nhiều hình thức biểu hiện niềm tin khác nhau, nhưng đều hướng về một cuộc sống vĩnh hằng của thế giới bên kia. Vì vậy các tín đồ thực hành nghiêm túc các giáo luật giáo lý, thúc đẩy tính tuân thủ xã hội và qua đó duy trì sự ổn định. Có lẽ do chức năng kiểm soát xã hội đã chi phối đến những tín đồ cụ thể, nên ở những địa phương tập trung đông đảo tín đồ của một tôn giáo, thì an ninh trật tự xã hội có phần tốt hơn những nơi khác không có tình hình tôn giáo như vậy.

     Cuối cùng là chức năng hỗ trợ xã hội. Trong cuộc sống hàng ngày không phải ai cũng gặp những thuận lợi, không gặp bất trắc, mà trái lại, mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi thân phận. Chính trong những lúc phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, bệnh tật… của người thân hay chính mình, thì con người dễ bị tổn thương và cảm nhận thấy nhiều khó khăn, thấy cuộc sống vô nghĩa. Một khi con người rơi vào tình trạng như thế thì niềm tin tôn giáo giúp họ không rơi vào tuyệt vọng, giúp họ niềm tin để vượt qua khó khăn. Tôn giáo chính là một yếu tố tinh thần có sức mạnh giúp họ vượt qua.

     Rõ ràng, tôn giáo có sức sống ngay cả khi nhân loại đạt được những thành tựu lớn lao trong lĩnh vực khoa học, vượt xa những hiểu biết trước đây về thế giới xung quanh. Nhìn trên bản đồ thế giới hiện nay, về những địa bàn phân bố các tôn giáo lớn (Phật giáo ở châu Á, Công giáo ở châu Âu, châu Mỹ, Islam ở Trung Đông, châu Phi), chúng ta dễ dàng nhận thấy có hàng tỷ người ở các nước là tín đồ của các tôn giáo khác nhau. Những thành tựu khoa học, nhất là trong lĩnh vực công nghệ sinh học, những hiểu biết ngày càng sâu rộng và toàn diện về cấu tạo vũ trụ, sự vận hành các quy luật tự nhiên, xã hội… sẽ giúp cho thấy được cái phi lý mà trước đây do thiếu hiểu biết mà tin vào. Sự phát triển của khoa học ngày càng giúp cho con người khắc phục được những trở ngại do thiên nhiên gây ra cho con người và kết quả này dẫn tới không còn chỗ đứng cho tôn giáo trong đời sống xã hội. Mặc dầu vậy, tôn giáo vẫn không lụi tàn như người ta nghĩ, mà trái lại, bên cạnh những tôn giáo truyền thống ngày càng phát triển mở rộng không chỉ số lượng mà cả không gian tồn tại (thí du như Islam), thì trong đời sống hiện nay đang xuất hiện những tôn giáo mới.

    Như vậy, tôn giáo có vai trò trong phát triển và có mối liên hệ với khoa học, nhất là tôn giáo có vai trò như thế nào trong sự phát triển của con người. Liệu có phải giữa khoa học và tôn giáo có mối liên hệ giữa hai mặt đối lập trong quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, một trong những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Nếu quả như vậy, thì tôn giáo không chỉ là nhu cầu của con người, mà nó còn là một nhân tố rất quan trọng không thể thiếu được trong tiến trình phát triển của nhân loại.

     Khi nghiên cứu về các tôn giáo, người ta đã đề cập đến những khái niệm như văn minh Phật giáo, văn minh Thiên chúa giáo, văn minh Islam. Một khi chúng ta đồng tình với quan niệm như vậy về tôn giáo, mặc nhiên chúng ta thừa nhận mối tương tác giữa tôn giáo và phát triển. Bởi vì văn hóa không có khái niệm cao thấp, mọi giá trị văn hóa đều bình dẳng và được tôn trọng như nhau. Nhưng khi nói đến văn minh, chúng ta đã nói đến tác động của các yếu tố khoa học, kỹ thuật. Khi nói đến các nền văn minh chúng ta thấy các nền văn minh không chỉ khác biệt về các đặc trưng căn bản, mà còn có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế,xã hội có thể đo lường được (như có sự khác biệt giữa văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp).

     Mối quan hệ giữa tôn giáo và phát triển dễ nhận thấy ở những cộng đồng cư dân ở trình độ phát triển kinh tế, xã hội thấp, nhưng khi tiếp nhận tôn giáo mới đã có những thay đổi trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức xã hội, trong chăm sóc y tế, trong giáo dục (thí dụ như người S’tiêng ở Bình Phước). Trong một bài viết gần đây của Vương Hoàng Trù có nhắc lại chuyện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ đã sử dụng công việc khuyến nông để truyền đạo như “Trong hơn 2 tháng kể từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 28 tháng 7 năm 1945, Giáo chủ đã đi nhiều địa phương để khuyến nông và truyền đạo. Trong đợt khuyến nông và truyền đạo này Giáo chủ có tới 107 buổi thuyết pháp trước đám đông. Nhờ tác động của các buổi thuyết pháp đã giúp cho người nông dân có nhiều sáng tạo trong sản xuất, đạt hiệu quả cao”(20). Những tư tưởng đó ăn sâu trong tiềm thức của các tín đồ Hòa Hảo, để rồi hôm nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, những người nông dân-tín đồ Hòa Hảo đã biết vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong các hoạt động xã hội khác.

     Là một thành tố văn hóa của một tộc người, tín ngưỡng tôn giáo không chỉ góp phần làm phong phú văn hóa, mà còn góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa của một tộc người. Ở những chương trước chúng tôi đã trình bày về những quy luật biến đổi của văn hóa người Việt trong quá trình mở cõi. Trên cơ tầng văn hóa Việt truyền thống, người Việt Nam bộ, một mặt thể hiện sự kế thừa đó rất sáng tạo, mặt khác, cũng thể hiện sự thích ứng trong môi trường tự nhiên và xã hội mới. Các tôn giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Hòa Hảo mang đậm nét văn hóa truyền thống, nhưng cũng lại có những nét được thể hiện rất Nam bộ. Việc giữ gìn bản sắc văn hóa Việt được thể hiện trong trang phục, trang sức, trong truyền thống gia phong ở mỗi gia đình người Việt gắn liền với tôn giáo họ tin theo. Mặt khác, sự đa dạng về tôn giáo ở một vùng, cũng được thể hiện trong sự đa dạng của các cơ sở thờ tự. Có lẽ không có nơi nào ở Việt Nam, mà ở đó lại có sự hiện diện đầy đủ của các loại hình kiến trúc tôn giáo. Những cơ sở tôn giáo đó góp phần làm cho bức tranh văn hóa Nam bộ thêm đa sắc màu. Cũng chính tại các cơ sở tôn giáo đó là nơi thể hiện niềm tin tạo nên sự kết dính giữa những người đồng đạo, nơi bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Không chỉ người Việt –cộng đồng đa số tại Nam bộ-, mà các cộng đồng cư dân khác như người Khmer, người Hoa, người Chăm, tuy theo và thực hành những tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, nhưng đều có điểm chung là chính các tôn giáo đã góp phần vào việc bảo vệ bản sắc văn hóa trong bối cảnh cộng cư lâu dài.

     Trong quá trình cộng cư đó, một mặt xảy ra quá trình giao lưu văn hóa, mà kết quả cuối cùng là hình thành những nét văn hóa chung, để các nhà khoa học khi phân chia các vùng văn hóa ở Việt Nam đã nhất trí coi Nam bộ là một trong những vùng văn hóa, với những sắc thái riêng rất đậm nét. Mặt khác, chính các tôn giáo mà người Khmer, người Hoa, người Chăm tin theo lại làm nên những khác biệt so sánh trong văn hóa giữa với tộc người cùng cộng cư nơi đây.

     Như trên đã trình bày, tôn giáo có nhiều chức năng trong đó có chức năng điều chỉnh xã hội hay chức năng kiểm soát xã hội. Chức năng kiểm soát xã hội được thể hiện qua những kinh sách, giáo luật giáo lý được truyền đạt đến các tín đồ. Mỗi tín đồ tùy theo chức phận của mình đều cố gắng thực hiện theo giáo luật, giáo lý hình thành nên những hành vi ứng xử trước các hiện tượng thiên nhiên và các mối quan hệ xã hội. Để rồi qua những thăng trầm của lịch sử, hình thành nên chuẩn giá trị, mà mỗi tín đồ có trách nhiệm thực hiện. Các tôn giáo ra đời ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều thể hiện tinh thần đó.

     Như vậy có thể thấy các tôn giáo, dù là những tôn giáo được du nhập từ ngoài vào hay những tôn giao được ra đời trong bối cảnh cụ thể ở Nam bộ, đã tạo ra một hệ thống chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành vi của những con người có đạo. Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của người tín đồ. Vì thế hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo đã tạo ra đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người. Có lẽ vì vậy mà xu hướng “nhập thế” của các tôn giáo ở Nam bộ được thể hiện rất rõ.

     Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy có hoạt động khai hoang do Đoàn Minh Huyên chủ xướng. Đây là một hình thức hoạt động đặc thù trong lối sống cũng như trong tư duy của người nông dân Nam bộ tự khẳng định mình vươn lên bằng bàn tay lao động của mình. Vào năm 1849, sau khi đã giúp người dân chữa bệnh, được người dân suy tôn là Phật Thầy Tây An, Đoàn Minh Huyên đã sử dụng pháp môn đưa Phật giáo vào đời sống bằng cách khai hoang, lập ấp, tạo cuộc sống an cư lạc nghiệp cho những người nông dân nghèo. Nhờ phong trào khai hoang lập ấp đã đem lại những thành quả cho người nông dân. Những trại ruộng ở Thới Sơn (huyện Tịnh Biên), Láng Linh (huyện Châu Thành) không chỉ là thành quả lao động, mà còn góp phần phát triển kinh tế ở những nơi khó khăn trong buổi đầu khai phá. Khi Pháp xâm lược Nam bộ, một tôn giáo mới ra đời có kế thừa đường hướng “Học Phật, tu thân” của Bửu Sơn Kỳ Hương là Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

     Người sáng lập ra Tứ Ân Hếu Nghĩa là Ngô Lợi, đã biết vận dụng Tứ đại trọng ân để khơi gợi lòng yêu nước của người dân trong bối cảnh đất nước bị xâm lược. Vào thời điểm đó, dưới ngọn cờ tôn giáo, Ngô Lợi đã tập hợp được lực lượng và nhận được sự hướng ứng của nhiều người khác, hình thành căn cứ kháng Pháp. Có những căn cứ khá quy mô, là chỗ dựa cho phong trào chống Pháp, như Láng LinhBảy Thưa do Trần Văn Thành chỉ huy hay căn cứ Đồng Tháp Mười do Võ Duy Dương chỉ huy. Sau khi thực dân Pháp đàn áp các phong trào chống Pháp, những người sáng lập ra Tứ Ân Hiếu Nghĩa vẫn tiếp tục tinh thần chống ngoại xâm, thể hiện một tinh thần nhập thế rất tích cực.

     Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ, mặc dù kẻ thù tìm mọi cách chia rẽ, gây hận thù dân tộc, nhưng những chức sắc và tín đồ Phật giáo là người Khmer vẫn một lòng theo Đảng và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong những năm sau giải phóng, các tôn giáo tham gia rất tích cực và có hiệu quả trong các hoạt động từ thiện xã hội, tham gia vào các hoạt động cứu trợ, chăm sóc người nghèo, giáo dục, y tế. Ở đồng bằng sông Cửu Long, các tôn giáo nào cũng có những hoạt động từ thiện, trong đó nổi trội hơn cả có lẻ là Phật giáo Hòa Hảo. Trong một nghiên cứu gần đây về tôn giáo Nam bộ đã được cộng bố của Phạm Bích Hợp, cho thấy hoạt động xã hội và những đóng góp của Phật giáo Hào Hảo trong những năm từ 1999 đến 2005 là rất lớn. Những hoạt động này rất đa dạng và phong phú, bao gồm như sơ cứu chữa bệnh; tài trợ các trại nuôi dưỡng trẻ mồ côi và người già neo đơn; sửa chữa nhà; cất mới nhà tình thương tình nghĩa; sửa và xây cầu; nâng cấp đường; bê tông hóa đường giao thông; cất trường học, trạm, trại, điện nước; hỗ trợ bệnh nhân nghèo; đưa rước bệnh nhân; hỗ trợ xóa mù; bệnh viện từ thiện (bệnh viện từ thiện của ông Năm Từ Thiện ở Tri Tôn, An Giang); mua đất lập nghĩa trang; hỗ trợ áo quan và chôn cất người chết; đóng giếng nước tại các vùng nước mặn; cấp xe lăn cho người khuyết tật; mở lớp dạy may; trồng và sưu tầm thuốc Nam; cơm ăn, nhà ở, học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo; khám, chữa bệnh tại các nhà thuốc Nam và bào chế dược thảo; giúp dân vùng sâu, vùng lũ lụt thượng nguồn sông Cửu Long(giúp xuồng); cứu trợ; đội cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ đê điều; bếp ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo, cho người lao động thiếu thốn; tìm việc làm; cấp xe đạp, dụng cụ cho học sinh nghèo(21).

     Đây là sự liệt kê các hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo găn liền với đời sống của người tín đồ vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít những bất trắc. Từ năm 1999 (năm Phật giáo Hòa Hảo có tư cách pháp đến tháng 5 năm 2005), các hoạt xã hội rất sôi động và đã huy động được 34.440.666.729đ. Đây là một con số không nhỏ trong bối cảnh đời sống mọi mặt của người tín đồ còn nhiều khó khăn. Trong 2 năm từ 2004 đến tháng 5 năm 2005 số tiền huy động là 12.098.399.000đ bao gồm các hoạt động như nhà tình thương (695 ngôi); nhà tình nghĩa (24 ngôi); sửa chữa, cất mới cầu (193 chiếc); nâng cấp đường nông thôn (191.947m)(22).

     Qua các số liệu đó cho thấy hoạt động xã hội của Phật giáo Hòa Hảo rất hiệu quả, mang lại lợi ích cụ thể cho cộng đồng, cá nhân. Xu hướng nhập thế của các tôn giáo ở Nam bộ không phải chỉ được thể hiện trong bối cảnh hiện nay, mà nó đã được thể hiện ngay sau khi ra đời. Những hoạt động của các tín đồ Hòa Hảo gắn liền với việc khai hoang, với việc tham gia kháng Pháp, như là những minh chứng. Không chỉ có Phật giáo Hòa Hảo tham gia các hoạt động xã hội, mà các tôn giáo khác cũng tham gia các hoạt động xã hội và mang lại những hiệu quả xã hội lớn lao.

     Nếu chỉ giới hạn trong xu thế nhập thế, thì các tôn giáo ở Nam bộ trong hoạt động của mình có phần đa dạng hơn và hiệu quả hơn so với những hoạt động tương tự đó ở các tỉnh phía Bắc. Điều này cho thấy, hướng đi của các tôn giáo là có chọn lọc, loại bỏ cái không phù hợp, tiếp biến một cách chủ động những yếu tố mới nảy sinh trong đời sống tôn giáo, mặt khác kế thừa và phát triển các yếu tố tôn giáo truyền thống trong những điều kiện môi trường mới.

     Là một thành tố văn hóa tộc người, các tôn giáo đều hướng con người tới cái thiện, loại bỏ cái ác. Với một tầm nhìn sâu sắc và hết sức khách quan, khoa học về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là lòng yêu nước, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị đó”(23). Một nhận xét như vậy về tôn giáo đã nói lên một nét chúng có tính tích cực của các tôn giáo. Chính vì thế mà tôn giáo có cơ sở xã hội để tồn tại. Như Nghị quyết 24 của Bộ chính trị đã xác định “tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội”. Trong bối cảnh hiện nay, cả nước ta đang diễn ra quá trình cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Quá trình đó đã tác động sâu sắc đến đời sống mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có tín ngưỡng tôn giáo. Mặt khác, toàn cầu hóa như là một xu thế tất yếu, mà không có một quốc gia nào muốn phát triển lại không hội nhập vào xu hướng đó. Các quốc gia nếu đủ mạnh sẽ chủ động hội nhập, đương đầu với những thử thách để phát triển và không bị hòa tan. Trong bối cảnh đó, các tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam xét dưới khía cạnh nào (khía cạnh văn hóa, khía cạnh tổ chức xã hội) cũng sẽ bị tác động và chi phối của quá trình toàn cầu hóa. Là một bộ phận cấu thành của tôn giáo thế giới, nhất là những tôn giáo du nhập từ ngoài vào, tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam nói chung và của vùng đất Nam bộ nói riêng đang phải hòa nhập mà không hòa tan vào những diễn biến tôn giáo của toàn nhân loại trong thời đại hiện nay.

     Nếu ở bình diện là dân tộc (nation), vấn đề văn hóa và phát triển đặt ra như trên, thì ở cấp độ các tộc người (ethnics) ở Việt Nam, vấn đề cũng có nhiều nét tương tự. Có lẽ trừ người Việt (Kinh) và một số tộc người khác là có trình độ phát triển tương đối cao xét trên cả ba phương diện chính của HDI (mức sống – học vấn – tuổi thọ), còn lại đa số các tộc người trong 54 tộc người ở Việt Nam còn đang ở vào trình độ phát triển tương đối thấp hoặc rất thấp, đặc biệt là khu vực Tây Bắc – Tây Nguyên – và Tây Nam bộ. Chúng ta đã có nhiều chính sách, biện pháp đúng đắn, có hiệu quả để vừa nâng cao trình độ phát triển kinh tế, vừa phát triển, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị và bản sắc văn hóa của các tộc người ở Việt Nam, nhưng kết quả còn lâu mới đạt được như mong muốn. Trình độ phát triển ở phần lớn các tộc người ở nước ta còn thấp đã ảnh hưởng và tác động không nhỏ tới việc giữ gìn, bản tồn và phát huy các giá trị và bản sắc văn hóa của họ. Nạn phá rừng chẳng hạn, trước hết là có liên quan đến trình độ phát triển và tập quán canh tác và lối sống của nhiều tộc người. Cũng do trình độ phát triển thấp, không có điều kiện về vật chất mà không ít các giá trị văn hóa của nhiều tộc người bị mai một, hoặc bị “biến dạng” trước sự tấn công của nền kinh tế thị trường thời mở cửa với quan hệ tiền tệ – hàng hoá. Trong bối cảnh đó, việc văn hóa có trở thành động lực đồng thời vừa là mục tiêu phát triển trong nhận thức và hành động của chính bản thân các tộc người hay không, vẫn còn là một câu hỏi lớn.

     Cho nên, đối với đất nước, dân tộc Việt Nam nói chung và từng tộc người trong 54 tộc người ở Việt Nam nói riêng, đường lối, mục tiêu phát triển đã rõ ràng: Đó là cần phải đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa để nâng cao trình độ phát triển của đất nước đuổi kịp và vượt các nước trong khu vực cũng như thế giới; đồng thời phải xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với những đặc trưng cơ bản là dân tộc – hiện đại – nhân văn. Tất cả các mặt ấy của một vấn đề xét đến cùng là đều nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu đó cũng như giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, và phát triển văn hóa là một quá trình không phải một sớm một chiều; cả cơ hội và thách thức đều lớn trên con đường đi đến thành công.

_________
17. Ngô Văn Lệ, Văn hóa Chăm nhìn từ khía cạnh tôn giáo, trong sách Một số vấn đề về tộc người và văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á, Nxb ĐHQG Tp. HCM; 2003, trg 155 -156.

18. Xem: Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2003; Đỗ Quang Hưng (Chủ biên) Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, Nxb KHXH, H. 2001; Phạm Bích Hợp, Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu Sơn Kỳ Hương – Cao Đài – Hòa Hảo), Nxb Tôn giáo, H. 2007; Hoàng Văn Việt (chủ nhiệm đề tài), Thực trạng đời sống tôn giáo và xây dựng luận cứ khoa học cho chính sách tôn giáo đối với cộng đồng cư dân người Việt ở Nam Bộ, đề tài nghiên cứu khoa học, mã số B2001 -18b -14 TĐ.

19. Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Sđd, trg 271 – 280.

20. Vương Hoàng Trù, “Tôn giáo với vấn đề phát triển vùng đất Nam Bộ” trong kỷ yếu Hội thảo Khoa học và phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, do UBND TP Cần Thơ, Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ tổ chức tại Cần Thơ, năm 2010.

21. Phạm Thị Bích Hợp, sđd, tr 153-154.

22. Phạm Thị Bích Hợp, sđd, tr 155.

23. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, dẫn theo Đặng Nghiêm Van, sđd, trg, 172.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Toan Ánh, Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng) Nxb Tp. HCM, tái bản.

2. Nguyễn Công Bình và các tác giả, Văn hóa và cư dân Nam bộ, Nxb. KHXH. H. 1990.

3. Nguyễn Công Bình và các tác giả, Nam bộ-Nghiên cứu và phát triển, Nxb. KHXH. H. 1995.

4. G. Cuolet, Les societes secretes en terre d’Annam, Sài Gòn 1926.

5. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch, Nxb. Giáo dục, H., 1998.

6. Mạc Đường, Về vấn đề dân cư và dân tộc ở Nam bộ, trong sách: Một số vấn đề về khoa học xã hội về Nam bộ, Nxb. KHXH H. 1982.

7. Mạc Đường và các tác giả, Vấn đề dân tộc ở Nam bộ, Nxb. KHXH. H., 1991.

8. Trần Văn Giàu (Chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987.

9. Phạm Bích Hợp, Người Nam bộ và tôn giáo bản địa (Bửu Sơn Kỳ Hương – Cao Đài – Hòa Hảo), Nxb Tôn giáo, H. 2007.

10. Trần Hữu Hợp, Cộng đồng người Việt Công giáo ở Nam bộ, luận án Tiến sỹ Sử học, năm 2006.

11. Đỗ Quang Hưng (Chủ biên) Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam bộ, Nxb KHXH, H. 2001.

12. Ngô Văn Lệ, Văn hóa Chăm nhìn từ khía cạnh tôn giáo, trong sách Một số vấn đề về tộc người và văn hóa tộc người ở Nam bộ và Đông Nam Á, Nxb ĐHQG Tp. HCM; 2003.

13. Ngô Văn Lệ, Tộc người và văn hoá tộc người, Nxb. ĐHQG Tp. HCM; 2004.

14. Ngô Văn Lệ, Di dân và những vấn đề đặt ra, trong sách: Những vấn đề khoa học xã hội và nhân văn, Nxb. Đại Học Quốc Gia Tp. HCM, 2007.

15. Ngô Văn Lệ, Làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam bộ, Hội thảo quốc tế Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: những tiếp cận nhân học, bản thảo.

16. Huỳnh Lứa và các tác giả, Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, Nxb. Tp. HCM. 1987.

17. Huỳnh Lứa, Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Nxb. KHXH. H., 2000.

18. Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay văn minh miệt vườn, Nxb. An Tiêm, Sài Gòn, 1968.

19. Sơn Nam, Lịch sử khai hoang miền Nam, Nxb. Đông Phố Sài Gòn, 1973.

20. Philippe Papin-Olivier Tessier (Chủ biên), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ. Trung tâm KHXH & NVQG, H. 2000.

21. Phan Quang, Nam bộ, Nxb, Văn hóa. 1981.

22. Tạp chí Dân tộc học Xô Viết từ tháng 3 năm 1979 đến số 1 năm 1981.

23. Nguyễn Phương Thảo, Văn hóa dân gian Nam bộ, những phác thảo, Nxb. Giáo dục, H. 1997.

24. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1997.

25. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, HN, tái bản, 1976.

26. S. A. Tocarev, Về tôn giáo như là một hiện tượng xã hội, Tạp chí Dân tộc học Xô Viết, số 3 -1979.

27. S. A. Tocarev, Một lần nữa lại bàn về tôn giáo như là một hiện tượng xã hội, Tạp chí Dân tộc học Xô Viết, số 1-1891.

28. Vương Hoàng Trù, “Tôn giáo với vấn đề phát triển vùng đất Nam bộ” trong kỷ yếu Hội thảo Khoa học và phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, do UBND TP Cần Thơ, Ban Chỉ Đạo Tây Nam bộ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ tổ chức tại Cần Thơ, năm 2010.

29. Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2003.

30. Hoàng Văn Việt (chủ nhiệm đề tài), Thực trạng đời sống tôn giáo và xây dựng luận cứ khoa học cho chính sách tôn giáo đối với cộng đồng cư dân người Việt ở Nam bộ, đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp ĐHQG TP.HCM, mã số B2001-18b-14.

31. Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài, Nxb. KHXH, H, 1995.

Nguồn: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam và
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM
Phật giáo vùng Mê-Kông: Di sản và văn hóa

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
 

Download file (PDF): Tôn giáo địa phương (bản địa) và văn hóa Nam Bộ
(Tác giả: GS.TS.NGND. Ngô Văn Lệ)