Tri thức địa phương về SỬ DỤNG và BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN của NGƯỜI MNÔNG
HỒ SỸ LẬP
(Học viên Cao học, Khoa Dân tộc học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội)
1.
Mnông là cư dân bản địa gắn với mảnh đất Tây Nguyên từ lâu đời, có tinh thần và ý chí độc lập, tự chủ cao. Người Mnông sinh sống chủ yếu ở Tây Nguyên là khu vực có ý nghĩa chiến lược về vị trí địa lí, có đặc điểm tự nhiên độc đáo và có nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên. Tây Nguyên là vùng lãnh thổ nằm ở phía Tây – Nam Việt Nam, có đường biên giới với Lào và Campuchia, được mệnh danh là nóc nhà của Đông Dương, là một miền sơn nguyên khá điển hình bao gồm một loạt các cao nguyên liền kề, đó là các cao nguyên Kon Tum, Kon Plông, Kon Hà Nừng, Plâyku, M’Drăk, Buôn Ma Thuột, Mơ Nông, Lâm Viên,… Cuộc sống của cư dân gắn bó mật thiết với tự nhiên, cư dân khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có để phục vụ cho cuộc sống của mình và cùng với quá trình khai thác đó cư dân cũng luôn có ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên này. Việc tìm hiểu tri thức của họ về sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên không những có ý nghĩa gìn giữ một di sản văn hoá mà còn hiểu được môi trường sống cũng như mối quan hệ giữa văn hoá với môi trường tự nhiên trong không gian sống của tộc người này trong truyền thống.
Không chỉ bao gồm tài nguyên đất, rừng, nước mà ở Tây Nguyên còn rất nhiều các nguồn tài nguyên khác. Trong những loại tài nguyên đó còn ẩn chứa bên trong rất nhiều nguồn lợi khác mà con người có thể khai thác, sử dụng trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết, chỉ xin đề cập đến ba nguồn tài nguyên thiên nhiên chính trong không gian sinh sống của người Mnông.
2. Tri thức về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
2.1. Về tài nguyên đất
Đất là nguồn tài nguyên quan trọng, là tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với cư dân sống chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp như cư dân Mnông. Có nhiều cách phân loại đất theo nhiều tiêu chí khác nhau nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu về tri thức địa phương của người Mnông về sử dụng đất, thì chỉ dừng lại phân tích ở các loại đất nông nghiệp, hoạt động kinh tế chủ yếu và gắn liền với đất. Đất nông nghiệp được chia thành đất rừng, đất canh tác, đất vườn.
Đất rừng, là đất thuộc tài sản chung của cả cộng đồng, cư dân sử dụng đất rừng để chăn thả gia súc và khai thác các sản vật từ rừng. Theo tập quán cư dân chăn thả gia súc vào rừng nhưng có người trông nom gia súc không được phép ăn lúa rẫy hay phá rẫy của người khác, nếu để lợn, trâu, voi,… phá rẫy của người khác thì người chủ gia súc đó sẽ phải bồi thường cho chủ đất. Đất rừng còn bao gồm những cánh rừng thiêng, rừng cấm, rừng dùng làm nghĩa địa,… Đối với những vùng đất này thường mang ý nghĩa linh thiêng trong quan niệm của đồng bào do đó cư dân luôn có ý thức bảo vệ những vùng đất này.
Đất canh tác, là đất cư dân dùng để canh tác nông nghiệp bao gồm canh tác nương rẫy và canh tác ruộng nước. Trong truyền thống, người Mnông là cư dân canh tác nương rẫy, sinh sống chủ yếu từ canh tác nương rẫy và các sản vật từ rừng. Người Mnông thường canh tác trên triền đồi hoặc trên các rìa núi có rừng già. Để có một đám rẫy canh tác thì công việc trước tiên là công việc chọn khoảnh đất và dày công phát rẫy cỏ tranh, gọi là công việc xem rừng. Và việc xác định các vùng canh tác là nhiệm vụ của người đứng đầu làng và cũng là bổn phận của những chủ gia đình phối hợp với nhau (Ngô Đức Thịnh, 1998: 10). Công việc này được tiến hành vào khoảng tháng 1 dương lịch. Khoảnh đất được chọn là một khoảnh đất rộng lớn trong phạm vi nơi cư trú của cả làng, là một khu rừng nào đó mà không phải là rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh, rừng gỗ quý là những nơi mà đồng bào cho rằng đó là những khu rừng thiêng, không ai được phép chạm vào các khu rừng thiêng, đó là những khu rừng cấm, là nơi ở của thần linh, ai xâm phạm sẽ bị thần linh quở phạt, nên không được phép canh tác ở đó. Ngoài những cánh rừng thiêng đó thì người đứng đầu làng có thể chọn khoảnh đất canh tác cho cả làng mình ở bất cứ khu rừng nào, thuộc phạm vi cư trú của làng, mà họ cảm thấy đất đai ở đó màu mỡ thuận lợi cho hoạt động canh tác. Theo đồng bào đó là khoảnh đất có thảm thực vật dày, rậm rạp, nhiều cây to mọc sát nhau, đây là những khu rừng rất tốt cho canh tác vì có nhiều chất mùn được tích hợp từ những lớp phủ thực vật trên bề mặt được phân huỷ hàng năm. Ngoài ra việc khoảnh đất chọn làm rẫy ở nơi có độ dốc thấp, hình thể đất ít lồi lõm, cây to vừa phải, gần nước, độ ẩm cao, đón nắng buổi sáng khuất nắng buổi chiều (Bùi Minh Đạo, 2000: 12). Khi đã có được mảnh đất canh tác ưng ý, người ta dùng dao rừng (viêh) chặt phát toàn bộ cây cối ở đó. “Chúng tôi đang ở giữa mùa phát rẫy (môih). Sau vụ gặt ít lâu các trận mưa đã dứt hẳn và mùa khô thực sự bắt đầu. Ngày 23 tháng 12 năm 1948, những “người thiêng” đã dẫn tất cả các chủ hộ vào rừng Đá Thần Gôo và chỉ cho họ các lô đất của từng gia đình. Sau một thời gian nghỉ ngơi tương đối khi giữa hai cuộc đi mua bán hay đi thăm viếng đám đàn ông đã chuẩn bị dao phạt, rèn lại lưỡi dao, thay cán gấp bằng tre, các gia đình bắt đầu tấn công vào vạt rừng và đám cây cối đang che phủ đám rẫy tương lai của họ” (Georges Condominas, 2003: 53). Công việc phát rẫy được tiến hành trong vòng hai, ba tháng của mùa khô từ cuối tháng 12 dến khoảng tháng 3, tháng 4 và trong thời gian phát rẫy đó đồng bào cũng có nhiều hoạt động lễ hội, thậm chí có những nghi lễ mà người ta kiêng cả làng không ai được phép đi làm rẫy. Trong khi phát rẫy, người ta để lại một số cây rừng để sau này làm bóng mát cho lúa, nhằm hạn chế sự bốc hơi nước cho lúa trong điều kiện bức xạ nhiệt cao như ở Tây Nguyên. Sau đó cư dân chọn một ngày trời nắng những người thiêng trong làng sẽ đi đến chỗ mảnh rẫy của cả làng làm các nghi lễ cầu xin các thần linh cầu khẩn sự che chở của các thần linh (Georgos Condominas, 2003: 211), nghi lễ diễn ra trong một không khí khá rộn ràng và mọi người reo vang khi ngọn lửa bật ra. Sau khi có ngọn lửa thì mọi người lấy lửa ở chỗ ông người thiêng đem về đám rẫy nhà mình và đốt. Trong quá trình đốt rẫy điều đáng lo ngại nhất đối với đồng bào là hướng gió, trước khi đốt người ta đã hình thành vành đai ngăn lửa nhưng nếu hướng gió thay đổi bất thường có thể sẽ khiến cho những khu rừng xung quanh bị ngọn lửa ăn tới và thậm chí khi cháy lan sang một khu rừng thì nguy cơ lửa ăn lan về hướng làng là rất lớn và ngay trong tích tắc làng có thể bị huỷ diệt. Cho nên, trước khi đốt, người ta tạo một đường biên xung quanh rẫy, gọi là vành đai ngăn lửa tránh cho trong quá trình đốt rẫy lửa không thể cháy bén vào rừng. Việc đốt rẫy phải được tiến hành theo sự chỉ đạo của người đứng đầu, tất cả các cư dân trong làng đều tập trung canh tác trên một khoảnh đất rộng cùng nhau phát rẫy rồi đốt rẫy.
Bước sang tháng năm thì công việc đốt các cành nhánh và rải tro gần như kết thúc và mùa mưa đang tiến gần. Và để chuẩn bị cho việc gieo hạt thì trước khi gieo hạt người ta tiến hành nghi lễ trồng cây Lúa thần điệu (tâm Gun Baa), nghi lễ này mở đầu cho mùa gieo hạt. Đất bazan là loại đất rất tốt, cùng với lớp tro có được sau khi đốt rẫy lại càng tốt nên hầu như không phải bón thêm bất kì một loại phân, lân nào. Hình thức canh tác tuy đơn giản nhưng rất phù hợp và hiệu quả vẫn là chọc lỗ, tra hạt. Gậy chọc lỗ là một cành cây thật thẳng và cứng, dài từ hai mét đến hai mét rưỡi, đẽo nhọn một đầu, hơ lên lửa cho rắn lại. Người ta dùng chiếc gậy chọc những lỗ nhỏ đều nhau, mỗi lỗ chừng hai hoặc ba hạt giống, sau đó dùng chân gạt tro đất khoả lấp các lỗ lại. Đó là kinh nghiệm canh tác lúa nương, đối với các loại cây trồng khác đồng bào Mnông cũng có những tập quán canh tác cụ thể. Theo tục lệ trồng trỉa của đồng bào Mnông thì kinh nghiệm chọn các vị trí để gieo trồng các loại cây trồng cho phù hợp như sau: ở nơi đất thấp lặng gió thì người ta trồng dưa, nơi nào đất bằng thì trỉa bắp, dọc bờ suối người ta trồng chuối và mía vì đây là những loại cây thân mềm cần nhiều nước để sinh trưởng, vùng đồi cao người ta trồng cây gai (một loại cây dùng làm nguyên liệu để dệt vải). Theo đồng bào thì bầu và bí có thể xen canh với cây lúa, ở những vùng rẫy cũ tức là đất đã được canh tác từ hai đến ba năm, độ phì nhiêu đã giảm đi so với năm đầu tiên thì cư dân canh tác cây ớt hoặc cà ta. Đó là các biện pháp kĩ thuật đa canh và xen canh và biện pháp canh tác như vậy sẽ đảm bảo cho trên cùng một diện tích trồng trọt mà luôn luôn có nhiều loại cây lương thực và thực phẩm phục vụ đời sống con người, đảm bảo cho đất luôn được phủ một lớp thực bì kín, có tác dụng giữ độ ẩm, tăng chất mùn, hạn chế cỏ dại, giảm xói mòn giúp tăng và ổn định năng suất cây trồng, các cây trồng vừa bảo vệ vừa kích thích nhau phát triển. Chọn thời gian canh tác thì kinh nghiệm của đồng bào là trỉa lúa sớm cho kịp tro, trỉa đậu sớm cho kịp nắng. Đối với công đoạn chăm sóc cây trồng, cư dân Mnông làm cỏ bắt đầu từ khi lúa đuôi chim và công việc làm cỏ lúa này được tiến hành làm hai đợt. Vì rẫy ở trong rừng nên có nhiều loài thú rừng như khỉ, lợn rừng, voi,… hay các loài chim chóc đến phá hoại do đó mà cư dân đã dựng chòi tranh ở trên nương rẫy, rào rẫy, đào hào, đặt bẫy để chống thú rừng đến phá hoại cũng như chống chim chóc giai đoạn gieo hạt và lúc lúa chín. Họ phải sử dụng những công cụ có tiếng kêu hoặc bù nhìn để đuổi chim và thú. Đồng bào không có thói quen bón phân dù chỉ là bón lót, chất dinh dưỡng trên đất chỉ là từ tro đốt ra từ các cây cối chặt đốt trong giai đoạn phát đốt. Do đó theo tập quán, một đám rẫy đồng bào cũng chỉ canh tác được 2-3 vụ (tương ứng thời gian từ 2-3 năm) là phải chuyển đến canh tác ở một đám rẫy khác, đám rẫy cũ được người ta bỏ hoá cho cây rừng tái sinh và phát triển trở lại, sau khi luân canh 4-5 mảnh rẫy khác người ta lại trở lại mảnh rẫy ban đầu để tiếp tục phát đốt và canh tác trên đó. Đó là hình thức canh tác nương rẫy theo chu kì luân canh khép kín của người Mnông với thời gian từ 7 năm, 8 năm đến 12 năm, 15 năm. Với hình thức canh tác luân canh như vậy nhằm mục đích không làm mất khả năng tái sinh của rừng của đất, khai thác hợp lí độ phì và chất dinh dưỡng của đất, bảo đảm năng suất cây trồng cao, duy trì và bảo vệ môi trường sống, hướng tới định cư, hạn chế du cư (Bùi Minh Đạo, 2000: 13). Lúa được thu hoạch vào giữa tháng 11 đến đầu tháng 12- khi mùa mưa kết thúc và chuyển dần sang mùa khô. Việc thu hoạch lúa chủ yếu bằng tay. Họ dùng tay suốt lúa (không dùng liềm) vì họ sợ kinh động đến hồn lúa, hồn lúa sẽ đi mất và vụ sau sẽ bị mất mùa. Trong sản xuất, hình thức đổi công được tiến hành để đảm bảo thời gian cũng như tăng mối liên kết trong cộng đồng. Khi thu hoạch, mỗi người đeo một cái gùi trước bụng (khiu), buộc vào người bằng một sợi dây và dàn thành hàng ngang; hai bàn tay, một bàn tay tuốt ngược các hạt từ một bông lúa bỏ vào gùi nhỏ đeo trước bụng trong khi bàn tay kia lại tuốt lấy các hạt theo cách đó. Hai bàn tay cư thoăn thoắt thay nhau như vậy và khi chiếc gùi nhỏ trước bụng đã đầy thóc thì người ta đem đổ thóc vào một chiếc gùi to hơn để dọc gần đó và cuối buổi sẽ được người ta chuyển về các kho lúa tạm thời được dựng ở các đầu lối vào rẫy rồi sau đó thì vận chuyển về kho thóc của gia đình. Sau khi thu hoạch xong thì những người chủ của gia đình thường có những nghi lễ để đưa hồn lúa ở trên rẫy về làng mà không sợ hãi bỏ chạy, bằng cách đưa tay tóm lấy lớp không khí dưới khung sàn của kho lúa tạm thời, cho vào cái gùi nhỏ đeo trước bụng của người đi suốt lúa và đặt một cái gùi nhỏ hơn lên phía trên để nhốt chặt hồn lúa trong đó rồi mang về làng. Sau thu hoạch là thời gian chuẩn bị để đón những ngày lễ quan trọng, cũng là lúc để tiến hành các công việc như cưới gả, dựng nhà và tu sửa nhà cửa,…
Như vậy, thông qua những hoạt động nương rẫy mà chủ yếu là trồng lúa nương thì có thể thấy rằng song song với hoạt động canh tác đồng bào Mnông còn có những kinh nghiệm nhằm vừa khai thác đất canh tác vừa đảm bảo cho nguồn tài nguyên này không bị thoái hoá, mà giá trị sử dụng của nó luôn được bảo tồn từ đời này qua đời khác. Đó là những nguồn tri thức quý báu trong canh tác nông nghiệp nương rẫy, cho thấy khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên của người Mnông.
Đất vườn của người Mnông là khoảnh đất ở xung quanh nhà. Họ không chú ý nhiều đến canh tác ở vườn nhà. Họ chủ yếu chỉ trồng một vài loại rau hoặc một số cây ăn quả nhưng không chú trọng chăm sóc nhiều.
2.2. Về tài nguyên nước
Các nguồn nước của người Mnông có thể được chia thành 3 loại phục vụ cho các nhu cầu sử dụng nước khác nhau, bao gồm:
– Nguồn nước dùng trong sinh hoạt: chủ yếu được lấy từ các khe suối từ trên núi chảy xuống.
– Nguồn nước dùng trong sản xuất nông nghiệp: là nước từ sông, các khe, suối chảy ra để canh tác nông nghiệp.
– Nguồn nước dùng trong nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản: là nguồn nước tự nhiên (suối) và nguồn nước nhân tạo (ao, hồ) nơi sinh sống của các loài thuỷ sản như tôm, cá, cua, ốc,…
Người Mnông có một nghi lễ rất quan trọng đối với nguồn nước đó là lễ cúng bến nước. Cúng bến nước là nghi lễ cổ truyền của một số tộc người ở Tây Nguyên. Đây là lễ cúng của cộng đồng để tạ ơn yang (trời), tổ tiên, thần linh phù hộ cho mọi người sức khoẻ, bình an, cho nguồn nước dồi dào để ăn uống, tắm giặt,… và cũng là dịp để đồng bào thực hiện các quy định về bảo vệ nguồn nước. Trong buổi lễ đó nghi thức quan trọng nhất là tất cả mọi người trong buôn làng tham gia quét dọn bến nước, làm cho bến nước trở nên sạch sẽ. Họ tin rằng làm như vậy, các vị thần sẽ hài lòng, giúp cho dân làng được khoẻ mạnh.
Sông suối là những tài sản thuộc sở hữu chung của cả cộng đồng, ai cũng có quyền khai thác nguồn tài nguyên này, tuy nhiên, thì các hoạt động khai thác tài nguyên này chủ yếu được tiến hành tập thể. Cư dân này có một ngày tổ chức đánh bắt cá tập thể và họ đắp đập phía thượng nguồn bằng cách dùng rễ độc, đắp một con đập ở phía trên của làng trên những cái ghềnh của những con đập đầu tiên rồi dùng những ôm cỏ tranh bịt kín tất cả lại. Khi đã hoàn tất việc đắp đập người ta gọi tất cả mọi người trong cộng đồng cùng đến nơi đánh bắt cá. Một số thanh niên ngồi trên các bờ, đập các cây có rễ độc cho nhựa ứa ra, sau đó thả xuống sông để cho chất nhựa hoà vào nguồn nước, làm cá ngạt thở nên nổi trên mặt nước. Sau khi bắt cá xong, chỉ cần tháo đập nước, dòng chảy đẩy lớp nước có nhựa độc đi, nguồn nước sẽ trở lại bình thường như lúc ban đầu. Đây là một kiểu khai thác khá hiệu quả mà không gây nhiều tổn hại đến môi trường. Tuy nhiên, việc khai thác các nguồn lợi từ sông suối, nhất là hoạt động bắt cá không phải là tự phát của từng cá nhân, mà luôn phải được sự cho phép và tuân theo luật lệ của cộng đồng.
Như vậy, có nghĩa là bên cạnh việc khai thác nguồn tài nguyên ở sông suối người Mnông cũng đề ra những quy định cụ thể để khai thác nhưng không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên đó, duy trì nguồn tài nguyên cho các thế hệ sau này. Đồng thời có những nghi lễ cộng đồng để cùng nhắc nhở nhau bảo vệ nguồn nước, giữ gìn nguồn nước. Điều này cho thấy cư dân có ý thức rất cao trong việc sử dụng tài nguyên cũng như ý thức gìn giữ nguồn lợi tự nhiên cho các thế hệ tương lai. Chính những điều này đã góp phần gìn giữ cho bon làng luôn sạch sẽ, suối nước luôn đầy ắp cá, phục vụ tốt cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân.
2.3. Về tài nguyên rừng
Theo quan niệm của người Mnông, rừng được phân loại thành rừng để sản xuất, là rừng để phát đốt canh tác nương rẫy, chủ yếu là trồng lúa theo phương thức hữu canh, luân canh; rừng khai thác là rừng để hái nấm, hái măng, các loại rau củ quả, săn bắt thú, lấy gỗ để làm nhà, chế tác công cụ sản xuất, lấy củi để đun; rừng thiêng là các khu rừng ở đầu nguồn, theo quan niệm của đồng bào thì đó là nơi ở của các thần linh bảo hộ cho đời sống của nhân dân, do đó mà những khu rừng này được bảo vệ khá kĩ lưỡng và những khu rừng này còn có ý nghĩa giữ nước cho vùng hạ nguồn.
Rừng để sản xuất, người Mnông sử dụng vào canh tác nương rẫy mà chủ yếu là trồng cây lúa, tri thức của cư dân về khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên này đã được trình bày rõ ở phần tri thức về canh tác nương rẫy ở trên.
Rừng khai thác là những khu rừng cho phép cư dân vào đó để tìm kiếm nguồn thức ăn như các loại rau rừng, các loại củ, các loại quả, nấm,… cho phép cư dân vào đó để săn bắn các loài thú và cũng là nguồn cung cấp gỗ chính cho cư dân làm nhà, chế tác công cụ. Có thể thấy vai trò của rừng khai thác có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của cư dân này. Đối với việc bảo vệ tài nguyên rừng người ta không có vai trò nhất định của một người cụ thể nào mà nó gắn liền với ý thức chung của cả cộng đồng. Tài nguyên rừng là nguồn tài nguyên chung của cả cộng đồng ai cũng có thể khai thác:
Cây trong rừng ai vác cũng được
Mây trong rừng ai bứt cũng được
Rau trong rừng ai hái cũng được.
Theo tập quán cư dân, ai cũng có thể vào rừng để khai thác các sản phẩm từ rừng phục vụ cho nhu cầu đời sống của họ, không phân biệt đàn ông, đàn bà. Phụ nữ vào rừng để tìm kiếm các loại rau rừng, hái nấm, bẻ măng; đàn ông thì vào rừng để lấy gỗ về làm nhà, làm chuồng trâu, hoặc chặt tre, nứa, mây để làm chòi hay đan lát các vật dụng trong gia đình. Cùng với khai thác rừng thì cư dân ở đây cũng có những quy định nhắc nhở cả cộng đồng có ý thức khai thác hợp lí nguồn tài nguyên, chặt cây tre phải chừa cây con, chỉ hái những cây đã lớn không hái hết những cây nhỏ nhằm đảm bảo cho sự tái sinh của cây rừng, không khai thác quá mức khiến tài nguyên rừng bị cạn kiệt không tái sinh được.
Trong khi chăn nuôi chưa được chú trọng phát triển thì rừng còn là nơi cung cấp nguồn thực phẩm thịt cho đồng bào. Với hoạt động săn bắt thú rừng, người Mnông thường đi săn vào khoảng thời gian cuối mùa khô, khoảng tháng ba, tháng tư khi mà công việc phát nương đã hoàn thành, chờ cây khô để đốt nương. Người Mnông nổi tiếng với nghề săn bắt và thuần dưỡng voi để sử dụng. Theo luật tục Mnông quy định, voi rừng là con vật do thần nuôi, không phải ai cũng có thể săn bắn voi rừng, muốn bắn voi rừng phải làm lễ cúng thần, phải cúng đủ lễ mới được bắn voi rừng nếu không sẽ bị thần quấy rầy, thậm chí ốm đau, thậm chí vợ con chết, cho nên đủ sức cúng mới dám bắn voi và không chỉ đối với voi rừng mà những con vật khác như trâu rừng, tê giác cũng được quy định tương tự. Việc đi săn được tổ chức tập thể dưới sự điều hành của già làng, là những người có nhiều kinh nghiệm. Thành quả thu được sau mỗi cuộc đi săn thường được chia đều cho những người tham gia.
Bắt con khỉ phải chia đều
Bắt con công phải chia đều Một
ngọn rau cũng phải ăn chung Một
miếng thịt cũng phải chia nhau Một
con cá cũng phải sẻ nhau.
Một điều đáng chú ý là người Mnông luôn có ý thức bảo vệ để khai thác có hiệu quả nguồn lợi từ rừng này. Đó là chọn lọc những loại nào săn được và không săn được chứ không giết hết. Chỉ săn bắt những con vật đã trưởng thành, không bắt con non, không bắt những con có chửa, những con còn nhỏ, được thả vào rừng. Việc khai thác phải được tính toán hợp lí để đảm bảo cho nguồn tài nguyên không bị cạn kiệt, thế hệ này ăn rừng nhưng vẫn dành phần cho thế hệ sau. Đó là một trong những cơ sở quan trọng để nguồn tài nguyên rừng qua ngàn đời vẫn được bảo tồn và phát triển.
Rừng thiêng là những khoảnh rừng ở đầu bon hoặc xung quanh bon làng. Theo quan niệm của người Mnông thì rừng thiêng là nơi trú ngụ của các thần linh. Các vị thần đó đã che chở cho bon làng, giúp con người, súc vật luôn mạnh khoẻ, mùa màng tươi tốt, bội thu. Tuy vậy, rừng thiêng cũng không phải là rừng cấm, vì tất cả mọi thành viên trong bon ai cũng có thể vào rừng để kiếm củi, hái rau, bẻ măng hay đặt bẫy, săn bắn. Thế nhưng, không ai được tự tiện chặt những cây to ở trong khu rừng này. Luật tục Mnông quy định, muốn chặt cây phải được sự cho phép của già làng. Trước khi chặt cây phải làm nghi lễ, vật hiến tế là một con gà trống. Trong quá trình chặt cây cũng phải hết sức cẩn thận, không được để cây đổ làm gãy những cây lân cận. Ai chưa được phép của già làng mà tự tiện chặt cây thì sẽ bị phạt theo luật tục, nặng thì phải cúng trâu, bò dê, nhẹ thì gà để tạ lỗi với các vị thần linh. Ngoài ra, khi đốt rẫy gần rừng thiêng, vô ý bị lan sang cũng sẽ bị phạt. Đặc biệt, luật tục Mnông còn quy định, người nào thấy rừng cháy mà thờ ơ, không dập lửa, hoặc không thông báo kịp thời cho mọi người biết cũng sẽ bị phạt rất nặng.
Rừng thiêng có ý nghĩa như vậy nên hằng năm đồng bào thường tổ chức lễ cúng thần rừng. Ngày cúng do già làng quyết định, nhưng thường diễn ra vào tháng 3. Địa điểm được chọn để thực hiện lễ cúng là ở bìa rừng và lễ vật thường là trâu, bò hoặc dê. Ngày cúng thần, tất cả mọi người trong bon đều phải ngừng mọi việc để tham dự. Đồng bào quan niệm, nếu ai không tới dự lễ cúng này thì sẽ bị các vị thần linh quở trách, năm đó sẽ gặp xui xẻo, người thì bị bệnh tật, còn mùa màng thì thất thu. Vì vậy, khi nghi lễ diễn ra, ai cũng chờ đến lượt được già làng bôi tiết con vật vừa hiến tế lên trán của mình để cầu mong may mắn.
Chính vì vậy, trong tri thức của đồng bào về sử dụng rừng, tài nguyên rừng, cư dân luôn nhắc nhở nhau nhớ bảo vệ rừng, khai thác rừng nhưng vẫn luôn đảm bảo cho rừng có thể tái sinh và phát triển. Việc sử dụng và quản lí rừng theo từng bon làng thông qua hệ thống luật tục. Đối với người Mnông, những người từ bao đời nay ăn rừng, cuộc sống gắn liền với rừng, khai thác rừng là một hoạt động ăn sâu vào tiềm thức kiếm sống của họ và rừng cũng có ý nghĩa đặc biệt với họ nên bảo vệ rừng không cần phải nhắc nhở thì cư dân cũng luôn ý thức là họ phải giữ rừng, đó là cội nguồn của họ. Tập quán sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của người Mnông đã góp phần rất lớn trong việc bảo tồn và giữ gìn những khu rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn với nhiều loại động thực vật quý hiếm và có giá trị. Những tri thức đó có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác bảo vệ rừng hiện nay ở nước ta.
Bên cạnh những tri thức về sử dụng và bảo vệ ba nguồn tài nguyên chủ yếu, người Mnông còn có tri thức trong khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên khác. Người ta nhắc nhở nhau bảo vệ môi trường sống chung của cả cộng đồng, chăn nuôi phải xây dựng chuồng trại đầy đủ, trâu bò bị bệnh phải tránh không để dịch bệnh lây lan ra cả cộng đồng, nuôi voi phải chăm sóc voi chu đáo,… Những tri thức đó được hình thành lâu dài trong quá trình sinh sống, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa con người với tự nhiên nơi họ sinh sống. Con người khai thác tự nhiên đồng thời hiểu được giá trị của tự nhiên đối với hoạt động sống của mình mà biết cách duy trì tài nguyên luôn tồn tại nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của họ qua bao đời này. Tính tập thể và thực hiện nghiêm ngặt những quy định của luật tục là điểm đáng lưu ý trong việc sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống tri thức này có ý nghĩa rất lớn đối với điều kiện ngày nay khi mà tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác với một tốc độ nhanh chóng, thậm chí không còn đủ khả năng tái sinh.
3.
Tri thức địa phương là sự tích luỹ, tổng hợp kinh nghiệm trong quá trình sinh sống và thích ứng với môi trường tự nhiên. Tri thức địa phương của người Mnông về sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo sự tồn vong và phát triển của tộc người. Trong tiến trình hiện đại hoá và công nghiệp hoá, tri thức truyền thống của nhiều tộc người đang bị mất dần đi trong xu hướng toàn cầu hoá. Bối cảnh toàn cầu hoá, với sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường như hiện nay, nhiều khi, ảnh hưởng của nó làm thay đổi, biến mất các giá trị văn hoá. Con người ngày càng nhận thức ra việc phát triển nếu không tính đến thế hệ tri thức địa phương, sẽ mang đến sự phá hoại có tính chất mù quáng. Vì vậy, để phát triển liên tục và bảo vệ tính đa dạng của văn hoá tức là muốn phát triển bền vững thì cần coi trọng giá trị của tri thức truyền thống và kết hợp với tri thức khoa học một cách hợp lí, việc đó đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng.
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Georges Condominas, Chúng tôi ăn rừng, NXB Thế giới, 2003.
2. Bùi Minh Đạo, Tri thức địa phương trong việc quản lí và sử dụng đất rẫy truyền thống ở các dân tộc tại chỗ của Tây Nguyên, Dân tộc học, số 2, 2000.
3. Nguyễn Tấn Đắc, Văn hoá xã hội và con người Tây Nguyên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
4. Bế Viết Đẳng – Chu Thái Sơn – Vũ Thị Hồng – Vũ Đình Lợi, Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Đắk Lắk, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982.
5. Lê Quý Đức – Nguyễn Hoà – Thu Thuỷ, Lễ hội truyền thống với sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên, NXB Chính trị Quốc gia, 2010.
6. Trần Hồng Hạnh, Tri thức địa phương – sự tiếp cận lí thuyết, Dân tộc học, số 1, 2005.
7. Vũ Thị Hoà, Kinh tế nông nghiệp truyền thống Đăk Nông, http://www.hids.hochiminhcity.gov. vn/Hoithao/VNHOC/TB8/hoa.pdf. 15/5/2011, 2011.
8. http://vi.wikipedia.org/wiki/người_Mnông.
9. Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Luật tục Mnông, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
10. Ngô Đức Thịnh, Văn hoá dân gian Mnông, Đất và người Tây Nguyên, NXBVăn hoá Sài Gòn, 2007.
11. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Một số vấn đề phát triển kinh tế – xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.
12. Nguyễn Tấn Triết, Tây Nguyên – những chặng đường lịch sử văn hoá, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007.