Văn bia Phật giáo thời Lê sơ
BUDDHIST EPITAPHS IN THE EARLY LÊ DYNASTY
Tác giả bài viết: Phó Giáo sư, Tiến sĩ ĐINH KHẮC THUÂN
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
In general, the epitaph materials in the Early Lê dynasty were rare. It was the period of Confucianism, which was associated with the established and flourishing centralized regime under the reign of Emperor Lê Thánh Tông in the second half of the 15th century. When Confucianism was promoted, Buddhism was limited. As a result, the research work on materials related to Buddhism in the Early Lê period was negligible.
On the occasion of some new discoveries on materials of Buddhist epitaphs of the Early Lê dynasty, the author has systematically documented the epitaph materials of this period. In addition, he outlined the general characteristics, as well as the value of Buddhist epitaph materials at this stage.
x
x x
Hiện trạng bia và văn bia Phật giáo thời Lê sơ
Bia và văn bia Phật giáo thời Lê sơ được đề cập ở đây là những bia đá, bệ tượng được khắc văn bản Hán Nôm liên quan đến Phật giáo thuộc thời Lê sơ. Những tư liệu này hiện nằm rải rác ở các địa phương, trong đó phần lớn văn bản văn bia đã được in dập và lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Những văn bản này cũng đã được sưu tập và giới thiệu nội dung trong hai tập văn bia: một là Tuyển tập Văn bia thời Lê sơ và Tuyển tập Văn bia Thanh Hóa: Tập Hai: Văn bia thời Lê sơ (Viện Nghiên cứu Hán Nôm 2014). Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bia Phật giáo thời Lê sơ chưa được giới thiệu. Chẳng hạn như văn bia chùa Kim Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội, một văn bia sớm nhất phát hiện trong các quận nội thành Hà Nội; cùng hai văn bia chùa Bối Khê (huyện Thanh Oai, Hà Nội), bệ Phật chùa Khám Lạng (Bắc Giang) và bệ Phật chùa Tiên Lữ (Hưng Yên)…
Ngoài số văn bia chùa Phật ra, còn một số văn bia khác tuy không ở chùa, hoặc không trực tiếp đề cập đến ngôi chùa Phật, song ít nhiều đều có liên quan đến hoạt động Phật giáo, nên chúng tôi cũng đưa vào sưu tập này.
Số văn bia đề cập đến Phật giáo thời Lê sơ chúng tôi sưu tập được gồm 44 văn bản. Số lượng này không nhiều, song, so với tổng thể văn bia thời Lê sơ thì đây lại là số lượng đáng kể. Bởi số văn bia thời Lê sơ hiện biết có trên 80 đơn vị văn bản, trong đó phần lớn là bia lăng mộ vua và Hoàng tộc nhà Lê, cùng các quan lại nhà Lê và văn bia khắc thơ đề tặng (có tới trên 40 văn bia, chiếm trên một nửa toàn bộ văn bia thời Lê sơ). Ngoài ra là cụm bia Tiến sĩ đề danh được dựng ở Văn miếu có tới 7 bia. Đây hoàn toàn là bia do triều đình sai dựng, gắn với nhân vật và sự kiện triều đình. Số văn bia còn lại là bia làng xã, liên quan đến đền tín ngưỡng thờ Thần.
Văn bia Phật giáo thời Lê sơ xuất hiện ngay ở niên hiệu đầu tiên của Vương triều này, niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433), trải dài đến năm cuối cùng niên hiệu Thống Nguyên thứ 6 (1527), cũng là năm đầu của nhà Mạc. Cụ thể 44 văn bia Phật giáo thời Lê sơ được tạo khắc ở các niên hiệu nhà Lê sau:
Thuận Thiên 2 bia, Thiệu Bình 1 bia, Thái Hòa 4 bia, Quang Thuận 3 bia, Hồng Đức 11 bia, Cảnh Thống 8 bia, Đoan Khánh 3 bia, Hồng Thuận 9 bia, Quang Thiệu 1 bia và Thống Nguyên 2 bia. Như vậy là số bia Phật giáo thời Lê sơ được dựng nhiều nhất trong niên hiệu Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông thế kỷ 15 và các niên hiệu: Cảnh Thống, Hồng Thuận ở đầu thế kỷ 16. Giai đoạn đầu ở niên hiệu Thái Hòa cũng có khá nhiều bia Phật giáo được dựng. Điều đó cho thấy văn bia Phật giáo xuất hiện liên tục ngay từ niên hiệu đầu tiên của nhà Lê.
Dưới thời Lê Thánh Tông, thời kỳ được cho là hưng thịnh nhất của Nho giáo, thì Phật giáo cũng vẫn được duy trì khá liên tục. Đương nhiên, sự duy trì này là hoàn toàn do dân gian, chứ không phải do triều đình, bởi người đứng đầu triều đình là vua Lê Thánh Tông, một vị vua tôn sùng Nho giáo, không khuyến khích các hoạt động Phật giáo, nhất là sự pha tạp dị đoan. Điều này thể hiện rõ trong lời tựa và bài thơ đề chùa Long Đọi (Hà Nam) vào năm Quang Thuận thứ 8 (1467). Nội dung lời tựa và bài thơ được trích dịch như sau: “… Ta đi bái yết sơn lăng, có đi qua mé trái ngọn núi, bèn trèo lên ngắm cảnh, cười vua tôi nhà Lý thờ việc quái đản, than đất nước gặp bước can qua, bèn làm bài thơ khắc mặt sau tấm bia” – 時 光順 八 年 余 拜 謁 山 陵 路 山 左 遂 登 覽 焉 笑 李 朝 事 誕 之 君 臣 嗟 國步 曾 經 於 兵 蠡 因 留 一 律 于 石 陰 云 (Thác bản, ký hiệu 7908).
Trái ngược với Lê Thánh Tông là vua Lê Hiến Tông, lên ngôi khi Nho giáo đã đi xuống, dần dần nhường chỗ cho Phật giáo phục hồi. Lê Hiến Tông đã hướng đến Phật giáo với một kỳ vọng, một định hướng mới. Chính ông và chỉ có vị vua duy nhất này đã ra đề thi văn sách về Phật giáo. Đó là đề thi Đình đối khoa thi Đình năm Cảnh Thống thứ 5 (1502) hỏi về Phật giáo(1). Khoa thi này có vị Đạo sĩ Lê Ích Mộc người Thanh Lãng, huyện Thủy Đường, Hải Dương (nay thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) đỗ Trạng nguyên. Thêm nữa, phần lớn thơ của vua Lê Hiến Tông đều có nỗi niềm hướng về Phật pháp.
Điều này cũng dễ hiểu khi bước sang thế kỷ 16, số văn bia Phật giáo liên quan đến vua, quan trong triều tăng dần, trong đó tiêu biểu là sự xuất hiện văn bia am Hiển Thụy năm Cảnh Thống thứ 3 (1500) cũng chính do vua Lê Hiến Tông nhớ đến ý nguyện của Trinh Quốc công mà sai khắc.
44 văn bia Phật giáo thời Lê sơ được phân bố chủ yếu ở đồng bằng, trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Cụ thể là Hà Nội (bao gồm Thăng Long và một phần xứ Đoài xưa) 10 văn bia, Ninh Bình 3 bia, Bắc Giang 2 bia, Bắc Ninh 2 bia, Hà Nam 2 bia, Hải Dương 3 bia, Hải Phòng 1 bia, Hưng Yên 1 bia, Thái Nguyên 1 bia và Vĩnh Phúc 1 bia. Riêng Thanh Hóa, vùng đất căn bản của nhà Lê có nhiều bia về Hoàng tộc nhà Lê được dựng, đồng thời cũng có số bia Phật giáo khá nhiều, gồm 18 bia.
Trong số 10 văn bia ở Hà Nội thì trong thành Thăng Long không có văn bia nào, mà chỉ có 2 văn bia ở ngoại ô là Tây Hồ (Bia chùa Đại Bi) và Hoàng Mai (Bia chùa Nga Mi), còn lại hoàn toàn là ở vùng xứ Đoài cũ. Điều đó cho thấy triều đình không thực sự chú trọng Phật giáo, nên không có văn bia nào được khắc, cũng có nghĩa là không có ngôi chùa nào trong thành Thăng Long dành cho Hoàng tộc được duy trì. Điều đó hoàn toàn phù hợp với sắc chỉ của vua Lê Thánh Tông rằng: “chỉ tu tạo lại các ngôi chùa có hạn ngạch”, cùng lệnh cấm khắc in các tạp thư về Phật Lão “Kẻ nào làm càn khắc in tạp thư về Phật Lão, đục khoét của cải của dân, làm rối loạn, mê hoặc tín ngưỡng của dân thì bị xử tội đồ” (Nguyễn Ngọc Nhuận, Lê Tuấn Anh, Trần Thị Kim Anh 2006: 274). Vì vậy, hầu hết những lần tu sửa, xây dựng chùa đều diễn ra ở các địa phương xa cách triều đình và do người dân, cùng quan lại địa phương chủ trì.
Hình thức và đặc điểm trang trí
Bia thời Lê sơ phổ biến là bia cung đình, tức là bia do triều đình sai khắc, như cụm bia lăng mộ vua và hoàng tộc nhà Lê ở Thanh Hóa. Số còn lại là bia dân gian, do địa phương tạo dựng, trong đó có bia Phật giáo.
Đối với bia cung đình, hình thức và đặc điểm trang trí được quy định hết sức chặt chẽ. Bia nào cũng có kích cỡ lớn, trang trí đẹp đẽ. Tuy nhiên, có những khác biệt ở mức độ, quy mô bia tùy thuộc vào địa vị nhân vật được đề cập trong bia. Chẳng hạn, bia lăng mộ vua Lê Thái Tổ được thể hiện đặc sắc hơn cả. Trán bia chạm hai rồng chầu vào một hình rồng trung tâm trán bia, xung quanh có hình tròn nằm gọn trong một ô vuông ở giữa. Bia của các vị vua khác tuy cũng có hai rồng chầu vào một hình rồng ở giữa, nhưng không có hình vòng tròn và ô vuông. Ý nghĩa của biểu trưng trên chính là thể hiện quan niệm về trời đất, vũ trụ “Trời tròn, đất vuông”, mà vua là con trời – “Thiên tử”. Ở trung tâm của trời đất, vũ trụ ấy chính là ông vua được biểu hiện qua hình tượng rồng.
Đề tài trang trí trên diềm bên và diềm chân bia cũng hoàn toàn là hoa văn rồng.
Quy cách trang trí này không xuất hiện trên bia dân gian, trong đó có cả bia công thần nhà Lê. Đối với bia bình dân thường là bia ở làng xã cũng không có hình rồng trang trí mà chủ yếu là hoa mây, thậm chí trán bia miếu Thanh Lục chỉ là một vầng hào quang.
Trong khi rồng là đề án trang trí chủ đạo trên bia cung đình của triều đình Nho giáo, thì chữ Phật hoặc tên bia là đề án trang trí chủ đạo trên bia Phật giáo thời Lê sơ. Trong số bia Phật giáo thời Lê sơ, có tới 5 bia được thể hiện theo quy cách này. Đó là bia chùa Đại Bi, nay là chùa Kim Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội khắc năm 1445, hai bia Tam bảo ở Thanh Hóa.
Hoa văn trên diềm bia cung đình phổ biến là hình rồng, thì trên diềm bia dân gian và bia chùa lại chủ yếu được khắc hình dây leo với kỹ thuật khắc nổi và chìm. Kỹ thuật khắc chìm tạo nên hình dây uốn lượn trổ ra hai bên dây leo đối xứng, mềm mại. Phong cách này được duy trì và trở nên phổ biến trong đề án trang trí bia thời Mạc thế kỷ 16 sau đó, được bắt nguồn từ trang trí bia dân gian và bia chùa thời Lê sơ. Còn hoa văn hoa dây thì cũng tương tự hoa văn dây leo với một hình dây uốn lượn, nhưng hai bên điểm thêm hoa lá. Đề án trang trí này trở lên phổ biến trên diềm bia thời Lê Trung hưng thế kỷ 17-18, nhưng thân dây thường mập hơn và có nhiều bông hoa mãn khai, điểm thêm hình chim thú sinh động.
Hoa văn dây leo hay hoa dây đều có dải dây uốn lượn làm chủ đạo. Dải dây uốn lượn đó chính là biểu trưng cho sự trường tồn và phát triển liên tục, dài lâu. Đồ án này thường có cuống dài, biểu thị số nhiều (đại, cũng là triều đại), chỉ vạn đại. Còn thân dây thì đan bện vào nhau biểu thị sự trường tồn.
Như vậy, trong khi hoa văn trang trí trên bia cung đình thời Lê sơ phản ánh tư tưởng chính thống sùng Nho của triều đình, thì đề án trang trí trên bia Phật giáo thể hiện ý chí tự tôn Phật giáo của những tín đồ Phật giáo song hành trong xã hội chủ trương Nho giáo này (Đinh Khắc Thuân 2016).
Nội dung phản ánh
Tư liệu văn bia Phật giáo thời Lê sơ phản ánh nhiều khía cạnh liên quan đến hoạt động Phật giáo thời kỳ này – thời kỳ được cho là Nho giáo là độc tôn và Phật giáo bị hạn chế, thể hiện ở một số khía cạnh sau đây.
Người tham gia hoạt động Phật giáo
Trước hết là người hưng công hội chủ, những người được văn bia đề cập đến, bao gồm vua và quan lại triều đình; cùng dân làng và chức sắc địa phương.
Trong khi các triều đại khác như triều Lý, triều Trần, triều Mạc, vua cùng Thái hậu, Hoàng hậu, phi tần, công chúa và các quan lại trong triều tham gia hoặc công đức xây dựng, tu sửa chùa, đúc tượng Phật, cúng Tam Bảo… thì điều này hầu như không thấy ở thời Lê sơ. Có sự xuất hiện của vua và đại quan trong triều, nhưng lại gắn với sự kiện khác. Đó là vua trên đường đi bái yết sơn lăng, hay đi du ngoạn, gặp danh lam thắng tích mà cảm hứng đề thơ, như các bài thơ khắc đá của vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Tương Dực.
Văn bia Hiển Thụy am bi khắc năm Cảnh Thống thứ 3 (1500) ở am Hiển Thụy núi Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) ghi lại việc cầu khẩn ở đây của Trinh Quốc công có nghiệm. Văn bia viết: “Ông sắp đặt việc cầu đảo cho Hoàng thái hậu ở am Từ công này (…). Năm sau là năm Tân Tỵ (1461), giữa mùa thu, nhằm ngày 10 tháng tám, Thánh thượng hoàng đế ra đời. Tam cung vui sướng, cả nước thỏa lòng. Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Quang Thuận thứ 3 (1462) Thánh thượng vì là con trưởng nên được lập làm Thái tử. Đạo nhân đức hiếu sớm thành, văn học lễ nghi mau đạt, gốc lớn nhờ vậy mà càng thêm hưng thịnh” – 公為皇太后致禱是寺徐公庵方展拜(…)明年辛巳中秋八月十日聖上皇帝應其降誕三宮交慶率土心三年壬午聖上以嫡長立為皇太子仁孝夙成溫文日就大本於是益隆矣 (Kí hiệu thác bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm số 1223).
Thời Lê sơ duy nhất có am Hiển Thụy này được hoàng tộc nhà Lê sai tạc tượng, khắc bia và đến hành lễ. Có lẽ đây là ngôi quốc tự ở thời Lê sơ, vì được Hoàng tộc nhà Lê lui tới cầu khẩn. Cùng thời gian này ở Thăng Long cũng có hai ngôi chùa lớn là chùa Nga Mi nay thuộc quận Hoàng Mai và chùa Đại Bi nay là chùa Kim Liên, quận Tây Hồ, nhưng người đứng ra tu sửa chỉ là sư thày với sự tham gia công đức của một số quan lại người địa phương, như chùa Nga Mi là do sư thày Thánh Sán và Thanh Nhàn cư sĩ làm hưng công hội chủ. Còn chùa Đại Bi thì do vợ chồng đại thần triều Lê là Á Liệt hầu người được ban quốc tính họ Lê.
Như vậy, việc trực tiếp tham gia xây dựng, tu sửa chùa hoặc công đức cúng dàng hầu như không có sự tham gia của vua và hoàng tộc nhà Lê. Tuy nhiên, họ không ngăn cấm, không xa lánh chùa Phật. Ngược lại, hầu hết người hưng công hội chủ, công đức cúng dàng được ghi trên bia thời Lê sơ đều là dân làng và chức sắc địa phương. Văn bia chùa Hạ xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ, Hà Nội khắc năm Hồng Thuận thứ 2 (1510) ghi rằng: “Chùa Hạ được xây dựng từ triều trước, là đất tư phúc, đã bị đổ nát, tượng Phật hư hại. Các sãi vãi cùng nhau khởi công quyên góp ngói gạch, tu sửa lại, lập bia đá. Cổng cửa thật sáng rộng, đẹp đẽ. Đến năm Canh Ngọ, các sãi, vãi lại quyên tiền của gia tư, tu sửa dựng lại tăng phòng, hành lang thật hoàn hảo. Lại dựng khánh tán đạo tràng để làm lễ lạc thành” – 夏 寺 自 前朝 建 立 以 為 資 福 之 地 毀 于 頹 弊 佛 相 [] 容 同 列 社 士 娓 [][]心乃 拾 瓦 竹 鳩 材 召 工 乃 廢 興 修 建 立 石 碑 山 門 壯。 至 庚 午 年 其士 娓 等 閔 善 男 [] 慨 九 原 之 不 作 又 捐 家 貲 嗣 葺 僧 房 輪 奐 完 美不 贊 前 功 又 崇 建 慶 讚 道 場 以 落 廠 成(Ký hiệu số 24322).
Thời Lê sơ, triều đình tôn sùng Nho giáo, song không vì thế mà người dân và cả quan lại, công thần của triều đình không tham gia cúng ruộng vào chùa để duy trì hoạt động Phật giáo. Tại kinh đô Thăng Long, vợ chồng công thần nhà Lê là Á liệt hầu họ Lê đã cúng ruộng vào chùa Đại Bi vào năm 1445.
Văn bia khắc trên bệ Phật ở chùa xã Quảng Nạp, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, năm 1443, cho biết: tín chủ Chu Hân Đạo cúng ruộng vào chùa làm của Tam Bảo. Ngoài ra, còn có người trong phường lập ruộng hương hỏa cúng vào chùa. Văn bia “Phật” khắc năm Hồng Đức thứ 18 (1487) xã Trạch Lôi, huyện Thạch Thất ghi: Tín chủ cố Nguyễn Liêm viết Tây Phương ông và vợ Nguyễn Thị Tứ thụy viết Thiện Tâm bà cung tiến tạc bia, cúng ruộng cho chùa làm của Tam Bảo.
Văn bia Tam Bảo (1509) ghi chép chi tiết về cúng ruộng vào chùa Ngọc Châu khắc trên vách đá núi Tặng Sơn, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Tín chủ cúng ruộng không chỉ là một người, hoặc một gia đình nào đó, mà gồm ít nhất từ 7 người trở lên. Những tín chủ cúng đất chỉ ghi tên, không thấy có chức vị gì, có thể đây chủ yếu là những người bình dân. Họ tập hợp thành một cộng đồng nhỏ cùng hướng tới việc thờ Phật ở chùa này.
Những thiện tín thường có tên hiệu là Ông Ngộ đạo và Bà Ngộ thiện. Các tên hiệu này gặp nhiều trên bia thời cuối Trần, Lê sơ và thời Mạc. Họ cúng dàng hoàn toàn vì ngộ đạo, ngộ thiện mà làm, được dân làng nhận cúng giỗ về sau. Những vị công đức như vậy nếu ở từ thời Mạc trở đi, thì thường được bầu làm Hậu Phật được cúng giỗ ở chùa, hoặc được gửi giỗ ở chùa. Điều đó cũng cho thấy bia Ký kỵ (gửi giỗ) và bia Hậu Phật chưa xuất hiện từ thời Lê sơ trở về trước. Hình thức cúng giỗ ở chùa đã có, song văn bia có tên “Ký kị bi” thường gặp ở các giai đoạn sau thì chưa thấy ở thời Lê sơ.
Xây dựng công trình công cộng và cơ sở thờ tự Phật giáo
Xây dựng công trình công cộng dựa trên niềm tin Phật giáo là thuộc về thực hành hướng đích xã hội của người tu tập theo Phật giáo.
Trong tư liệu bi ký thời Lê sơ hiện còn, có khá nhiều tư liệu văn bia đề cập đến vấn đề này, trong đó tiêu biểu là bia Tam Bảo – văn bia chùa làng Đông Tác, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Văn bia ghi rằng, tháng 9 năm Cảnh Thống thứ 3 (1500), ông Nguyễn Liệu hiệu Phát Tâm và vợ là Nguyễn Thị Lê người xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên vì phát tâm làm điều thiện do yêu thích Phật giáo, đã xây cầu đá, khơi nước đồng Cách thôn Đông Kiều. Đến ngày 13 tháng 6 năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Thống thứ 4 (1501), (gia đình ông bà) lại xây cầu, thông bến Bạch Hạc. Một văn bia khác, đó là bia Vạn Thọ được khắc vào năm Quang Thiệu thứ 7 (1522) ở thôn Thuần Thọ, xã Kim Xuyến, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Văn bia ghi rằng: “Ông Lê Khắc Nhượng cùng toàn thể thái ông, lão bà xã Tây Phụ, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung tu tạo cầu đá” – 河 中 府 弘 化 縣 西阜 凍 河 等 社 太翁老 婆 黎 克 讓 等 為 修 造 石 橋 事 (Thác bản số 17324).
Họ dựa trên niềm tin cho rằng Phật lấy cứu người làm công việc, người lấy bản thể của Phật làm tâm của mình: “Tháng 8 năm đó xuất hiện nhiều bệnh tật, mọi người phát tâm, khuyên nhủ người thân tu tạo cầu đá, tháng 10 năm đó hoàn thành truyền đến vạn năm sau, luôn đi theo con đường của Phật”.
Văn bia Hiển Thụy am bi ở am Hiển Thụy núi Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) cho biết Trinh Quốc công lúc làm lễ khẩn cầu ở am này, “có phiến đá bay lên rồi rơi trước mặt, Ngài ôm lấy rồi sai thợ tạc pho tượng Phật để phiến đá vào trong, lập một am khác để thờ” (間忽有片石飛落其前公懷之惟謹密令呈工雕作佛像納石于衷別構一庵奉之人莫之 ).
Đây chính là biểu hiện chức năng xã hội của Phật giáo, đồng thời cũng là biểu hiện về niềm tin Phật giáo của những người tin theo Phật giáo.
Đề cập tới việc xây dựng cơ sở thờ tự Phật giáo, trong số các bi ký thời Lê sơ, chúng tôi thấy văn bản khắc ở Bệ Phật (No.17773) của chùa xã Quảng Nạp, huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa là bi ký đề cập sớm nhất. Trong đó ghi rằng: “Ngày mồng 6 tháng 10 năm đó (1443), Vị Xa kỵ vệ Thiết đột hậu thánh dực quân Chánh ngũ trưởng, là người phường Đông Dặc, xã An Hoạch, huyện Đông Sơn công đức thường thờ Phật A Di Đà”. Như vậy, bệ Phật này lúc đầu được tạo ra để đặt tượng Phật A Di Đà. Trong phối cảnh thờ lúc đó, có thể tượng Phật A Di Đà được thờ tại vị trí trung tâm trong tâm thức Phật giáo của những người ở đây.
Chúng ta còn có thể thấy được ông Nguyễn Liệu (hàng 5, đội 11, sở Thần Quyền Trung, vệ Thần Sách, trong Ngự lâm quân) hiệu Phát Tâm và vợ là Nguyễn Thị Lê người xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên vì phát tâm làm điều thiện do yêu thích Phật giáo, dựng am chùa Đông Kiều. Sự việc này được Tam Bảo ở chùa làng Đông Tác, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa) ghi đã hoàn thành vào ngày 26 tháng 3 năm Quý Hợi niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 (1503). Năm năm sau, vào ngày 13 tháng 5 năm Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508), gia đình này lại công đức đắp núi đất, xây giếng đá cho chùa. Thực hành thuần túy Phật giáo này không chỉ được gia đình ông thực hiện một lần, mà ít nhất là hai lần như bi ký hiện còn ghi lại, và có thể nhiều hơn thế.
Trước hết là việc tạo bệ đá thờ Phật và tạo tượng Phật. Bệ Phật có hai loại, một là bệ đá hoa sen, hai là bệ tượng Phật. Bệ đá hoa sen thường được gọi là hương án xuất hiện phổ biến ở thời Lý, nhất là vào thời Trần, hầu như các đại danh lam đều có bệ đá hoa sen. Đến nay đã phát hiện được 7 bệ đá hoa sen có khắc niên đại thời Trần(2). Thời Lê sơ cũng có 2 bệ đá, đó là bệ đá chùa Khám Lạng (Bắc Giang) tạo năm Thuận Thiên thứ 5 (1432) và bệ chùa Quảng Nạp, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa tạo năm Thiệu Bình thứ nhất (1434). Các bệ này đều được làm bằng đá, kiểu dáng hình hộp, chạm khắc thành tòa sen.
Gần đây, phát hiện bệ đá hoa sen chùa Nhạn Tháp, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên cũng có niên đại thời Lê sơ thế kỷ 15. Bệ có khắc văn bản chữ Hán, đề cập đến nội dung cúng ruộng vào thời Mạc, nên một số người cho rằng đây là bệ đá thời Mạc. Nhưng thực tế, văn bản cúng ruộng này được khắc thêm về sau, vào thời Mạc. Bệ đá do nhiều khối đá lớn ghép lại đẹp và to, như các cụ già trong làng nói: miền Bắc có 3 bệ đá thì bệ đá chùa Nhạn Tháp là to nhất, đẹp nhất.
Bệ đá hay hương án thường được chia làm 3 tầng: Mặt Hương án, thân Hương án và đế Hương án. Ba tầng liên kết với nhau tạo thành một đài sen hoàn chỉnh. Bệ đá hoa sen chùa Khám ghi rõ niên đại là 順天五年壬子年, 龕社下品刘俱, 妻杜 醜 /Thuận Thiên ngũ niên Nhâm Tý niên, Khám xã Hạ phẩm Lưu Câu, thê Đỗ Xú. Nghĩa là: Năm Nhâm Tý niên hiệu Thuận Thiên thứ 5 (1432), Lưu Câu chức Hạ phẩm người xã Khám và vợ là Đỗ Xú (công đức).
Minh văn trên bệ đá hoa sen chùa xã Quảng Nạp (Thanh Hóa) cho biết “Vào ngày mồng 6 tháng 10 năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên (1434), Vị Xa kỵ vệ thiết đột hậu thánh dực quân Chánh ngũ trưởng người phường Đồng Dặc xã An Hoạch huyện Đông Sơn công đức. Công đức tạo A Di Đà Phật. Tín chủ Chu Hân Đạo cúng vào chùa bản xã làm của Tam bảo lưu thông cúng dàng…”.
Ngoài bệ đá hoa sen hình hộp ra, còn có bệ tượng Phật bằng đá. Đó là bệ tượng Phật cũng ở chùa Khám (Bắc Giang) tạo năm Hồng Đức thứ 25 (1494). Đây là bệ Phật Tam thế, gồm 3 bệ. Trong 3 bệ này thì bệ ở giữa mới được đúc lại theo mẫu bệ bên phải. Bệ bên phải hoàn hảo nhất, có văn bản khắc trên hai mé bệ. Mặt trước khắc 13 dòng, mỗi dòng 3 chữ; mặt bên khắc 17 dòng, mỗi dòng 3 chữ. Nội dung văn bản được dịch như sau:
“Ngày mồng 7 tháng 2 năm Hồng Đức thứ 25 (1494), Tín chủ Lưu Thị Luận khởi xướng tạo tác tượng Phật tam tôn.
Hiệu là Thiện Duyên bà cúng 3 quan tiền và Thuận Tâm ông 1 quan tiền, Chính Niệm ông và bà (…). Từ Tín bà (…), Ngộ (…) ông cùng Hữu Phúc bà cúng 1 quan tiền, Vô Tâm ông và bà cúng 5 quan. Trần Lộc cúng 1 chiếc áo, Nguyễn Thị cúng 1 chiếc áo, Nguyễn Thị Thụy 1 chiếc áo.
Phú Sơn ông và bà người xã huyện Lục Ngạn cúng 1 chiếc áo. Đông Lạc xã Nguyễn thị cúng 5 mạch tiền”.
Như vậy là ở riêng chùa Khám, năm Thuận Thiên thứ 5 (1432) tạo 1 bệ đá hoa sen, đến năm Hồng Đức thứ 25 (1494) thì tạo bệ tượng và 3 pho tượng Tam thế. Cùng việc công đức tạo tượng, là việc công đức cúng áo Phật, cả thảy 4 chiếc. Rất có thể 3 áo cho 3 pho Tam thế đặt ở sau cùng, còn 1 áo cho 1 pho tượng khác đặt trên bệ đá hoa sen ở phía trước. Rất có thể đây là tượng A Di Đà.
Văn bia Chuyết Sơn huyện Tân Minh (Hải Phòng) dựng năm Hồng Đức thứ 22 (1491) cho biết chùa này đã có tháp, quy mô được mở mang huy hoàng, nhưng tượng Di Đà thì chưa có. Do đó tín thí tạo tượng gỗ cao 6 trượng.
Một số văn bia khác ghi việc tu tạo Phật tượng, đúc chuông. Văn bia “Cù Sơn độ ký” ghi việc xây đền thờ Thần, làm tượng Phật trong Tam bảo.
Rõ ràng là Phật điện trong ngôi chùa thời Lê sơ ở thời kỳ đầu còn tiếp nối cách thức bài trí Phật điện thời Trần, với số lượng tượng Phật không nhiều, chủ yếu được đặt trên bệ đá hoa sen. Ở giai đoạn sau, nhất là từ niên hiệu Hồng Đức trở đi, số lượng tượng tăng dần lên với sự xuất hiện của bộ Tam thế gồm 3 pho Quá khứ, Hiện tại, Vị lai, cùng pho Di Đà ở phía trước.
Ngoài ra, thời Lê sơ còn có tượng Quan Âm. Đó là pho tượng Quan Âm chùa thôn Cung Kiệm xã Nhân Hòa huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Bệ tượng và tượng bằng đá, chữ khắc cả trên lưng tượng và bệ tượng, nội dung dịch ra như sau: “Năm Kỷ Tỵ niên hiệu Thái Hòa thứ 7 (1449) đời vua thứ ba triều Lê. Các thí chủ ở xã Kiệm, huyện Vũ Ninh, lộ Bắc Giang Trung là: Đào Ngân, Nguyễn Thị Biên, Nguyễn Lăng, Đào Thị Điều, Nguyễn Bế, Nguyễn Thị Thiếu” (Phạm Thị Vinh 1993).
Tín ngưỡng Quan âm thời Lê sơ khá phổ biến, nhưng vị trí đặt tượng thường không ở cùng trên Phật điện mà là ở gian bên, hoặc ở bên ngoài như trường hợp tượng Quan âm chùa Cung Kiệm này.
Tóm lại, văn bia Phật giáo thời Lê sơ hiện còn tuy không nhiều, song vô cùng quý giá và phong phú góp phần nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo thời Lê sơ thế kỷ 15- đầu thế kỷ 16 nói riêng mà bài viết này mới điểm ra đôi điều.
Chú dẫn:
(1) Nội dung câu hỏi trích dịch như sau: “Hỏi Phật pháp rộng lớn, vậy nguồn gốc, tổ tỉ,
cha mẹ, anh em, cô di, tỉ muội có thể chỉ ra được không? Muôn vàn con người được sinh ra, ai trong đó có thể thành Phật. Người do A Di Đà Phật sinh ra rất nhiều, vậy ai có thể chứng thành Phật đạo. Trước nhất là Thích già. Pháp nhãn đại tạng có thập phương chư Phật, quả là luôn thường xuất hiện sao? Phàm là dáng cung thì có cửu cung, đế quân quả được nổi danh sao? Qua được cửa Kim cương nhãn môn thì được siêu sinh sao? Kính ngưỡng đắc Phật, theo đường đến lưu li Tây phương, sẽ được giải thoát sao? Đế Thích đau đáu thiên cung, lấy gì để lên được cõi đâu suất, đà thiên hải ngoại, hư không… những việc đó thật là khó bàn. Nay đệ tử phụng Phật gặp thời thịnh, du học pháp môn. Lại muốn diệt tội đắc phúc, chứng đạo thành Phật để đến cõi thế giới Tây phưong cực lạc. Vậy thì phải tu đạo nào đây? Hãy vì chúng sinh mà thuyết trình ra…”. (Đinh Khắc Thuân 2015).
(2) Cổ nhất là bệ đá ở chùa Hương Trai (Hoài Đức, Hà Nội) làm đầu năm 1370, tiếp đến là các bệ chùa Giao Thông (Ứng Hòa, Hà Nội) tạo cuối năm 1370, bệ chùa Đại Bi (Hoài Đức, Hà Nội) làm năm 1374, bệ chùa Ngọc Đình (Thanh Oai, Hà Nội) năm 1375, bệ chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Nội) năm 1382, bệ chùa Phổ Quang (Lâm Thao, Phú Thọ) năm 1386, bệ chùa Viên Nội năm 1382.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Nhuận, Lê Tuấn Anh, Trần Thị Kim Anh (dịch giới thiệu) 2006, Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội.
2. Đinh Khắc Thuân 2015, “Khoa cử thời Lê sơ và bài văn sách đình đối về Phật giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1.
3. Đinh Khắc Thuân 2016, “Đặc điểm trang trí bia thời Lê sơ”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 6.
4. Lê Văn Toan, Nguyễn Văn Hải 2013, Tuyển tập Văn bia Thanh Hóa: Tập Hai: Văn bia thời Lê sơ, Nxb. Thanh Hóa.
5. Phạm Thị Vinh 1993, “Văn bản chữ Hán trên lưng pho tượng Phật thế kỷ 15 vừa mới phát hiện tại Hà Bắc”, Tạp chí Hán Nôm, số 4.
6. Phạm Thùy Vinh 2014, Tuyển tập Văn bia thời Lê sơ, Nxb. Khoa học Xã hội.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Thông báo khoa học 2017
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
Hình ảnh: Kính mời Quý độc giả xem ở tệp PDF đính kèm bên dưới.
| Download file (PDF): Văn bia Phật giáo thời Lê sơ (Tác giả: PGS. TS Đinh Khắc Thuân) |