Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Âm hưởng VĂN HOÁ _ LỊCH SỬ qua một số ĐỊA DANH XỨ HUẾ (Phần 2) - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Âm hưởng VĂN HOÁ _ LỊCH SỬ qua một số ĐỊA DANH XỨ HUẾ (Phần 2)

4. Một số nét lịch sử văn hoá phản ánh qua Ðịa danh xứ Huế

     4.1. Huế – vùng đất của kinh đô xưa

     Huế có vị trí trung tâm của đất nước, lại có địa hình núi non, sông ngòi hiểm trở, nên dễ hiểu vì sao triều đại Tây Sơn và sau này là các vua chúa triều Nguyễn lại chọn Huế làm kinh đô. Trải qua 157 năm xây dựng và phát triển (từ năm 1788 đến năm 1945), Huế từng là nơi ở của vua chúa (đại diện cho nhà nước phong kiến), đồng thời cũng là nơi vua chúa và những người thân an nghỉ. Đến nay, Huế vẫn lưu giữ được một quần thể kiến trúc gồm kinh thành, phủ, lăng tẩm… đồ sộ với 31 lăng, 12 phủ, 1 quần thể kinh đô Huế với rất nhiều cung điện có tên là: điện Thái Hoà, điện Phụng Tiên, điện Thọ Minh, điện Cần Chánh, điện Văn Minh, cung Diên Thọ, cung Trường Sanh,… Trong 31 lăng được xây dựng có 16 lăng của các chúa Nguyễn và các vị vua triều Nguyễn. Đó là lăng Trường Cơ, lăng Trường Diên, lăng Trường Diễn, lăng Trường Hưng, lăng Trường Phong, lăng Trường Thái, lăng Trường Thanh, lăng Trường Thiệu thờ các chúa Nguyễn; các lăng: An Lăng, Hiếu Lăng, Khiêm Lăng, Thiên Thọ Lăng, Tư Lăng, Ứng Lăng, Xương Lăng thờ các vua Nguyễn. Không chỉ có vậy, còn có thể kể thêm 6 lăng của các bà hậu của các chúa Nguyễn, đó là: lăng Vĩnh Cơ, lăng Vĩnh Mâu, lăng Vĩnh Hưng, lăng Vĩnh Phong, lăng Vĩnh Thái và cuối cùng là lăng Vĩnh Thanh…

     Kinh đô Huế thực sự là nơi dung hoà giữa sự phồn hoa đô hội với cảnh u tịch, trang nghiêm. Mỗi cung điện, lăng tẩm,… đều có một vẻ riêng, phần nào cũng như những tên gọi toát lên vẻ tôn nghiêm trang nhã của chúng.

     4.2. Huế – vùng đất của những biến đổi thăng trầm

     Địa danh không đơn giản chỉ là những cái tên để gọi một đối tượng địa lí. Nếu tìm hiểu kĩ các địa danh xứ Huế, ta sẽ cảm nhận được một sự thực: Mỗi địa danh có thể mang trong mình những ý nghĩa và âm hưởng nhất định. Điều đó đặc biệt đúng đối với những người dân xứ Huế, những người đã nhiều thế hệ gắn bó với vùng đất này. Các địa danh được xem như những tấm bia, những kỉ niệm của một thời. Hơn thế nữa, quá trình thay đổi tên riêng trong địa danh còn mang ý nghĩa như sự ghi nhận những thăng trầm của lịch sử.

Cầu Trường Tiền

     Cầu qua sông Hương, từ ngã tư Lê Lợi, Hùng Vương ở bờ nam sang đường Trần Hưng Đạo ở bờ bắc. Cầu được xây dựng từ năm 1897 đến năm 1899. Lúc đầu cầu mang tên là cầu Thành Thái do được xây dựng trong những năm vua Thành Thái trị vì. Sau khi vua Thành Thái bị Pháp đày sang đảo Réunion, người Pháp đặt lại tên là cầu Clémenceau, theo tên thủ tướng Pháp thời đó. Sau này cầu lại được mang tên là cầu Trường Tiền vì gần đó, bên bờ bắc có xưởng đúc tiền của quân Trịnh khi quân Đàng Ngoài vào chiếm đóng Thuận Hoá. Tên cầu đã được đi vào ca dao:

Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp

Em qua không kịp tội lắm anh ơi…

     Chợ Đông Ba

     Đây là chợ lớn nhất của Huế, được xây năm 1899 dưới thời vua Thành Thái ở bên bờ sông Hương, về phía tây nam của kinh thành. Thoạt đầu, chợ có tên là Quy Giả thị. Quy Giả nghĩa là “người trở về”, chợ do những người đi tản cư vì chiến tranh loạn lạc trở về lập nên. Thị có nghĩa là “chợ”. Sau đó, chợ lại có tên là Đông Hoa do được đặt ở gần cửa Chánh Đông của kinh thành Huế. Nhưng vì kiêng huý tên bà Hồ Thị Hoa, mẹ vua Thiệu Trị, tên chợ Đông Hoa được đổi tên thành chợ Đông Ba.

     Bến Ngự

     Đây là chỗ nằm hai bên bờ sông An Cựu, với trục bắc nam là đường Phan Bội Châu bây giờ. Hồi xưa các đạo ngự của vua chúa nhà Nguyễn lên đàn Nam Giao để làm lễ đều đậu thuyền ở đây. Vì thế nơi này có tên là Bến Ngự. Địa danh này cũng đi vào lịch sử với “ông già Bến Ngự” là cụ Phan Bội Châu trong thời kì bị Pháp bắt an trí bất đắc dĩ ở đây. Bây giờ những sự kiện lịch sử và con người của Bến Ngự xưa chỉ còn trong kí ức, nhưng tên Bến Ngự vẫn còn đó như một chứng nhân của lịch sử.

     Huế

Huế là thành phố tỉnh lị của Thừa Thiên Huế. Đến nay chưa xác định được nguồn gốc và thời điểm ra đời của từ Huế. Nhưng có hai giả thuyết: Một là, Huế vốn là Hoá trong Hoá Châu, tên một thành cổ thời phong kiến vào thế kỉ XIV – XV, nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt của quân đội nhà Trần và nhà Lê với quân Chiêm Thành, được đọc chệch đi. Hai là, Huế có thể có gốc tiếng Chăm với nghĩa là “hương thơm” hoặc một nghĩa gì khác. Trong các ngôn ngữ Nam Đảo mà Chăm là một thành viên, hiện còn có từ hwe có nghĩa là “song, mây”. Địa danh này đã được đi vào ca dao cùng với sự hình dung thơ mộng, hoà bình về xứ Huế:

Đường vô xứ Huế quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ…

     Sau đây xin dành vài dòng cho địa danh “Huế”:

     Vua Lê Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên nói đến địa danh Huế trong bài văn nôm Thập giới cô hồn Quốc ngữ văn, với câu: ”Hương kì nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vạy then”.

     Những tài liệu sử học cũ ngoại trừ Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu khi nói tới Huế, đều dùng cái tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng tên Huế.

     Bộ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim là bộ sử đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ Quốc ngữ, ngoài nguồn sử liệu truyền thống, tác giả đã sử dụng nguồn sử liệu của phương Tây và tên Huế xuất hiện.

     Trong hồi kí của Pierre Poivre, một thương nhân Pháp đến Phú Xuân vào năm 1749, cái tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué.

     Năm 1787, Le Floch de la Carrière đã vẽ bản đồ duyên hải Đàng Trong cho Bộ Hải quân Pháp, trong đó bản đồ đô thành Huế được vẽ một cách khá rõ và cái tên Huế đã được ghi như cách người Pháp thường viết về sau: HUÉ. Trong một lá thư viết tại Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1789 của Olivier de Puynamel gửi cho Létodal ở Macao, hai lần cái tên Hué được nhắc đến khi nói về tình hình nơi này.

     Năm 1653, khi Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes ra đời, chưa thấy có ghi địa danh “Huế” mà chỉ có địa danh “Thoana, Province de Thoana”. Đến năm 1838, cuốn Dictionarium – Latino – Anamiticum (tome 2), của Taberd mới thấy ghi “Phủ Thừa Thiên, Quảng Đức, Huế” lần đầu tiên. Cũng năm 1838, cuốn Dictionarium Anamitico – Latinum (tome 1) của Pigneau de Béhaine (Évêque d’Adran) ghi “Huế = provincia regia Cocincinae” và “Thuận hoá”.

     4.3. Huế – vùng đất của những danh nhân

     Với vị trí là kinh đô, là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá của cả nước trong những năm thuộc thế kỉ XIX – XX, ngoài các ông vua, bà chúa và triều thần Huế, đây còn là nơi sinh sống và làm việc của nhiều danh nhân như: Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Khoa Đăng, Nguyễn Tri Phương, Phan Bội Châu,… Có thể kể ra ở đây những địa danh gắn với tên tuổi của các danh nhân: lăng Nguyễn Cư Trinh, người đã có công đánh đuổi giặc Chân Lạp, mở rộng đất đai về phương Nam; lăng Nguyễn Tri Phương, vị tướng cả đời chinh chiến vào Nam ra Bắc, lập được nhiều chiến công hiển hách, lăng Phan Bội Châu, nhà chí sĩ với khát vọng giải phóng dân tộc nhưng bất thành… Hoặc trường Quốc Học, cái tên gợi nhớ đến nơi Bác Hồ kính yêu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhiều danh nhân khác đã từng theo học…

     4.4. Huế – vùng đất của tôn giáo

     Thật không quá lời khi nói rằng: Phật giáo luôn hiện diện trong đời sống tinh thần của người dân xứ Huế. Huế có khoảng 100 chùa, trong đó có những ngôi chùa với những địa danh đã trở nên nổi tiếng: chùa Từ Đàm, chùa Từ Hiếu, chùa Thiên Mụ, chùa Huyền Không… Huế thật xứng đáng với biệt danh: “vùng đất của Phật giáo”… Những địa danh gắn liền với tôn giáo thường gợi lên sự thiêng liêng và ước nguyện và có khi cả những huyền thoại, chẳng hạn chùa Vạn Phước với ước mong có được điều tốt lành; chùa Thiên Mụ với câu chuyện bà tiên trên trời xuống giúp con trời (thiên tử)…

     Tại sao Phật giáo lại có ảnh hưởng lên vùng đất này mạnh mẽ đến như vậy? Đó là bởi hai lí do: Thứ nhất, khi Huế còn là một miền đất mới, dân phần nhiều từ miền Bắc di cư vào cùng cộng cư với dân Chiêm Thành. Đến một vùng đất lạ người dân cần có chỗ thờ phụng, để có niềm tin được che chở, để kì vọng vào ngày mai tốt đẹp may mắn hơn, mong gặp may mắn và tránh xa được bất trắc. Thứ hai và chủ yếu là chính nhà nước phong kiến thời đó rất khuyến khích xây dựng chùa chiền nhằm làm yên lòng dân giữa lúc chiến tranh loạn lạc, tức là tìm chỗ dựa tinh thần cho dân chúng.

    Phật giáo vốn đi cùng với lời khuyên vị tha, hướng thiện, luôn hướng con người đến sự khoan dung, hoà hợp cùng thiên nhiên, đất trời. Phải chăng cũng vì vậy mà con người Huế, nhìn bề ngoài khách đến Huế thấy họ có vẻ như an phận, cử chỉ ăn nói nhẹ nhàng, không thích xô bồ ganh đua, như cố tránh những bụi trần tục luỵ. Điều đó thể hiện không chỉ ở lối sống hiền hoà với thiên nhiên mà còn ở cách ứng xử của họ, một phần là tính cách của những Phật tử trung thành với thế giới quan và nhân sinh quan nhà Phật.

     Bên cạnh ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo, những tín ngưỡng dân gian cũng có sức lan toả nhất định ở xứ này. Rất nhiều những công trình được xây dựng với các địa danh phản ánh những niềm tin dân gian của người dân nơi đây: đền Bà Chúa Lá: thờ nữ thần cai quản các loại lá trong rừng và trong vườn; đền Cửu Thiên Huyền Nữ: thờ nữ thần là tổ sư bách nghệ, đặc biệt là nghề mộc; đền Nam Hải Long Vương: thờ vị thần sống dưới biển nhưng lại giúp cho việc làm mưa cho nhân gian… Tên của một số đền thờ khác lại cho thấy sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hoá Chăm và của các dân tộc ít người nơi đây: đền Bà Chúa Ngọc: thờ nữ thần Thiên Y A Na, hiện thân của vợ thần Silva; đền Ông Giàng – Bà Giàng: thờ các vị thần được gọi chung là “Giàng” hay “Yang” (trong tín ngưỡng của người Cơ-tu, Ta-ôi). Nhiều địa danh khác cho thấy sức sống của tín ngưỡng đa thần: đền Hà Bá, đền Âm Hồn, đền Ngàn Thượng Chúa Động, đền Kì Thạch Phu Nhân…

5.

     Huế là một vùng đất còn lưu giữ rất nhiều những di tích văn hoá – lịch sử của Việt Nam qua những thế kỉ xây dựng, bảo tồn và phát triển. Một trong những yếu tố khiến ta nhớ mãi đến vùng đất này là những địa danh văn hoá – lịch sử.

     Điểm đặc biệt nhất ở các địa danh xứ Huế là rất nhiều địa danh gợi nhớ đến những câu chuyện lịch sử vừa vui vừa buồn của dân tộc, cùng những nét văn hoá vừa tâm linh thanh cao lại vừa dân dã.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh – Hãn Mạn Tử, Hán Việt từ điển giản yếu, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2005.

2. Trần Ngọc Bảo, Từ điển ngôn ngữ – văn hoá – du lịch Huế xưa, NXB Thuận Hoá, Huế, 2005.

3. Phạm Thị Dung, Huế qua miền di sản, NXB Thuận Hoá, Huế, 2009.

4. Nguyễn Thiện Giáp – Nguyễn Đức Tồn – Vũ Đức Nghiệu, Sổ tay từ ngữ Hán Việt, NXB Thế giới, Hà Nội, 1999.

5. http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF.

6. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2001.

7. Võ Xuân Trang, Phương ngữ Bình Trị Thiên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977.

8. Viện Nghiên cứu Hán-Nôm, Thơ văn Lê Thánh Tông, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.

9. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 2000.

Xem lại: Âm hưởng VĂN HOÁ _ LỊCH SỬ qua một số ĐỊA DANH XỨ HUẾ (Phần 1)