Tinh thần ĐỐI THOẠI VĂN HÓA qua một số CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VIỆT NAM của Phan Ngọc (Phần 2)

Những đề xuất nghiên cứu của Phan Ngọc, ngoài sự nghiêm cẩn vốn có, chứa đựng nhiều ý tưởng rộng rãi, khoáng đạt, thông thái bất ngờ. Nội dung khoa học trong các cuốn sách của ông, kể cả những ý tưởng chủ quan bị tranh cãi thì cái sai (nếu có) cũng tạo thành cảm hứng cho người ta nghĩ tiếp. Đó chính là tinh thần khai phóng đích thực, vì khai phóng là chuẩn bị cho sự phát triển.

Xem chi tiết

Tinh thần ĐỐI THOẠI VĂN HÓA qua một số CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VIỆT NAM của Phan Ngọc (Phần 1)

Phan Ngọc sở hữu một kiểu phân tích khoa học tài hoa và cá tính. Không chỉ tài hoa và cá tính trong cách nhìn, cách đọc, cách giải mã mà còn trong lối viết. Những cách nói về văn hóa như thế này tuy được sinh ra từ một logic phân tích nhưng nó chưa bao giờ mất đi sự sang trọng của một phát ngôn giàu tư tưởng, có phần tài hoa. Văn nghiên cứu của Phan
Ngọc không khác văn chương những thiên ký sự nghiên cứu

Xem chi tiết

ĐẶC ĐIỂM XƯNG HÔ trong GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Khi khảo sát lời nói hằng ngày của người Việt ở miền Tây Nam Bộ chúng tôi thấy, ngoài cách xưng hô theo các cặp từ xưng hô theo quan hệ thứ bậc, dòng họ (nội, ngoại) trên, người miền Tây Nam Bộ còn thường xuyên sử dụng các từ xưng hô lâm thời trong giao tiếp hằng ngày, mang nét đặc trưng riêng của vùng văn hoá sông nước.

Xem chi tiết

VĂN HÓA ỨNG XỬ của VIỆT NAM với PHÁP trong nửa đầu thế kỷ XIX

Lịch sử văn hóa là tấm gương phản chiếu lịch sử, để chúng ta soi vào đó nhìn thấy những bài học cho thực tại và nhận thức rõ hơn về bản sắc văn hóa của một dân tộc, trong đó lịch sử ngoại giao là một trong những lĩnh vực tiêu biểu, nhất là lịch sử ngoại giao của một quốc gia như Việt Nam thường phải ứng xử với những nước lớn hơn mình rất nhiều.

Xem chi tiết

TRI THỨC BẢN ĐỊA của các TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ – nhìn từ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN (Trường hợp vùng ĐÔNG NAM BỘ) – Phần 2

Trong bối cảnh chung, những cộng đồng tộc người thiểu số thường sống xa trung tâm văn minh, ít có điều kiện tiếp xúc với những tiến bộ của khoa học, nên còn bảo lưu nhiều tri thức truyền thống, mang đậm nét dấu ấn địa phương (tri thức bản địa). Ngoài ra, các tộc người đa số, tuy có điều kiện sớm tiếp xúc với những tiến bộ từ các cộng đồng cư dân khác do giao lưu mà có và cũng có thể do năng lực sáng tạo của chính cộng đồng đó, nhưng vẫn có tri thức bản tồn tại.

Xem chi tiết

TRI THỨC BẢN ĐỊA của các TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ – nhìn từ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN (Trường hợp vùng ĐÔNG NAM BỘ) – Phần 1

Các tộc người trong quá trình phát triển đã tích lũy những tri thức không chỉ góp phần vào sự phát triển chung, mà còn làm phong phú văn hóa trong những điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của khoa học và tiến bộ khoa học đã làm cho tri thức địa phương mất dần vai trò trong đời sống cộng đồng, chỉ còn lại ở dạng tàn dư.

Xem chi tiết

VAI TRÒ của SÀI GÒN – CHỢ LỚN trong nền KINH TẾ NAM KỲ giai đoạn Đầu Thế Kỷ XX đến 1945 (Phần 2)

Thương mại Nam Kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945 chủ yếu là hoạt động theo hướng nhằm phục vụ cho việc xuất khẩu nông sản qua cảng Sài Gòn. Chính vì vậy Sài Gòn – Chợ Lớn trở thành trung tâm thương mại của Nam Kỳ. Nó là đầu mối lưu thông và tập trung hàng hóa của Nam Kỳ để hướng ra thị trường thế giới.

Xem chi tiết

VAI TRÒ của SÀI GÒN – CHỢ LỚN trong nền KINH TẾ NAM KỲ giai đoạn Đầu Thế Kỷ XX đến 1945 (Phần 1)

Vùng đất Nam Kỳ (Nam Bộ ngày nay), trong đó có Sài Gòn – Chợ Lớn (Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), là vùng đất mới khai phá và có lịch sử phát triển khoảng hơn 300 năm. Trên vùng lãnh thổ này, những lưu dân người Việt từng bước di cư vào khai khẩn vùng đất hoang vu này và đã thấy tiềm năng lớn về nông nghiệp với điều kiện tự nhiên thuận lợi nên đã định cư và phát triển. Sài Gòn – Chợ Lớn, miền Đông và miền Tây Nam Kỳ đã từng bước hình thành và phát triển gắn bó với nhau.

Xem chi tiết

“ĐÁ” trong TÂM THỨC của NGƯỜI VIỆT (Phần 1)

Từ thưở hồng hoang, loài người đã biết sử dụng đá để phục vụ cho đời sống. Và một sự thật hiển nhiên là trước khi bước vào giai đoạn đồ kim khí, lịch sử phát triển của xã hội loài người từng trải qua thời kỳ “đồ đá”. Với người dân Việt Nam, từ ngàn xưa, đá có mặt khắp nơi trong đời sống con người.

Xem chi tiết

Đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương (Phần 1)

Đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương được đan hòa trong chính những giá trị vật chất và tinh thần của con người thời kỳ này. Bài viết tập trung phân tích một số biểu hiện trong đời sống thẩm mỹ thông qua đời sống vật chất của người Việt thời kỳ Hùng Vương.

Xem chi tiết

Tiếp nhận VĂN HOÁ ĐẠI CHÚNG của SINH VIÊN VIỆT NAM hiện nay: Phương thức và giải pháp (Phần 1)

Sự tích cực, chủ động tiếp nhận VHĐC của SV chính một phần nhờ vào bối cảnh kinh tế xã hội đặc thù của đất nước trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá. Trong quá trình toàn cầu hóa văn hóa, những đỉnh cao tiến bộ của nhân loại sẽ có sự gặp gỡ, được lan truyền và nhân rộng.

Xem chi tiết

BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG của các DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI ở nước ta. (Nghiên cứu trường hợp dân tộc Chứt)

Người Chứt đứng thứ 13 về dân số trong danh mục các dân tộc thuộc diện rất ít người. Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho dân tộc Chứt định canh định cư, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nên đời sống vật chất của người Chứt có những cải thiện đáng kể. Theo đó, các giá trị văn hóa truyền thống ít nhiều cũng được bảo tồn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn thách thức về công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc này.

Xem chi tiết

VĂN HỌC QUỐC NGỮ NAM BỘ từ cuối thế kỷ 19 đến 1945: Thành tựu và triển vọng nghiên cứu (Phần 2)

Về bộ Tổng tập văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối TK.XIX đến 1945. Theo thống kê của chúng tôi, ở Nam Bộ trước 1945 có đến trên dưới 50 tờ báo, trong đó những tờ báo có đăng tải nhiều về văn học quốc ngữ là: Gia Định báo, Thông loại khóa trình, Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Nam Kỳ địa phận, Công luận báo, Đông Pháp thời báo, Nam Kỳ kinh tế báo, Phụ nữ tân văn, Tân thế kỷ, Kỳ lân báo, Tiểu thuyết Nam Kỳ, Nữ giới chung, Thần chung, Đuốc nhà Nam, Sống, Mai, Nữ lưu, Đồng Nai, Đại Việt tạp chí, An Hà nhựt báo.

Xem chi tiết

Chất HÓM HỈNH trong CA DAO TÌNH YÊU NAM BỘ

 Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. “Dao phay kề cổ, máu đổ không màng; Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông”

Xem chi tiết