Âm hưởng VĂN HOÁ _ LỊCH SỬ qua một số ĐỊA DANH XỨ HUẾ (Phần 1)

Huế nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam và là thành phố tỉnh lị của Thừa Thiên Huế. Đây là cố đô của Việt Nam thời nhà Nguyễn (1802 – 1945) và hiện cũng là trung tâm của miền Trung về văn hoá, chính trị, giáo dục và du lịch. Bài viết này tìm hiểu các địa danh xứ Huế, chỉ ra một số đặc điểm về tính có lí do của chúng. Số lượng các từ ngữ thu thập được là 302 đơn vị. Qua đó, nhằm giúp thấy được phần nào âm hưởng văn hoá – lịch sử xứ Huế được ghi nhận qua các địa danh.

Xem chi tiết

Sự PHÁT TRIỂN của TIẾNG VIỆT trong quá trình TIẾP XÚC NGÔN NGỮ _ Nhìn từ góc độ THỂ HIỆN Ý NGHĨA TIẾP THỤ _ BỊ ĐỘNG

Hiện tượng các cộng đồng ngôn ngữ vay mượn các hình thức hay chất liệu của nhau để làm phong phú thêm các phương tiện biểu đạt của mình ngày càng trở nên phổ biến. Sự phát triển ngày càng phong phú của các phương tiện biểu đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt là một trong những minh chứng đáng tin cậy của quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ. Việc đối chiếu cách diễn đạt ý nghĩa bị động ở tiếng Pháp và tiếng Việt cũng như việc nghiên cứu các bản dịch Pháp-Việt sẽ giúp chúng ta thấy rõ điều này.

Xem chi tiết

Thử đi tìm GIẢI PHÁP cho vấn đề CHUẨN NGÔN NGỮ XƯNG HÔ CÔNG SỞ (Hành Chính)

Đề án về chuẩn văn hoá công sở của Viện Khoa học tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) đã đặt ra hai vấn đề liên quan đến việc xưng hô tại các công sở, cơ quan đơn vị nhằm làm “công việc trôi chảy hơn”. Đó là: 1). Làm thế nào để từ ngữ xưng hô trở nên trung tính?. 2). Làm thế nào để tình thân trong công sở được duy trì?

Xem chi tiết

Tính TRỌNG NGHĨA – Một giá trị đặc trưng của VĂN HOÁ NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ (qua Ca Dao, Dân Ca)

Trong phạm vi văn hoá Việt Nam, càng đi về phương nam tính trọng nghĩa lại được quan niệm khác đi một chút và đến vùng đất Tây Nam Bộ, trọng nghĩa đã trở thành một trong những giá trị quan trọng nhất, trở thành giá trị đặc trưng trong tính cách của con người nơi đây như nhận xét của Trịnh Hoài Đức: “người đủ tính trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dẫu phụ nữ cũng thế” [Trịnh Hoài Đức, 2005: 180]

Xem chi tiết

Một số nét VĂN HOÁ VÙNG MIỀN biểu hiện qua CUỘC THOẠI MUA BÁN ở CHỢ ĐỒNG THÁP

Ngoài các từ xưng hô và từ tình thái nằm trong vốn từ vựng toàn dân, người Đồng Tháp trong giao tiếp mua bán đã sử dụng phần lớn từ xưng hô và từ tình thái có nguồn gốc từ danh từ thân tộc để gắn kết tình cảm, thu hẹp khoảng cách với đối tượng giao tiếp trong mua bán, tạo nên sự thân mật, gần gũi. Ví dụ: “Cá lóc đi nội, nội mua con làm dùm nội!”.

Xem chi tiết

Một số Ý KIẾN của BÌNH NGUYÊN LỘC về ĐẶC TÍNH của TÊN GỌI (Phần 2)

Khi đặt tên, người ta gửi gắm trong tên gọi cách cảm nhận, cách tri nhận sự vật, hiện tượng,… của dân tộc, chủng tộc và gửi gắm cả thói quen, tập quán, phong cách cấu tạo từ của một dân tộc, chủng tộc. Không phải mọi tên gọi đều phản ánh tâm hồn, tính cách, phong cách nhưng một số bộ phận tên gọi đặc thù mang dấu ấn đó rất rõ. Chẳng hạn, trong hai quyển sách ở trên, Bình Nguyên Lộc đưa ra khá nhiều thí dụ về cách gọi tên hồn nhiên, trẻ thơ của tiếng Mã Lai…

Xem chi tiết

Một số Ý KIẾN của BÌNH NGUYÊN LỘC về ĐẶC TÍNH của TÊN GỌI (Phần 1)

Bình Nguyên Lộc (1915-1987), là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ông tên thật là Tô Văn Tuấn, nguyên quán ở Đồng Nai, sinh trưởng trong một gia đình trung lưu. Sự nghiệp sáng tác của ông khá đồ sộ, tập trung ở ba lĩnh vực là: truyện ngắn, truyện dài và khảo cứu. Về truyện ngắn, tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất là Nhốt gió (1950). Về truyện dài, cuốn Đò dọc (1959) của ông được giải thưởng văn chương toàn quốc 1960 (của miền Nam). Về khảo cứu, ông có hai tác phẩm, một về dân tộc học là Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971), một về ngôn ngữ học là Lột trần Việt ngữ (1972).

Xem chi tiết

Dấu ấn VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM qua một số ẨN DỤ Ý NIỆM trong THƠ NGUYỄN BÍNH (Phần 2)

 Những mô hình văn hoá khác nhau sẽ có những cách lựa chọn các bộ phận khác nhau của cơ thể con người để biểu trưng những ý niệm nhất định. Những vị trí chủ đạo trong đa phần các văn hoá tập trung ở vùng bụng, vùng tim và vùng đầu hay cụ thể hơn là vùng não. Theo F. Sharifian et al., ba loại ý niệm hoá này được gọi tên là quan niệm hướng bụng (abdominocentrism), hướng tim (cardiocentrism) và hướng não (cerebrocentrism hay cephalocentrism) [9, tr. 4] như là một kết quả từ quá trình tri giác mang tính nghiệm thân của con người.

Xem chi tiết

Dấu ấn VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM qua một số ẨN DỤ Ý NIỆM trong THƠ NGUYỄN BÍNH (Phần 1)

Xét riêng trong phạm vi nền thi ca Việt Nam, thơ Nguyễn Bính được xem là chứa đựng nhiều giá trị và đặc trưng văn hoá truyền thống nhất và cũng đã được giới học thuật tập trung nghiên cứu. Tuy vậy, đứng từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận để xem xét các ẩn dụ ý niệm trong thơ tác giả này nhằm xác định dấu ấn văn hoá truyền thống là điều còn ít được quan tâm dù là việc làm cần thiết. Mục đích của bài viết là tập trung xác lập một số ẩn dụ ý niệm có miền nguồn là CON THUYỀN và VIỆC DỆT VẢI (vốn là những hình tượng gắn liền với văn hoá truyền thống, được Nguyễn Bính vận dụng thường xuyên với mật độ dày), từ đó cũng chỉ ra một số dấu ấn văn hoá truyền thống chi phối các ẩn dụ này.

Xem chi tiết

“THÀNH NGỮ TÂN THỜI” của GIỚI TRẺ _ Nhìn từ góc độ VĂN HOÁ GIAO TIẾP

Làn sóng toàn cầu hoá đang tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hoá giao tiếp. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp sự xâm nhập ồ ạt của những từ ngoại lai vào tiếng Việt, kéo theo là sự xuất hiện của tiếng bồi, tiếng lóng,… Có thể nói chưa bao giờ giao tiếp bằng ngôn ngữ của giới trẻ lại đa dạng, sinh động và phức tạp như hiện nay. Tiếng Việt đang chứng kiến một hiện tượng vừa quen vừa lạ lẫm, vừa chính thống vừa phi chính thống, gây ra nhiều phản ứng khen chê trái chiều – đó là hiện tượng “thành ngữ tân thời”, hay còn được gọi với những tên khác như thành ngữ a còng, thành ngữ teen, thành ngữ giới trẻ,…

Xem chi tiết

Vài nét VĂN HOÁ trong VĂN HỌC DỊCH và SỰ TIẾP NHẬN CHÚNG trong THỜI KÌ HỘI NHẬP (qua cách chuyển dịch các đơn vị từ ngữ xưng hô trong tác phẩm Gone with the wind và Cuốn theo chiều gió)

Với sự phát triển nhanh chóng của con người và xã hội trong thời kì hội nhập hiện nay, vấn đề văn hoá là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động chuyển dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến vài nét văn hoá được thể hiện trong cách chuyển dịch các đơn vị từ ngữ xưng hô giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt qua tác phẩm Gone with the wind (tác giả Margaret Mitchell) và bản dịch Cuốn theo chiều gió (tác giả Vũ Kim Thư), nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề ngôn ngữ và văn hoá liên quan. Từ đó, rút ra những ứng dụng trong hoạt động chuyển dịch cũng như trong công tác giảng dạy cho người học tiếng.

Xem chi tiết

Bàn về GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG trong QUỐC GIA ĐA TỘC NGƯỜI

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người. Có (những) tộc người vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất này ngay từ thủa ban đầu, có những tộc người từ nơi khác lần lượt di cư đến. Mỗi tộc người đều mang trong mình không ít nét đặc sắc về văn hoá truyền thống – cả vật thể lẫn phi vật thể. Vì thế, Việt Nam là nước đa văn hoá, đa ngôn ngữ: văn hoá Việt Nam là văn hoá đa dạng.

Xem chi tiết

TỈNH LƯỢC và vấn đề VĂN HOÁ GIAO TIẾP trong TIẾNG VIỆT

Trong giao tiếp, người ta cần phải phát ngôn sao cho đủ lời, đủ ý. Thông tin đầy đủ là nguyên tắc đầu tiên, tối thiểu của mọi cuộc hội thoại. Tuy nhiên, không phải lúc nào các phát ngôn đầy đủ cũng cần thiết. Vì nhiều lí do, người nói có thể rút gọn các phát ngôn trong điều kiện và hoàn cảnh cho phép. Nhiều khi chính sự ngắn gọn vừa đủ lại làm cho văn bản (hay diễn ngôn) trở nên mạch lạc và sinh động hơn.

Xem chi tiết

Đặc điểm SỬ DỤNG của UYỂN NGỮ TIẾNG VIỆT (Phần 2)

Trong giao tiếp xã hội, ngôn từ cử chỉ của con người với đối tượng khác giới khá nhạy cảm, do vậy họ thường để ý đến thể diện bản thân và sự uyển chuyển của ngôn từ khi đối diện với những đối tượng khác giới. Nữ giới có xu hướng sử dụng uyển ngữ nhiều hơn nam giới, điều này có lẽ vì trước giờ phụ nữ thường lép vế so với nam giới, do vậy họ thường chú ý đến ngôn từ cử chỉ của mình.

Xem chi tiết

Đặc điểm SỬ DỤNG của UYỂN NGỮ TIẾNG VIỆT (Phần 1)

Năm 1967, nhà ngôn ngữ học người Mĩ H.P.Grice đã chỉ ra rằng trong giao tiếp ngôn ngữ tồn tại một nguyên tắc tổng quát – Cooperative Principle nguyên tắc hợp tác, nhằm giải thích trong giao tiếp ngôn ngữ mọi người đã hợp tác với nhau như thế nào để cho việc giao tiếp được tiến hành thuận lợi. Nguyên tắc hợp tác này được tạo thành từ bốn tiêu chuẩn: Quantity Maxim tiêu chuẩn về lượng; Quality Maxim tiêu chuẩn về chất; Relation Maxim tiêu chuẩn về quan hệ và Manner Maxim tiêu chuẩn về phương thức.

Xem chi tiết

Phân tích SO SÁNH NGỮ NGHĨA THÀNH NGỮ, ĐIỂN CỐ trong TÁC PHẨM của NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU và TRONG TRUYỆN KIỀU của NGUYỄN DU (Phần 2)

Xét về bình diện ngữ nghĩa thành ngữ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu so sánh với ngữ nghĩa thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du còn có nét khác nữa, đó là bộ phận thành ngữ nói về tôn giáo, tín ngưỡng. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng có nói về Phật giáo, về việc Kiều đi tu, về Bạc Bà, Bạc Hạnh, song bộ phận thành ngữ nói về chủ đề này hầu như rất ít. Trái lại trong văn phẩm Nguyễn Đình Chiểu có nhiều hơn. Nhìn chung từ sự tích, nguồn gốc, giáo lí Nguyễn Đình Chiểu thể hiện sự hiểu biết khá sâu sắc về Phật giáo, về sự “an nhiên tự tại” nhưng không vướng vào mùi vị đạo học, về huyền học, về thiền,… mà lại bộc lộ rõ ở ông một thái độ nhập thế chắc chắn, thực tiễn.

Xem chi tiết

Phân tích SO SÁNH NGỮ NGHĨA THÀNH NGỮ, ĐIỂN CỐ trong TÁC PHẨM của NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU và TRONG TRUYỆN KIỀU của NGUYỄN DU (Phần 1)

Trong bài này, để thấy rõ hơn ngữ nghĩa của loại đơn vị đặc biệt (thành ngữ và điển cố) trong văn liệu cổ điển thế kỉ XIX với hai tác giả tiêu biểu thuộc hai thời kì là đầu – cuối thế kỉ này, chúng tôi thử so sánh ngữ nghĩa thành ngữ và điển cố trong Truyện Kiều với thành ngữ và điển cố trong văn phẩm của Nguyễn Đình Chiểu.

Xem chi tiết

Từ “NGỒI” đến “ĐI” hay từ “ỔN ĐỊNH” đến “BIẾN ĐỘNG” trong HỆ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ VIỆT NAM từ TRUYỀN THỐNG đến HIỆN ĐẠI

“Ngồi” và “đi” là hai trạng thái hoạt động của cơ thể, có thể xem là đại diện điển hình cho hai loại hình văn hoá âm và dương, trọng tĩnh và trọng động. Bản chất âm hay dương, trạng thái tĩnh hay động phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, môi trường và khu vực… Phương Đông có truyền thống lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo nên thiên về âm tính, ưa tĩnh; phương Tây có truyền thống kinh tế gốc du mục rồi chuyển sang thương nghiệp, công nghiệp nên thiên về dương tính, ưa động.

Xem chi tiết

Bàn thêm về việc NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ trong MỐI QUAN HỆ với NGÔN NGỮ và TRI NHẬN

Trong những nghiên cứu ngôn ngữ học có liên quan đến vấn đề văn hoá, không nên chỉ khảo sát mối quan hệ “tay đôi” giữa ngôn ngữ và văn hoá, mà phải đặt nó trong cái thế “tay ba”: ngôn ngữ – văn hoá – nhận thức (tựa như: ngôn ngữ – tư duy- thực tại khách quan). Về phương diện lí thuyết, điều này không có gì là mới: từ hai thế kỉ trước nhà bác học Đức W. von Humboldt (1767-1835) đã nhấn mạnh đến việc phải nghiên cứu mối quan hệ ‘tay ba’ này.

Xem chi tiết

ĐẶC TRƯNG CẤU TẠO LỚP ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THĂNG LONG _ HÀ NỘI TK 19 (Phần 2)

Một trong những đặc điểm cấu tạo của thành Thăng Long xưa là tồn tại các cửa ô vốn là các cửa ra vào kinh thành. Theo Trần Huy Bá, tên của các cửa ô được đặt theo tên của các thôn, làng sở tại: ô Yên Hoa, ô Yên Tĩnh, ô Thạch Khối, ô Phúc Lâm, ô Đông Hà, ô Trừng Thanh, ô Mĩ Lộc, ô Đông Yên, ô Tây Luông, ô Nhân Hoà, ô Thịnh Lãng, ô Yên Ninh, ô Kim Hoa, ô Thịnh Quang, ô Thanh Bảo,… Các ô này có thể di chuyển vị trí phụ thuộc vào yêu cầu và điều kiện phòng thủ và cũng có thể đổi tên phụ thuộc vào tên gọi của đơn vị hành chính sở tại.

Xem chi tiết