ĐẶC TRƯNG CẤU TẠO LỚP ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THĂNG LONG _ HÀ NỘI TK 19 (Phần 1)

Khi tiếp cận hệ thống địa danh hành chính Thăng Long – Hà Nội thế kỉ XIX, bên cạnh việc mô tả, phân loại các sản phẩm địa danh, chúng tôi đặc biệt chú ý tới các phương thức cấu tạo địa danh, qua đó tìm hiểu động cơ, mục tiêu và cả phương thức tư duy của chủ thể định danh thuộc triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, khi xây dựng tên gọi cho các đơn vị hành chính.

Xem chi tiết

Một số đặc điểm NGÔN NGỮ trong GIAO TIẾP CÔNG VỤ (Qua văn bản quản lí Nhà Nước) – Phần 2

VBQLNN thường xuất hiện nhiều thuật ngữ, nhưng nếu như trong văn bản khoa học, thuật ngữ có thể là thuần Việt, có thể là vay mượn, thậm chí tuỳ theo ngữ vực, thuật ngữ vay mượn có phần lấn át, thì trong loại văn bản đang khảo sát, không có tình trạng này. Hệ thống thuật ngữ chủ yếu được xây dựng trên cơ sở tiếng Việt, nhiều nhất là các từ ngữ gốc Hán.

Xem chi tiết

Một số đặc điểm NGÔN NGỮ trong GIAO TIẾP CÔNG VỤ (Qua văn bản quản lí Nhà Nước) – Phần 1

Ở đây, giao tiếp công vụ được hiểu là giao tiếp trong công sở, bao gồm cả hình thức diễn ngôn nói và diễn ngôn viết và như vậy có sự đối lập giữa công sở và ngoài công sở. Thực ra, đây cũng chỉ là một cách hình dung, nếu mở rộng phạm vi giao tiếp, coi chúng như những loại hình giao tiếp bình đẳng với nhau thì giao tiếp công vụ chỉ là một trong những tiểu loại hình giao tiếp.

Xem chi tiết

NAM BỘ trong buổi đầu GIAO LƯU với VĂN HOÁ PHƯƠNG TÂY qua TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH (Phần 1)

Người Pháp đến Việt Nam đã gieo mầm ngôn ngữ Pháp tại đây, trước khi đưa vào các giá trị văn hoá khác. Ngôn ngữ Pháp ngày càng phổ biến đã làm thay đổi văn hoá giao tiếp của người Việt. Xưa kia các cụ nhà Nho sính dùng chữ Hán. Với họ, nói năng là phải như “nhả ngọc phun châu”, dùng nhiều điển tích, điển cố, hình ảnh ước lệ, tượng trưng. Quan niệm đó đến lúc này đã lỗi thời. Các trí thức tân học có cách nói năng mới hơn. Như thể khẳng định mình đã theo Tây học, biết tiếng Tây, lớp trí thức tân học thời này thích đan cài chữ Tây vào tiếng Việt khi giao tiếp.

Xem chi tiết

Bước đầu NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ chỉ TRANG PHỤC giữa TIẾNG VIỆT và TIẾNG ANH (Phần 2)

Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, do vậy có những từ được cấu tạo bằng hai thân từ (topcoat, raincoat, tailcoat,…). Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập nên không thể cấu tạo từ bằng phương thức này. Tiếng Việt sử dụng phương thức ghép để cấu tạo từ mới. Với những từ vay mượn chúng thường được ghép bằng cách giữ cách phát âm và thêm trước đó yếu tố chỉ trang phục (áo gi-lê, áo jắc-két, áo ki-mô-nô, mũ calô, mũ cát két,…).

Xem chi tiết

Bước đầu NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU NHÓM TỪ chỉ TRANG PHỤC giữa TIẾNG VIỆT và TIẾNG ANH (Phần 1)

Nhóm từ chỉ trang phục là một bộ phận trong hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ. Việc nghiên cứu đối chiếu nhóm từ chỉ trang phục giữa tiếng Việt và tiếng Anh nhằm mô tả những đặc trưng trong cách định danh từ chỉ trang phục. Từ đó thấy được sự tương đồng và khác biệt về bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa của hai ngôn ngữ này.

Xem chi tiết

TÍNH HIỆN THÂN với việc Ý NIỆM HOÁ các PHẠM TRÙ TÌNH CẢM trong TRUYỆN KIỀU (Phần 2)

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du dùng tâm trong các biểu thức ngôn ngữ (BTNN) như:  tâm phúc tương cờ,  tâm phúc tương tri,  tâm phúc ruột rà để ý niệm hoá tình cảm “yêu”. Đặc biệt, để ý niệm hoá tình cảm “giận”, Nguyễn Du đã sử dụng BTNN lửa tâm. Y học Trung Hoa quan niệm “tâm” là chủ hoả nên lửa tâm là lửa đốt trong lòng.

Xem chi tiết

TÍNH HIỆN THÂN với việc Ý NIỆM HOÁ các PHẠM TRÙ TÌNH CẢM trong TRUYỆN KIỀU (Phần 1)

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các biểu thức ngôn ngữ (BTNN) liên quan đến các bộ phận của cơ thể người, các chất dịch tiết ra từ một số bộ phận cơ thể, giọng nói và phần “hồn” của con người được Nguyễn Du sử dụng để ý niệm hoá 6 PTTC cơ bản là: “yêu”, “ghét”, “buồn”, “vui”, “giận” và “sợ”.

Xem chi tiết

LÀM TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT trong GIAO TIẾP CỘNG ĐỒNG và trong DỊCH THUẬT

Mỗi dân tộc có một tình yêu và niềm tự hào rất đặc biệt mang tính truyền thống, lịch sử và tính hiện đại rất cao. Đó là tình yêu và niềm tự hào về ngôn ngữ của dân tộc mình. Cha ông ta thời xưa đã từng tự hào và yêu thích văn thơ chữ Hán và chữ Nôm. Người Việt hiện đại tự hào và yêu mến chữ Quốc ngữ thân thương của mình tiếp tục phát triển bền vững đến ngày nay.

Xem chi tiết

Một số đặc trưng của THÀNH NGỮ liên quan đến HÌNH TƯỢNG THỰC VẬT trong TIẾNG ANH và TIẾNG VIỆT nhìn từ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ

Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt phản ánh đặc trưng văn hoá, lịch sử của một đất nước và luôn là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trong số những đề tài nghiên cứu về thành ngữ, hầu như chưa có một nghiên cứu phân tích sâu sắc đặc trưng ngôn ngữ của thành ngữ liên quan đến hình tượng thực vật (TNTV) trong tiếng Anh và tiếng Việt trong mối tương quan với đặc trưng văn hoá dân tộc.

Xem chi tiết

VĂN HOÁ GIAO TIẾP của NGƯỜI NAM BỘ qua TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH – MỘT GÓC NHÌN

Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh ngổn ngang sự kiện, đa dạng về thế giới nhân vật cho nên đầy ắp những cuộc giao tiếp. Tuy nhiên, không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thường là không gian nội thất, gắn với cuộc sống gia đình, trong sinh hoạt đời thường. Vì thế, giao tiếp trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, thường diễn ra giữa các thành viên thuộc quan hệ gia đình, hay quan hệ tình cảm cá nhân là chủ yếu.

Xem chi tiết

Góp thêm ý kiến về NGUYÊN DO HÌNH THÀNH NHỮNG TỪ GỌI LÀ TỪ NGẪU HỢP của TIẾNG VIỆT (Phần 2)

Trong quá trình biến đổi lịch sử từ Proto Môn Khmer, qua Proto Vietic cho đến nay, từng diễn ra xu thế và quá trình đơn tiết hoá rất đặc biệt. Đó là xu thế gần như đồng bộ, cho tiền âm tiết rụng đi, chỉ bảo toàn âm tiết chính. Quá trình này đã khiến cho số từ có cấu trúc hình thái CvCVC càng ngày càng giảm đi; và đến ngày nay, chỉ còn lại một số.

Xem chi tiết

Góp thêm ý kiến về NGUYÊN DO HÌNH THÀNH NHỮNG TỪ GỌI LÀ TỪ NGẪU HỢP của TIẾNG VIỆT (Phần 1)

Trong các nghiên cứu về Việt ngữ, những từ như: ba láp, ba trợn, bồ cào, bồ các, bồ cắt, bồ câu, bồ chao, bồ (mồ) côi, bồ đài, bồ hòn, bồ kết, bồ ngót, bù (bồ) nhìn, bồ nông, mồ hôi, cà chớn, cà khổ, cà kheo, cà tàng, chiêm bao,… được xếp vào một loại và gọi là từ ngẫu hợp / từ ngẫu kết với ngụ ý rằng, đó là những từ được tạo thành nhờ các thành tố (âm tiết) kết nối với nhau một cách ngẫu nhiên, không có quan hệ gì với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ âm.

Xem chi tiết

Mấy nét về VĂN HOÁ VIỆT NAM qua CÁC CÂU CHỨA NGHĨA TÌNH THÁI ĐẠO NGHĨA (trên cứ liệu văn bản văn học giảng dạy ở trường THPT) – Phần 2

Qua cách biểu hiện Nghĩa tình thái đạo nghĩa, chúng ta cũng có thể thấy được một số nét đặc trưng trong văn hoá của người Việt, đó là văn hoá giao tiếp. Lối nói của người Việt Nam giàu sức biểu cảm, thiên về tế nhị, ý tứ, tôn trọng người nghe. Đây là sản phẩm của văn hoá trọng tình, trọng các mối quan hệ.

Xem chi tiết

Mấy nét về VĂN HOÁ VIỆT NAM qua CÁC CÂU CHỨA NGHĨA TÌNH THÁI ĐẠO NGHĨA (trên cứ liệu văn bản văn học giảng dạy ở trường THPT) – Phần 1

Nghĩa tình thái (NTT) – bộ phận nghĩa vốn được coi là linh hồn của câu – đã được đông đảo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước bàn tới. Dựa vào ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước, có thể hiểu: NTT của câu là tất cả những gì mà người nói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một câu nói.

Xem chi tiết

Tri thức VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG qua VÍ DỤ của TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT dành cho HỌC SINH TIỂU HỌC (Phần 2)

Việc đưa ví dụ trong các từ điển dành cho học sinh tiểu học là một công việc rất quan trọng nhằm giúp các em nắm được cách sử dụng từ ngữ và thông qua đó tiếp nhận và tự trang bị cho mình những tri thức văn hoá truyền thống của dân tộc và thế giới. Các câu ví dụ có vai trò như là những câu mẫu, từ đó trẻ em biết tạo ra những cách nói chuẩn mực, diễn tả chính xác những suy nghĩ, những nhận thức về nhân sinh quan, thế giới quan của mình.

Xem chi tiết

Tri thức VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG qua VÍ DỤ của TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT dành cho HỌC SINH TIỂU HỌC (Phần 1)

Trong bài viết này, với mối quan tâm về đối tượng người dùng là học sinh tiểu học, xin tìm hiểu sự thể hiện của các tri thức văn hoá truyền thống qua các ví dụ trong một cuốn từ điển tiếng Việt dành cho học sinh tiểu học, cuốn Từ điển giáo khoa tiếng Việt tiểu học. Đây là một trong số rất ít các cuốn Từ điển tiếng Việt dành cho đối tượng người dùng ở lứa tuổi này có đưa ví dụ với số lượng lớn và đa dạng về kiểu loại.

Xem chi tiết

Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG của các TỪ NGỮ thuộc TRƯỜNG TỪ VỰNG _ NGỮ NGHĨA LÚA và CÁC SẢN PHẨM của LÚA trong KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT (Phần 1)

Người Việt thuộc nhóm cư dân trồng lúa nước điển hình ở Đông Nam Á và cũng là chủ nhân quan trọng của nền văn minh lúa nước ở khu vực này. Chính điều này đã để lại dấu ấn một nền văn minh lúa nước đậm nét trong ngôn ngữ Việt, mà rõ nét nhất là hai từ lúa và nước, hai từ này có sự gắn kết với hàng loạt các từ khác với nhiều tầng nghĩa khác nhau, đã làm nên cái phong phú và đặc sắc của chúng mà trong các ngôn ngữ khác không thể tìm thấy được.

Xem chi tiết

Một số nét VĂN HOÁ VIỆT qua THÀNH NGỮ trong TIỂU THUYẾT “MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA” của Nguyễn Khắc Trường

Nguyễn Khắc Trường thuộc thế hệ lớp nhà văn sau thời kì đổi mới. Ông có những đóng góp nhất định cho nền văn học đương đại nước nhà với tiểu thuyết nổi tiếng “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Đến với tác phẩm này, ấn tượng đầu tiên gieo vào lòng mỗi người chính là lớp ngôn từ rất phong phú, sinh động. Bên cạnh lối kể chuyện hấp dẫn, tác giả còn chứng tỏ khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo đặc biệt là việc vận dụng Thành Ngữ.

Xem chi tiết

BẢN SẮC VĂN HÓA của các TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ NÓI NGÔN NGỮ MÔN _ KHƠ-ME ở BẮC TRUNG BỘ trong quá trình HỘI NHẬP VĂN HOÁ HIỆN NAY

Các tộc người Cơ-tu, Ta-ôi, Bru – Vân Kiều ở Bắc Trung Bộ trong những năm gần đây đã diễn ra quá trình hội nhập văn hoá. Bộ mặt làng bản của các dân tộc từng bước thay đổi. Đây là một quá trình hết sức phức tạp. Cái mới, cái tiến bộ không phải lúc nào cũng được đồng bào chấp nhận. Cái cũ, đôi khi không còn phù hợp với điều kiện hiện tại nhưng là nếp nghĩ, lối sống lâu đời của đồng bào, đã bén rễ vào trong tâm thức của từng người, bởi vậy không dễ gì ngày một, ngày hai đã đẩy lùi được.

Xem chi tiết