Đặc trưng VĂN HOÁ GIAO TIẾP của NGƯỜI VIỆT nhìn từ GÓC ĐỘ CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ trong QUẢNG CÁO (Phần 2)

Nói năng vòng vo- Trong đời sống giao tiếp hàng ngày, con người chủ yếu giao tiếp bằng hai cách: cách nói trực tiếp (nói thẳng) và nói gián tiếp (nói vòng). Đây là hiện tượng có mặt trong hầu khắp các ngôn ngữ trên thế giới nhưng mức độ phổ biến của nó còn phụ thuộc vào những đặc trưng văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền. Riêng với người Việt, cộng đồng chịu sự chi phối của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước với tính trội là sự mềm mại của văn hoá sông nước (theo Trần Quốc Vượng, trong Cơ sở văn hoá Việt Nam) cho nên lối nói này rất được ưa chuộng.

Xem chi tiết

Đặc trưng VĂN HOÁ GIAO TIẾP của NGƯỜI VIỆT nhìn từ GÓC ĐỘ CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ trong QUẢNG CÁO (Phần 1)

Trong quan hệ xã hội nói chung, lịch sự là một nhân tố không thể thiếu được để vừa duy trì trật tự công cộng, vừa để thúc đẩy quan hệ tương tác xã hội. Trong quan hệ giao tiếp ngôn ngữ nói riêng, lịch sự là yếu tố rất được coi trọng. Lịch sự trở thành một trong những nguyên lí có ảnh hưởng mạnh mẽ, có tác dụng chi phối cả quá trình cũng như kết quả giao tiếp.

Xem chi tiết

KẾT CẤU VĂN BẢN THEN TÀY (Phần 2)

Kết cấu đối đáp là dạng kết cấu gồm những lời thoại, gồm hai hay nhiều lượt lời trao đáp, tương tác với nhau, do hai chủ thể cùng thực hiện hành động, thường là loại được gọi là “sát hạch gường sở, đối thoại then hài”. Điều này làm cho Lễ hội Dàng then vừa mang tính chất tôn nghiêm của lễ lại hoà quện với cái vui vẻ, đầm ấm của hội: vừa có tụng niệm, vừa có hát múa lại có cả trò diễn.

Xem chi tiết

KẾT CẤU VĂN BẢN THEN TÀY (Phần 1)

Hát then và gảy đàn tính là một trong hai thứ “đặc sản” tinh thần của hai dân tộc Tày và Nùng ở vùng Đông Bắc, chủ yếu là 6 tỉnh phía Bắc: Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà và một phần của Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái. Ngày nay, làn điệu then và cây đàn tính đã theo đồng bào Tày, Nùng vào làm ăn ở một số tỉnh phía Nam.

Xem chi tiết

Đặc trưng VĂN HOÁ ỨNG XỬ của NGƯỜI VIỆT qua TỤC NGỮ (trên tư liệu TIỂU THUYẾT và TRUYỆN NGẮN) – Phần 2

Con người cá nhân trong xã hội Việt Nam trước đây thường chịu sự chi phối của ba quan hệ chính: quan hệ xét trong phạm vi gia đình, quan hệ xét trong phạm vi dòng tộc và quan hệ xét trong phạm vi xã hội. Phần lớn những câu tục ngữ thuộc nhóm này có điểm chung là đều phản ánh lợi ích, giá trị của cá nhân luôn gắn với tập thể, cộng đồng; quyền lợi cá nhân luôn bị chi phối bởi dòng họ trong cộng đồng xã hội nhất định.

Xem chi tiết

Đặc trưng VĂN HOÁ ỨNG XỬ của NGƯỜI VIỆT qua TỤC NGỮ (trên tư liệu TIỂU THUYẾT và TRUYỆN NGẮN) – Phần 1

Trong kho tàng tri thức văn hoá phi vật thể của người Việt, ngôn ngữ là một trong những nhân tố quan trọng, lưu giữ những nét văn hoá đặc thù của người Việt, trong đó có văn hoá ứng xử. Trong các đơn vị của ngôn ngữ thì tục ngữ là những thông điệp phản ánh rõ nhất các quan niệm của người Việt về phép ứng xử trong gia đình và xã hội.

Xem chi tiết

THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ đối với NHỮNG HIỆN TƯỢNG BIẾN ĐỔI trong TIẾNG VIỆT trên MẠNG INTERNET HIỆN NAY (Trường hợp diễn đàn giải trí Kites.vn) – Phần 2

Kết quả phân tích định lượng cho thấy, đối với loại ngôn phẩm có trộn mã và sử dụng tiếng lóng, thái độ của thành viên có xu hướng tích cực hơn hẳn thái độ của khách. Trong đó, những ngôn phẩm có trộn mã được đánh giá là dễ hiểu và gần gũi hơn cả đối với các thành viên.

Xem chi tiết

ĐỊA DANH ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI: Quá trình HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN (Phần 2)

Khi người Pháp mới quy hoạch xây dựng đô thị Hà Nội, các phố mới mở hoặc dự kiến sẽ xây dựng được đánh số (50 phố số trên tổng số 120 phố của năm 1890). Người Pháp xây dựng một số phố tạo thành các trục chính theo hướng đông – tây như đại lộ Gambetta (phố Trần Hưng Đạo), đại lộ Rollandes (phố Hai Bà Trưng), đại lộ Carreau (phố Lý Thường Kiệt) và theo trục Bắc – Nam như đại lộ Henri Rivière (phố Ngô Quyền), đại lộ Đồng Khánh (Hàng Bài), đại lộ Gia Long (Bà Triệu).

Xem chi tiết

THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ đối với NHỮNG HIỆN TƯỢNG BIẾN ĐỔI trong TIẾNG VIỆT trên MẠNG INTERNET HIỆN NAY (Trường hợp diễn đàn giải trí Kites.vn) – Phần 1

Không khó để gặp những từ ngữ kiểu (a) nhể (nhỉ), thik (thích), hồi trc (hồi trước), nhìu (nhiều); wá (quá) hay (b) oppa (anh trai), new (tin), tks (cảm ơn); (c) chủ thớt (người khởi xướng),… trên các diễn đàn giải trí, facebook và mạng internet nói chung hiện nay. Có thể nói, đây là một hiện tượng ngôn ngữ xã hội phổ biến trong sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ thời đại internet. Có nhiều ý kiến xoay quanh ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi này.

Xem chi tiết

Tìm hiểu đặc điểm VĂN HOÁ ỨNG XỬ trong GIAO TIẾP của NGƯỜI VIỆT từ LÍ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người, đồng thời là phương tiện thể hiện tư duy, suy nghĩ của con người, qua đó mà thể hiện đặc điểm tâm lí – văn hoá của dân tộc. Cho nên, việc nghiên cứu văn hoá qua ngôn ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là ở địa hạt từ vựng, chẳng hạn như: mối quan hệ giữa từ ngữ và sự vật được định danh phản ánh cách tri nhận của tộc người này khác với tộc người khác.

Xem chi tiết

MỘT SỐ ĐIỂM có TÍNH CHẤT ĐẶC HỮU về NGÔN NGỮ và VĂN HOÁ VIỆT NAM trong MẠNG TỪ TIẾNG VIỆT: NHÌN Ở GÓC ĐỘ TỔNG QUAN [1 ]

Mạng từ tiếng Việt dự định xây dựng 30.000 loạt đồng nghĩa, với 50.000 đơn vị từ vựng, trong đó có 30.000 đơn vị từ vựng là từ tiếng Việt thông dụng [4, tr. 11]. Mạng từ tiếng Việt ghi nhận ba lớp từ loại là danh từ, động từ và tính từ. Mạng từ tiếng Việt có các quan hệ ngữ nghĩa sau: quan hệ bao thuộc, quan hệ tổng phân, quan hệ cách, quan hệ nhân quả, quan hệ suy ra, quan hệ đồng nghĩa, quan hệ trái nghĩa, quan hệ tương tự và quan hệ vai.

Xem chi tiết

KHOA TRƯƠNG trong CA DAO của NGƯỜI VIỆT (Phần 2)

Bao giờ cho đến tháng ba
_Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
_Hùm nằm cho lợn liếm lông
_Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
_Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
_Con gà nậm rượu nuốt người lao đao
_Lươn nằm cho trúm bò vào
_Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
_Thóc giống cắn chuột trong bồ
_Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu
_Chim chích cắn cổ diều hâu
_Gà con tha quạ biết đâu mà dò
_Lúa mạ nhảy lên ăn bò
_Cỏ lăn, cỏ lác rình mò bắt trâu
_Gà con đuổi bắt diều hâu
_Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

Xem chi tiết

TÌM HIỂU NGÔN NGỮ VĂN HOÁ VIỆT qua các KHUÔN GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

Về thuật ngữ, stereotype hiện có mấy cách dịch sang tiếng Việt: hình ảnh, định kiến, thiên kiến, điển tín, khuôn, khuôn mẫu. Thiết nghĩ, mỗi cách dịch đều cố gắng phản ánh nội hàm của thuật ngữ này. Chúng tôi chọn cách dịch của tiếng Việt cho thuật ngữ này là khuôn hay khuôn mẫu như chúng tôi đã sử dụng trong cuốn Tiếng Việt trong giao tiếp hành chính (2003).

Xem chi tiết

THÀNH NGỮ VIỆT và VĂN HOÁ VIỆT qua TRUYỆN NGẮN của NGUYÊN HỒNG (Phần 1)

 Nguyên Hồng là một trong các nhà văn có quá trình sáng tác liên tục và đã để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, gồm nhiều thể loại khác nhau như: truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí, bút kí và thơ. Nhiều tác phẩm của ông đã rất thành công và góp phần vào những thành tựu rực rỡ cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Xem chi tiết

THÀNH NGỮ VIỆT và VĂN HOÁ VIỆT qua TRUYỆN NGẮN của NGUYÊN HỒNG (Phần 2)

 Nhìn vào thế giới nhân vật trong truyện ngắn, Nguyên Hồng xứng đáng được gọi là nhà văn của những người cùng khổ, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em thuộc các tầng lớp bị áp bức bóc lột trong xã hội cũ. Đây chính là tầng lớp xuất hiện nhiều nhất trên các trang viết và cũng là tầng lớp có ảnh hưởng lớn nhất đến các sáng tác của ông.

Xem chi tiết

Ý nghĩa biểu trưng của DANH TỪ RIÊNG trong THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

Danh từ riêng là lớp danh từ dùng để gọi tên riêng một người, một vật. Nếu như các từ thông thường đều biểu thị một khái niệm nhất định thì các tên riêng không có ý nghĩa khái quát, chúng không hề liên quan đến bất kì một khái niệm nào. Chúng chỉ là những kí hiệu dùng để gọi tên cho một đối tượng cá biệt và đơn nhất.

Xem chi tiết

Một số vấn đề mới trong GIỮ GÌN và PHÁT TRIỂN TIẾNG VIỆT

Về nguyên tắc, cũng như tất cả các sinh ngữ khác, tiếng Việt phải phát triển để đáp ứng nhu cầu diễn đạt nhận thức chung của xã hội đang phát triển, nhu cầu biểu đạt tình cảm ngày càng phức tạp và tinh tế của người Việt. Đặc biệt, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, một loạt hình thức giao tiếp mới ra đời: điện thư, chát, mạng xã hội,v.v. đã kéo theo những dạng giao tiếp ngôn ngữ trước đây chưa từng có.

Xem chi tiết