CÂU ĐỐI trong trường thiên tiểu thuyết lịch sử LÍ TỰ THÀNH của nhà văn DIÊU TUYẾT NGẦN
ĐINH VĂN HẬU1
(TS, Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN)
TÓM TẮT
Ngôn ngữ giàu bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công của trường thiên tiểu thuyết lịch sử Lí Tự Thành. Trong tác phẩm văn học đồ sộ này, tần suất sử dụng nghệ thuật câu đối tuy không nhiều, nhưng nó lại phản ánh đậm nét nhất thứ ngôn ngữ giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Bài viết đi sâu phân tích câu đối được sử dụng trong đoạn đối thoại giữa lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Lí Tự Thành và mưu sĩ Ngưu Kim Tinh, làm nổi bật tài năng và bản lĩnh của một tác gia lớn- Diêu Tuyết Ngần, bởi lẽ: “nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”.
Từ khóa: Ngôn ngữ; câu đối; văn hóa; tư tưởng; Nho học.
ABSTRACT
The ethnic culturally rich language plays a role in making up success ofthe historic novel “Li Zi Cheng”. Theỷrequency ofusingparallel sentences is not in a high level, hoỉvever it reỊlects profoundly the ethnic culturally rich language. Spontaneously Yao Xue Yin has via composing parallel sentences, already shoum readers talent and capability oỊa great writer, since: “if literature is considered the cream of the cake, parállél sentence is considered the cream of the cream”.
Key words: Language; parallel sentence; culture ;ideology; Confucianism.
x
x x
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngôn ngữ và văn hóa luôn gắn bó với nhau mật thiết như hình với bóng, nếu như ngôn ngữ được coi như phương tiện để truyền tải văn hóa thì ngược lại nội hàm văn hóa cũng bao gồm ngôn ngữ trong đó. Ngôn ngữ của tiểu thuyết nói riêng và ngôn ngữ của văn học nói chung, nó không đơn thuần chỉ là công cụ truyền tải văn hóa, cũng không phải là vỏ bọc bên ngoài văn hóa, mà nó hòa quyện với văn hóa, tồn tại song song cùng văn hóa. Đặc biệt trong ngôn ngữ văn học Hán thì sự gắn bó giữa ngôn ngữ và văn hóa thể hiện cực kì sâu đậm. Trường thiên tiểu thuyết lịch sử Lí Tự Thành của nhà văn Diêu Tuyết Ngần cũng không nằm ngoài qui luật đó. Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu tác phẩm văn học đồ sộ này, chúng ta không thể bỏ qua phần nghệ thuật ngôn ngữ. Trong vườn hoa nghệ thuật ngôn ngữ đầy hương sắc đó, nghệ thuật câu đối quả thực là bông hoa tươi thắm nhất, quyến rũ nhất. Được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa Hán, cùng với sự dày công học hỏi tìm kiếm, những câu đối xuất hiện trong tác phẩm văn học này tuy không nhiều nhưng cũng đủ để nói lên vốn hiểu biết sâu sắc về văn hóa dân tộc và tài năng vận dụng ngôn ngữ của ông. Trong khuôn khổ của một bài viết, tôi không thể trình bày hết tất cả các câu đối xuất hiện trong tác phẩm này, chỉ trích dẫn, phân tích một số câu đối để chứng minh cho những nhận định trên.
2. PHÂN TÍCH MỘT SỐ CÂU ĐỐI TRONG TRƯỜNG THIÊN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ “LÍ TỰ THÀNH”
Đoạn đối thoại giữa Lí Tự Thành và Ngưu Kim Tinh là một trong những ví dụ điển hình phản ánh sự gắn bó mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hóa. Sau chiến dịch Đồng Quan, quân khởi nghĩa nông dân do Lí Tự Thành lãnh đạo chỉ còn lại 18 kị sỹ, họ phải chạy vào vùng núi Thương Lạc mai danh ẩn tích, nếm mật nằm gai, chờ thời cơ dựng lại cờ nghĩa. Nếm trải những thất bại cay đắng, Lí Tự Thành cảm thấy nếu chỉ có những tướng quân anh dũng thiện chiến, thiếu chiến lược, sách lược, thì khó làm nên nghiệp lớn. Qua sự giới thiệu của thầy thuốc Thượng Quýnh, Lí lập tức phái người đi đón bằng được Ngưu Kim Tinh. Ngưu cảm tấm lòng chiêu hiền đãi sỹ của Lí, quan sát thiên hạ đại cục bèn tặng câu đối như sau: vế thứ nhất: “đại trạch long phương trập”, vế thứ hai là: “Trung Nguyên lộc chính phì” dịch nghĩa là: (“Rồng còn ngủ yên nơi đầm lớn”) và (“Hươu Trung Nguyên vừa độ béo”).
Trong lúc Thượng Quýnh đang thưởng thức câu đối của Ngưu, nói rằng Ngưu ví sấm Vương đang “trục lộc Trung Nguyên” (tranh quyền cai trị Trung Nguyên) là rất phù hợp, khen Ngưu hết lời. Đúng lúc đó Lí Tự Thành trở về, đọc câu đối, Tự Thành nói với Kim Tinh: “Thưa tiên sinh, vế sau “Trung Nguyên lộc chính phì” rất phù hợp với tình hình hiện nay, còn vế trước “Đại trạch long phương trập” thì không dám ạ. Ngày nay người khởi nghĩa rất nhiều, ngu đệ kém đức vô tài, sao dám sánh với rồng được.”1
Xét từ góc độ nghệ thuật ngôn ngữ, có thể nói đoạn văn trên thể hiện rất sinh động nội hàm văn hóa và bản lĩnh tác gia khi làm chủ tiếng nói của dân tộc mình. Thứ nhất là qua chi tiết này, độc giả thấy được nét sinh hoạt văn hóa rất nho nhã của tầng lớp trí thức bấy giờ. Ngôn ngữ phải phù hợp với vị thế, nguồn gốc xuất thân, trình độ văn hóa của nhân vật, như vậy tiểu thuyết mới thuyết phục được người đọc. Ngưu Kim Tinh xuất thân cử nhân, nhưng không may gặp phải lúc triều đình đổ nát, không những hoạn lộ tối tăm, mà ngay đến “độc thiện kì thân” cũng không xong, bất đắc dĩ gia nhập hàng ngũ nghĩa quân nông dân do Lí Tự Thành lãnh đạo. Gặp Lí Tự Thành, quan sát thấy phong thái và cách trị quân rất nghiêm của Lí, Ngưu nhìn thấy tương lai xán lạn phía trước, bèn hạ bút làm nên câu đối này. Trong nền văn hóa Trung Hoa và một số nước Á đông, rồng là biểu tượng của uy quyền tối cao, tượng trưng cho vua chúa, người được ví với rồng còn cuộn khúc sông sâu, hay ẩn mình nơi đầm trạch có ý là tài năng và đức độ của người ấy hoàn toàn có thể gánh vác giang sơn, chỉ có điều đang chờ thời cơ mà thôi. Một khi thời cơ chín muồi, rồng sẽ bay vút lên làm bạn với mây, biểu tượng của sự thành công và thăng hoa. Lí Tự Thành tuy thua to trong trận Đồng Quan, nhưng ý chí kiên cường bất khuất chiến đấu đến cùng thì không hề mai một, vả lại trong lịch sử đã chứng kiến biết bao nhiêu tấm gương nếm mật nằm gai để rồi có ngày làm nên nghiệp lớn, Việt Vương Câu Tiễn là một ví dụ điển hình. Ngưu ví Lí với rồng ẩn mình nơi đầm trạch vừa thể hiện được nội hàm văn hóa, vừa phù hợp với tình hình thực tiễn lúc bấy giờ. Khi Lí đọc câu đối này chắc hẳn trong lòng vui sướng vô cùng, nhưng Lí lại không dám ví mình với rồng, đó cũng là một nét đặc trưng của văn hóa Trung Hoa. Khi người khác khen mình, người được khen phải tỏ ra khiêm tốn, cũng giống như khi xưng hô thường đề cao người khác và tự hạ thấp mình. Còn vế thứ hai của câu đối này cũng hàm chứa ý nghĩa văn hóa lịch sử sâu xa. Xuất xứ từ một điển tích trong “Sử Kí” Tư Mã Thiên: “Tần thất kì lộc, thiên hạ cộng trục chi.”2 nghĩa là nhà Tần vô đạo, để mất nước, anh hùng hào kiệt trong thiên hạ đua nhau tranh giành quyền thống trị Trung Nguyên thay thế nhà Tần. Ngưu đã khéo léo mượn điển tích này để ví triều đình nhà Minh lúc bấy giờ cũng giống như cuối thời Tần, ngầm khích lệ Lí Tự Thành hãy bền gan vững chí, ắt làm nên cơ nghiệp. Ngoài những ý nghĩa nêu trên, xét đơn thuần về mặt ngôn ngữ, câu đối là đặc sản của ngôn ngữ đơn âm mà tiếng Hán là đại diện tiêu biểu nhất. ” Đại trạch” (đầm lớn) đối với “Trung Nguyên” (bình nguyên ở trung tâm, chỉ lưu vực Hoàng Hà, nơi phát tích của văn hóa Hoa Hạ) nếu như “đại trạch” ám chỉ vùng núi Thương Lạc nơi Lí Tự Thành đang mai danh ẩn tích, ngày đêm thao luyện, đợi hội long vân, thì “trung nguyên” là cả thiên hạ, danh từ đối với danh từ, địa danh đối với địa danh, “long” (rồng) đối với “lộc” (hươu), “phương” (đang) đối với “chính” (đang lúc) phó từ đối với phó từ, “trập” (ngủ đông, náu mình) đối với “phì” (béo) động từ đối với tính từ, chính ở đây thể hiện sự phá cách cũng giống như bản tính của Ngưu Kim Tinh. Ngưu xuất thân cửa Khổng sân Trình, lẽ ra phải phò vua giúp nước, nhưng gặp buổi thiên hạ rối ren, Ngưu không những không phò vua giúp nước mà còn tham gia vào hàng ngũ quân nông dân, chống lại triều đình. Ở đây có một vấn đề cần làm rõ, đó là “nhà Nho” đến thời Minh có thể chia ra làm ba loại. Loại thứ nhất là học hành thi cử đỗ đạt, hoạn lộ hanh thông đó là tầng lớp sỹ đại phu phong kiến, quyền lợi của họ gắn chặt với vận mệnh triều đình phong kiến; Loại thứ hai là học hành thi cử lận đận, tuy có kiến thức nhưng vì nhiều lí do mà không làm quan, ẩn dật nơi thôn dã dạy học, xem tướng số, hay bốc thuốc; loại thứ ba là tuy có làm quan, nhưng do thất sủng, hoặc đấu đá tranh giành mà thua cuộc lui về ở ẩn. Trong tầng lớp sỹ đại phu và nho sỹ lúc bấy giờ, có một bộ phận thoát ra khỏi “tục nho” và “hủ nho”, họ luôn lưu tâm đến thời cuộc, không những tiếp thu tư tưởng nhà Nho, mà còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Pháp gia, nghiên cứu binh pháp, nói chung là họ tương đối thực dụng, một khi gia nhập hàng ngũ quân nông dân, họ sẽ cố gắng dùng tư tưởng của mình để tác động đến lãnh tụ khởi nghĩa, qua đó để đạt được mục đích của mình, Ngưu Kim Tinh là đại diện tiêu biểu trong số đó. Tác giả để Ngưu Kim Tinh ra mắt Lí Tự Thành bằng câu đối như vậy không những phù hợp với địa vị, trình độ học vấn, cá tính của Ngưu, mà nó còn có sự liên tưởng đến câu “Long Trung đối sách” trong “Tam Quốc diễn nghĩa”. Giả sử để cho thầy thuốc Thượng Quýnh tặng Lí Tự Thành câu đối này thì vô cùng khập khiễng, cho nên có thể coi đoạn văn này là “thiên y vô phùng” (đẹp hoàn hảo) chính là ở lẽ đó vậy.
Bài viết tập trung phân tích câu đối này làm ví dụ minh chứng cho “công lực thâm hậu” của nhà văn trong quá trình sử dụng tiếng nói của dân tộc mình. Một nét đẹp trong câu đối là nó phải thể hiện được luật bằng trắc, tạo nên tiết tấu hài hòa, mang vẻ đẹp của âm nhạc. Ví dụ: “Đại trạch long phương trập” (trắc trắc bằng bằng trắc) đối với “Trung nguyên lộc chính phì” (bằng bằng trắc trắc bằng) quả là đối nhau rất chỉnh. Ngoài ra, đoạn đối thoại của sấm Vương với vị mưu sỹ này còn có nhiều lớp nghĩa ẩn sâu trong lớp vỏ ngôn ngữ. Câu đối mà Ngưu Kim Tinh tặng Lí Tự Thành không đơn thuần chỉ thể hiện địa vị, cá tính, trình độ học vấn của Ngưu, mà nó còn nhấn mạnh đến phía tiếp thu, hay thưởng thức câu đối. Nếu không làm như vậy, việc dùng câu đối sẽ phản tác dụng, chẳng khác gì “đàn gảy tai trâu” ! “Ngưu Kim Tinh biết Lí Tự Thành thuở nhỏ có học trường tư, gần đây lại ôn lại “luận ngữ”, “Mạnh Tử”, cho nên trong quá trình nói chuyện đặc biệt chú ý trích dẫn lời nói của Mạnh Tử, để tăng thêm sự chắc chắn cho lập luận của ông ta”.3 Nếu đem câu đối này tặng cho một lãnh tụ nghĩa quân nông dân không biết chữ, chắc hẳn nhà văn đã mắc phải một sai lầm lớn. Cho nên vấn đề ở đây là tác giả đã xử lí quá hoàn hảo “ai nói, nói cái gì và nói với ai”. Thấy Tự Thành chăm chú nghe mình nói, Kim Tinh tiếp lời: “Hơn mười năm nay, thiên hạ khổ vì binh đao, giết tróc, thê tử li tán; điều mà dân chúng ngày đêm mong ngóng là không bị đốt nhà, đàn bà con gái không bị hiếp dâm, trai tráng không bị giết hại, cha mẹ vợ con quây quần bên nhau, cầy cấy trên mảnh ruộng của mình. Ai giải quyết được nỗi lo của dân, thì lòng dân thiên hạ sẽ qui về với người đó. Mạnh Tử nói ‘nhân giả vô địch’, chính là lẽ này”.4 Đoạn trích dẫn trên cho ta thấy, Ngưu Kim Tinh muốn dùng tư tưởng dân bản của Mạnh Tử để thuyết phục Lí Tự Thành “điếu dân phạt tội” (vỗ về nhân dân lao khổ, trừng trị kẻ có tội). Tư tưởng dân bản của Mạnh Tử có thể nói là vầng hào quang chói lọi trong học thuyết Nho giáo mấy ngàn năm. Điều kiện lịch sử, nguồn gốc xuất thân chỉ cho phép Ngưu Kim Tinh dùng tư tưởng Mạnh Tử để thuyết phục Lí Tự Thành. Tư tưởng dân bản của Mạnh Tử tuy có nhiều điểm sáng, nhưng căn cốt của nó là “bảo quân an dân” (củng cố địa vị thống trị của các bậc vua chúa), hay nói cách khác là “an dân dĩ bảo quân”. Tuy Mạnh Tử tiến bộ hơn Khổng Tử rất nhiều, nhưng ông cũng không tán thành việc phế bỏ vua, mà ông chỉ tán thành phế bỏ những ông vua vô đạo mà thôi. Ngoài ra, trong lời khuyên của Ngưu Kim Tinh, vẫn còn âm vang đâu đây “ý tại ngôn ngoại” của chính tác giả. Lời khuyên của Ngưu Kim Tinh với Lí Tự Thành, cũng là lời khuyên của Diêu Tuyết Ngần với các lãnh tụ nông dân đương thời như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình, rằng giành giang sơn đã khó, giữ vững giang sơn còn khó hơn nhiều. Nhưng nếu được lòng dân, thì chẳng có gì có thể ngăn cản được, đó chính là “nhân giả vô địch”!
KẾT LUẬN
Câu đối là thể văn biền ngẫu mà chỉ có ngôn ngữ Hán và số ít ngôn ngữ Á Đông mới có. Có thể nói, làm câu đối, chơi câu đối, là một loại hình sinh hoạt văn hóa khá phổ biến ở Trung Quốc. Tuy nhiên, làm câu đối đạt đến trình độ nghệ thuật cao thì không phải ai cũng làm được, tương tự người biết thưởng thức câu đối cũng không nhiều. Trong trường thiên tiểu thuyết lịch sử Lí Tự Thành, Diêu Tuyết Ngần không hề lạm dụng loại hình nghệ thuật này, mà chỉ sử dụng nó như những nét chấm phá nghệ thuật, tô điểm thêm cho thế giới nghệ thuật vốn đã vô cùng phong phú và đa dạng. Câu đối của Ngưu Kim lĩnh tặng lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Lí Tự Thành đã phản ánh được bản lĩnh của tác giả Diêu Tuyết Ngần khi ông hoàn toàn làm chủ được ngôn ngữ của dân tộc mình.
___________
1 Diêu Tuyết Ngần: “Lí Tự Thành”, trang 714,715, tập 1, quyển hạ, Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc, 1977.
2 Tư Mã Thiên: “Sử kí”, “Hoài Âm hầu liệt truyện”, câu này trực nghĩa là: nhà Tần để mất hươu, thiên hạ cùng đuổi bắt nó. Nghĩa bóng là: nhà Tần vô đạo, để mất thiên hạ, anh hùng các lộ trong thiên hạ đua nhau giành lấy quyền cai trị.
3 Diêu Tuyết Ngần: “Lí Tự Thành”, trang 719, tập 1, quyển hạ, Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc, 1977.
4 Diêu Tuyết Ngần: “Lí Tự Thành”, trang 719, tập 1, quyển hạ, Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc, 1977.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn: VNU Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Ban Tu Thư (thanhdiavietnamhoc.com)