Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Diện mạo đô thị Huế thế kỷ XVII-XVIII qua sự mô tả của một số nhân chứng người nước ngoài (Phần 1) - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Diện mạo đô thị Huế thế kỷ XVII-XVIII qua sự mô tả của một số nhân chứng người nước ngoài (Phần 1)

Tác giả bài viết: Thạc sĩ PHAN THANH HẢI
(Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế)

     Thế kỷ XVII-XVIII, Huế đã đóng vai trò trung tâm chính trị của Đàng Trong. Nhiều đời chúa Nguyễn chọn đóng thủ phủ và từng bước kiến tạo Huế trở thành một đô thị hàng đầu về mọi mặt của phương Nam trong thời kỳ đất nước bị chia cắt do hai thế lực phong kiến Trịnh- Nguyễn. Có thể nói đây là giai đoạn lịch sử rất quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển của đô thị Huế. Giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XVII-XVIII, cũng là giai đoạn mà Đàng Trong có mối quan hệ giao lưu quốc tế rất phát triển, rất nhiều người nước ngoài đã đến Đàng Trong để làm việc, buôn bán, truyền giáo, tỵ nạn chính trị… Và một số người trong số họ đã để lại những ghi chép mô tả về Đàng Trong hết sức quý giá. Một số công trình trước đây viết về Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn đã ít nhiều sử dụng các tài liệu này, nhưng chưa đầy đủ hoặc thiếu tính hệ thống. Trong bài viết dưới đây, qua việc tổng hợp và sắp xếp những mô tả của một số nhân chứng người nước ngoài về đô thị Huế hồi thế kỷ XVII-XVIII.

     Có thể nói, tại khu vực Huế trong các thế kỷ XVII-XVIII, nếu nói về địa điểm xây dựng trung tâm đô thị thì chỉ có 2: Kim Long và Phú Xuân, nhưng trên thực tế lại có đến mấy lần quy hoạch và kiến thiết đô thị: Thời kỳ thủ phủ Kim Long (1636- 1687), thời kỳ thủ phủ Phú Xuân lần thứ nhất (1687-1712), thời kỳ Đô thành Phú Xuân (1738-1775) và thời kỳ Kinh đô Phú Xuân của triều Tây Sơn (1786-1801). Trừ thời kỳ sau cùng thuộc triều Tây Sơn về cơ bản vẫn kế thừa nguyên vẹn đô thành cũ của họ Nguyễn, các thời kỳ trước đó đều có những đặc điểm riêng về lịch sử; quy hoạch và kiến trúc. Trong bài viết này, để tiện cho sự theo dõi, chúng tôi sẽ dẫn lời mô tả của các nhân chứng theo trình tự thời gian về Huế trong những thời kỳ đóng vai trò là thủ phủ của họ Nguyễn.

1. Thủ phủ Kim Long

     Năm 1636, vị chúa Nguyễn đời thứ 3- chúa Nguyễn Phúc Lan bắt dầu xây dựng thủ phủ Kim Long bên bờ sông Hương, gần dưới chân chùa Thiên Mụ. Quá trình đô thị hóa vùng Huế bắt đầu. Chỉ trong một thời gian ngắn, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Đàng Trong cùng chính quyền chúa Nguyễn, thủ phủ Kim Long được xây dựng thành một đô thị lớn của vùng đất phía Nam.

     Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1593- 1660) là một trong những người nưóc ngoài gắn bó với đất Đàng Trong. Trong giai đoạn 1624-1645, ông đã đến truyền giáo ở Đàng Trong nhiều lần. Rất nhiều thông tin quan trọng về tình hình Đàng Trong lúc bấy giờ được ông cung cấp trong tập hồi ký Hành Trình và Truyền Giáo. Nhiều phần trong tập sách này trước đây đã được linh mục L. Cadière giới thiệu trong các khảo cứu của ông; gần đây, dịch giả Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên đã chuyển ngữ toàn văn tập hồi ký trên sang tiếng Việt và được Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1994.

     Theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes, phủ Kim Long là một “thành phố lớn”, nằm sát bờ sông, trước mặt có bến sông lớn (cảng). Phủ chính của chúa nằm ở vị trí trung tâm. Trước mặt phủ có sân rất rộng (sân Đại triều) đủ chỗ cho hàng ngàn binh lính đứng xếp hàng mỗi khi thiết triều. Trước mặt phủ còn có chuồng nuôi voi ngựa dành riêng cho chúa, ở bên ngoài phủ, gần bờ sông có bãi đất rộng nơi quân lính của chúa thường tổ chức tập trận (Bãi tập này sách Đại Nam thực lục, tiền biên gọi là Trường bắn Vạn Xuân, nơi đây mùa Hạ năm 1681, chúa Nguyễn Phúc Tần từng cho đắp sửa con dường nối từ xã Vạn Xuân về đến quán Thanh Kệ xã Triều Sơn để kỵ binh tập luyện). Bên trong khu vực phủ, ngoài phủ chính của chúa và các đơn vị quân đội, còn có các dinh thự của những người thân tộc và quan lại. Đặc biệt, Alexandre de Rhodes còn mô tả tại đây có một ngôi nhà thờ Ky tô giáo rất rộng và đẹp nằm trong khuôn viên tư dinh một “bà hoàng, dì của chúa” (Bà này có tên thánh là Maria Madalena. Cadière cho rằng, bà là Minh Đức Vương thái phi- vợ chúa Nguyễn Hoàng). Nhà thờ này tồn tại đến năm 1645 và là nơi chứa chấp các giáo dân trong những lần chúa Nguyễn cấm đạo Ky tô. Năm 1645, ngôi nhà nguyện này bị chính người con trai bà Maria, hoàng tử Khê-chú của chúa Nguyễn Phúc Lan – phá bỏ do mâu thuẫn giữa chúa Nguyễn với Ky tô giáo. Linh mục L.Cadière cho rằng, ngôi nhà này được làm theo lối kiến trúc nhà Rường truyền thống Huế, có thể chứa được ba trăm người (1). Bộ mặt kiến trúc và các sinh hoạt của thủ phủ Kim Long được vị giáo sĩ mô tả khá ngắn gọn: “…triều đình rất đẹp và có rất nhiều quan chức. Họ ăn vận rất lộng lẫy, nhưng điện dài không đồ sộ, vì họ chỉ xây cất bằng gỗ, tuy nhiên cũng rất tiện lợi và rất đẹp, vì có cột chạm trổ tinh vi” (2). Nhưng khi tường thuật một buổi tiếp đón của chúa đối với một phái đoàn người Tây Ban Nha (3) thì Alexandre de Rhodes lại cho chúng ta những cảnh tượng thật sinh động tại khu vực phủ chúa:

     “Lúc đó vào khoảng hai giờ chiều, các bà tới, vẫn che mặt, có hai cha dòng một thuyền trưởng người Tây và chừng năm mươi binh sĩ hộ vệ. Binh sĩ đều mặc quân phục chỉnh tề và có sự trịnh trọng nghiêm túc của một quốc gia. Chúa chờ, dựa vào cửa sổ trông ra sân trong dinh; chúa bà thì ở trong một lầu cạnh chúa. Người ta trang hoàng trong phòng một góc căng thảm và trang trí rất đẹp, để các nữ tu có thế “ra mặt” mà không ra mắt trước toàn phủ chúa.

     “Chúa và chúa bà thắng y phục rất lộng lẫy; các quan trong nước đều tới ứng trực. Lính gác chừng bốn ngàn, chia thành bốn đạo binh, mỗi đạo mỗi ngàn, xếp hàng gác trong nhiều khu, nhưng không gác những nơi có chúa, chúa bà và nơi các nữ tu. Hai đạo binh gác gần nhất mặc áo dài hàng hoa tím, có giải vàng ở trước bụng. Hai đạo binh khác thì mặc áo choàng màu đen, tất cả đều đeo kiếm thiếp bạc óng ánh. Họ đứng thành hàng ngũ, không động đậy, không một tiếng.

     “Nghi thức bắt đầu bằng một bữa ăn nhẹ bày trên mấy bàn tròn sơn son thiếp vàng. Mỗi người một bàn, có nhiều món thịt rất ngon trình bày rất vương giả. Chúa mời ngồi vào bàn và xin các nữ tu thưởng thức. Trong bữa ăn có đám vũ nữ nhảy múa và các ông người Tây thú nhận ở nước các ông cũng chẳng hơn và có khi còn kém.

     “Cuộc đàm đạo kéo dài tới mấy giờ đồng hồ, trong khi đó có diễn trò chơi theo thói xứ này, với tất cả sự huy hoàng đế vương. Đêm tới, chúa cho thắp rất nhiều đèn trong phủ, rồi khi tan cuộc, chúa truyền cho binh sĩ tiễn đưa các nữ tu và người Tây. Tất cả đều cảm tạ chúa về những ưu đãi đặc biệt, rồi trở về thuyền chiến là nơi an toàn nhất.

     “Sáng hôm sau, chúa sai đem quà tặng, đặc biệt nhiều thứ mứt kẹo rất tinh xảo, rồi cho phép người Tây lựa một nhà ở trong thành lũy tùy ý. Viên quan tòa để cho thuyền trưởng người Tây trọ trong tư dinh cùng hai sĩ quan, còn binh sĩ thì dành cho một nhà rất rộng với đầy đủ tiện nghi.

     “Cuộc thao diễn thứ nhất là một trận thủy chiến hai mươi thuyền chiến thiếp vàng lượn nghìn kiểu trên sông lớn của tỉnh này. Chính chúa cũng ở trong một thuyền rất lộng lẫy. Chúa cũng thao diễn cùng mấy quan lớn trong phủ. Trong khi đó hoàng tử cùng người em biểu diễn trong một cánh đồng rộng lớn ở gần đó. Cả hai cưỡi ngựa trang hoàng đẹp đẽ. Như vậy, người Tây được dự cùng một lúc cả hai cuộc thao diễn, trên đất và trên sông. Họ thú nhận chưa bao giờ được thấy cảnh đẹp đẽ như vậy.

     “Ngày hôm sau, chúa cho xem một cuộc thao diễn khác. Tất cả có mười lăm thuyền chiến trên sông: có thuyền thếp vàng, có thuyền sơn son màu lửa, chúa ngự trên ngai đặt ở bờ sông có hai ngàn binh sĩ hai bên, tất cả đều mặc nhung phục như nhau, cùng mang võ khí như nhau. Thuyền chiến thì cứ một cặp ba chiếc, thẳng hàng ngay lối, không để lọt một đốt ngón tay, tiến lui đều đặn cả trong khúc vòng cũng vậy, điều hòa rất mực.

     “Ngày thứ ba, chúa muốn cho người Tây thấy một nghi lễ chúa cử hành để tôn thờ vong linh tiên tổ trong sân phủ chúa. Tất cả binh sĩ đều chỉnh tề túc trực, chừng sáu ngàn. Tất cả đều vận nhung lụa đỏ sẫm, mũ mạ vàng và súng Muskê bóng loáng. Các tướng lãnh chỉ huy đạo binh, ai nấy đều đứng trong hàng ngũ như thể phải đi trận.

     “Đó là ban sáng. Chúa còn muốn cho người Tây thấy một trận thủy chiến, với mười tám thuyền chiến lớn hơn những thuyền đã thấy mấy ngày trước. Suốt buổi chiều là cuộc thao diễn này” (4).

     Thật hiếm có tài liệu nào trong giai đoạn này lại có sự mô tả sinh động như những lời tường thuật trên. Thủ phủ Kim Long của hơn 350 trước dường như đang hiển hiện trước mắt chúng ta qua từng lời kể của một giáo sĩ người Âu nhưng rất am hiểu văn hóa Việt. Điều này cũng khác hẳn những ghi chép khá sơ sài, đơn điệu của các tư liệu cổ Việt Nam trong giai đoạn này. Đáng lưu ý thêm trong lời tường thuật của Alexandre de Rhodes là thủ phủ Kim Long có vòng thành lũy bao bọc (phái đoàn người Tây Ban Nha được lựa chọn nhà ở trong thời gian lưu trú tại đây nhưng phải ở bên trong vòng thành lũy này). Quy mô thủ phủ rất lớn, bên trong được phân chia làm nhiều khu với nhiều phủ đệ dinh thự của các thân vương, quan lại. Bà Maria (Minh Đức Vương Thái Phi (?) ở trong một phủ rộng đến mức nhiều đêm Giáo sĩ Alexandre de Rhodes vẫn đến đây làm lễ rửa tội cho hàng chục người trong đại gia đình hà mà quân lính canh gác trong phủ chúa vẫn không hay biết gì (5).

     Cuộc sống trong khu vực thủ phủ tỏ ra rất giàu có, xa hoa. Chúa ở trong những dinh thự chạm trổ cầu kỳ, đãi khách thì món gì cũng có. Ngay nhà ở của các quan lại cũng rộng rãi và tiện nghi đủ sức làm hài lòng các vị khách Tây Ban Nha. Như vậy, chỉ trong một thời gian khá ngắn, chúa Nguyễn Phúc Lan đã xây dựng Kim Long trở thành một thành phố-thủ phủ quy mô và giàu có bậc nhất của Đàng Trong.

     Giáo sĩ Bénigne Vachet thuộc Hội Thừa sai Paris từng đến và trú ngụ ở Đàng Trong từ năm 1671 đến năm 1685, trong thời chúa Nguyễn nhiều lần đến Thuận Hóa và viếng thăm khu vực phủ chúa tại Kim Long. Ông cũng là người có những ghi chép rất chi tiết về thủ phủ Kim Long. Theo mô tả của Bénigne Vachet, thủ phủ Kim Long có một lực lượng quân đội rất lớn luôn được luyện tập tốt và đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt, ông còn mô tả rất cặn kẽ sự bố trí nhà cửa, nhất là nhà cửa, doanh trại của binh lính bên trong phủ Kim Long:

     “Quân lính không hề lẫn lộn trong dân chúng, mỗi ngưồi lính có một căn nhà riêng nhỏ, gồm một cái sân, một phòng ngủ, một nhà bếp và một cái vườn nhỏ; nhà nọ chỉ cách nhà kia bằng một hàng rào chung quanh; nhà ở của các tướng rộng và to hơn, nằm đầu hay nằm cuối dãy trại lính này. Phía đối diện lại một lượng nhà như thế, chỉ cách nhau có 15 bộ; phần này tạo thành một con đường không hề có sự khác nhau nào; phía bên kia là đồng ruộng và không có ai ở đó…”(6).

     Cách thức tập luyện bắn súng của quân đội chúa Nguyễn cũng được Bénigne Vachet miêu tả khá sinh động:

     “Đúng 9 giờ, toàn bộ đội binh, không có kiếm nhưng có súng, đến dưới một hành lang có mái ở phía bên kia ngôi nhà cuối cùng của đường nhìn ra cánh đồng: đó là để người này sau người kia bắn 4 phát súng cách điểm bắn 300 bước chân. Các mô bắn hình vuông, đường kính khoảng 10 mét, ở giữa có một cái bia bắn làm như bia của chúng ta (ý nói người phương Tây-PTH) nhưng bề cao lớn hơn bề rộng, chấm đen nằm ở giữa chỉ rộng 4 lóng tay; tất cả mọi phát súng bắn trúng điểm đen sẽ được kịp thời ban thưởng…”(7).

     Giáo sĩ Bénigne Vachet còn cho biết thêm một số thông tin về hoạt động của binh lính bên trong phủ chúa:

     “Người ta dùng binh lính để sửa chữa lại các con đường lớn và xây dựng lại các ngôi nhà của chúa và các tưởng sĩ của họ; ngoài ra còn có một phần ba canh gác suốt đêm tại các hành lang của thủ phủ; họ được chia ra từng toán gác từ khu này sang khu khác, và mỗi toán lính gác có một cái chuông tiếng khác nhau và theo hiệu lệnh ban ra mỗi canh từ trong cùng của thủ phủ, từng canh đều răm rắp, các chuông bắt đầu từ cái nhỏ nhất và cuối cùng là cái lớn nhất, đánh số tiếng chuông theo các khắc đã trôi qua…”(8). Như vậy, việc bố trí và sinh hoạt trong phủ Kim Long vẫn mang tính quân sự rất đậm nét. Doanh trại, nhà ở của binh lính và tưống lĩnh được bố trí thành hệ thống chặt chẽ để bảo vệ phủ chúa. Có lẽ đối vởi chúa Nguyễn Phúc Tần, việc bảo vệ an toàn cho đầu não của Đàng Trong còn quan trọng hơn nhiều so với việc xây dựng nó trở nên xa hoa lộng lẫy. Nhưng điều đáng chú ý ở đây là dù đã được gia tăng mức độ quân sự hóa, thủ phủ Kim Long vẫn giữ nguyên quy hoạch ban đầu theo lối đô thị-nhà vườn. Điều này khiến cho bố trí kiến trúc thủ phủ này vừa thể hiện tính ngăn nắp, đăng đối rất cao vừa mang đặc trưng của kiểu kiến trúc nhà vườn, dù ở quy mô nhỏ là nhà ở của binh lính.

2. Thủ phủ Phú Xuân lần thứ nhất (1687-1712)

     Năm Đinh Mão (1687), sau hơn 50 năm tồn tại ở Kim Long, thủ phủ các chúa Nguyễn được di chuyến vị trí, chuyển về đất làng Phú Xuân cách đó khoảng 3km về phía Hạ lưu sông Hương.

     Một trong những nhân chứng người nước ngoài có mô tả về phủ Phú Xuân trong thời kỳ này là vị hòa thượng người Quảng Đông rất nổi tiếng: Thạch Liêm Thích Đại Sán. Năm 1695, hòa thượng Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến Đàng Trong đó “hoằng dương chánh pháp”. Ông đã từng ở Phú Xuân cả tháng trời và khi về nước, các ghi chép về chuyến đi của vị hòa thượng uyên thâm văn học này đã được thể hiện trọn vẹn trong tập hồi ký Hải ngoại kỷ sự.

     Những mô tả về phủ Phú Xuân của Thích Đại Sán không thật tỉ mỉ nhưng cũng tạm đủ để ta hình dung được về diện mạo vòng thành bảo vệ bên ngoài:

     “Sắp đến vương phủ, mênh mông không có thành quách, chung quanh trồng tre gai làm rào, trong tre cất một hàng trại lợp bằng cỏ tranh; mỗi trại đều có đặt súng đồng, nặng từ vài trăm cân đến vài nghìn cân, đúc rất tinh xảo, khảm châu sa phỉ thúy, văn vẻ sáng ngòi… Sau trại súng lại có hàng rào tre gai, phía trong có vòng tường thấp, rộng chừng một hai dặm, vương phủ ở trong ấy”(9).

     Ngoài sự mô tả của Thích Đại Sán hầu như đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào của người nước ngoài có viết về phủ Phú Xuân trong giai đoạn đầu. Năm 1712, chúa Nguyễn đã tạm bỏ đất Phú Xuân để đi xây dựng một thủ phủ mới tại làng Bác Vọng bên bờ sông Bồ, thuộc huyện Quảng Điền. Tuy nhiên, phủ cũ Phú Xuân vẫn được giữ lại và vẫn được sử dụng trong thời kỳ sau.

     Trong những mô tả vê’ đô thành Phú Xuân của một vị tu sĩ Tây phương, cha Koffler, người đã từng được chúa Nguyễn Phúc Khoát sử dụng làm thầy thuốc riêng của mình, có một chi tiết khá quan trọng nhưng hình như chưa mấy ai chú ý. Ông nói rằng, ngoài phủ chính của chúa Nguyễn Phúc Khoát thường ở (mà ông đã mô tả khá chi tiết), vị chúa này còn có 3 phủ khác nữa. Đó là một cái phủ mùa Đông xây ở bờ sông đối diện, một phủ dành cho các bà vợ góa của các đời chúa trước ở và thờ tự người thân của họ và đặc biệt là một cái phủ rất xưa có các bờ tường vững chắc, dùng làm kho tàng của chúa. Cái phủ thứ ba này cũng nằm trên Vương đảo và chỉ cách phủ chính độ 200 bước chân. Như vậy ngoài hai cái phủ đầu (hẳn là phủ Dương Xuân-phủ ở bờ sông đối diện và phủ Kim Long-phủ dành cho việc thờ tự), thì cái phủ “rất xưa” thứ 3 chắc chắn chỉ có thể là thủ phủ Phú Xuân còn lại thời chúa Nguyễn Phúc Thái. Điều đáng tiếc là Giáo sỹ Koffler lại không nói rõ phủ này nằm ở phía nào của phủ chính. Theo sự mô tả của ông, chúng ta chỉ biết thủ phủ Phú Xuân có vòng tường rất chắc chắn bao bọc (10).

     Còn tiếp. Kính mời Quý độc giả đón xem phần 2:

Diện mạo đô thị Huế thế kỷ XVII-XVIII qua sự mô tả của một số nhân chứng người nước ngoài (Phần 2) – ĐÔ THÀNH PHÚ XUÂN (1738-1775)

Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử, số 4, năm 2006

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)