Góp phần tìm hiểu TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU của cư dân Bến Tre

     Bến Tre là tỉnh châu thổ nằm sát biển thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Với diện tích 2.357,7km2, dân số 1.258.500 người, phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long và phía đông giáp biển với chiều dài 65km, Bến Tre được hợp thành bởi ba cù lao lớn là cù lao Minh, cù lao An Hoá và cù lao Bảo, do phù sa của sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên bồi tụ nên. Nhiều thế kỉ qua, những lớp cư dân thuộc các tộc người Việt – Hoa – Khơ-me đã chọn Bến Tre làm nơi sinh tụ, họ đã chung tay khai thác và xây dựng nên mảnh đất Bến Tre trù phú như ngày nay.

1. Đôi nét về tín ngưỡng thờ Mẫu của người dân Bến Tre

     Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh cho rằng, Bến Tre “đất đai rộng, người hào-hiệp, siêng nghề- nghiệp, hay bố-thí, tánh cứng thẳng, thích điều nghĩa, dũng-cảm, siêng việc công,… hay tụng kinh lễ Phật, chuộng Thần-Thánh, tin đồng bóng cúng lễ, ưa đãi khách không kể tổn phí, hay dùng cô đồng múa hát (bóng rỗi) lấy làm vui thú” [9, tr. 108]. Điều đó cho thấy người dân Bến Tre “hay tụng kinh, chuộng Thần thánh, tin đồng bóng lễ cúng” bởi phần lớn họ sống bằng nông nghiệp, ngư nghiệp nên họ phải luôn cầu mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, mang lại cuộc sống no đủ,… Do đó họ luôn tin tưởng và kì vọng vào sự bảo vệ, độ trì của những vị thần để có thể giúp họ vượt qua mọi tai hoạ hiểm nghèo [10, tr. 908] mà thần Mẫu là vị thần rất gần gũi và có vai trò vô cùng quan trọng.

     Theo số liệu của cuộc tổng điều tra và khảo sát điền dã năm 2004, toàn tỉnh Bến Tre có khoảng 217 miếu thờ Bà, tập trung nhiều nhất ở huyện Thạnh Phú (45 miếu), kế đến là Ba Tri (43 miếu), Giồng Trôm (42 miếu), Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam (32 miếu),… [4, tr. 29]. Những vị thần Mẫu được thờ tự riêng hoặc được phối thờ trong các đình, miếu như: Bà Chúa Xứ, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành Nương Nương,…

     Về nguồn gốc của tục thờ Mẫu, Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng, đây là “một tín ngưỡng bước đầu thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước, một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng hoá mà Mẫu chính là biểu tượng cao nhất”. Và ông cho rằng, Đạo Mẫu “thoát thai từ đạo Thờ Thần và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đạo giáo Trung Quốc, Đạo Mẫu với tư cách là một biến thể của Đạo giáo Việt Nam đã và đang thâm nhập và ảnh hưởng tới các tín ngưỡng tôn giáo khác” [14, tr. 148].

     Những cuộc điền dã cho thấy, phần lớn người Việt ở Bến Tre có nguốn gốc từ miền Thuận Quảng, trong quá trình di dân mở cõi về phương Nam, họ đã dung nạp vào hành trang văn hoá của mình những vị nữ thần có nguồn gốc khác. Li Tana nhận xét: “Tiến xuống phía Nam, người Việt ở Đàng Trong đã tiếp xúc chặt chẽ với các Dân tộc địa phương thuộc các nền văn hoá khác biệt. Đứng đầu trong số các Dân tộc này là người Chăm. Các di dân người Việt đã tiếp nhận và thích nghi một cách thoải mái nhiều yếu tố của nền văn hoá Chăm trong một quá trình dài vay mượn có chọn lọc cái mới và loại bỏ cái cũ không còn phù hợp nơi vùng đất mới. Tác động qua lại phong phú này cuối cùng đã cho ra đời một ý thức về bản sắc Việt Nam, cắm rễ sâu trong môi trường xã hội, văn hoá và tự nhiên của vùng đất mới ở phía Nam” [13, tr. 220]. Môi trường cảnh quan và điều kiện giao tiếp mới đã làm cho tín ngưỡng thờ Mẫu vốn hằn sâu trong tâm thức người dân Bến Tre có điều kiện phát triển theo chiều hướng mới mẻ hơn so với cội nguồn của nó. Những vị thần Mẫu như Bà Chúa Xứ, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành Nương Nương,… được thờ tự riêng hoặc phối thờ trong các đình, miễu.

2. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống văn hoá của cộng đồng cư dân Bến Tre

     2.1. Bà Chúa xứ

     Tín ngưỡng thờ Bà Chúa xứ là kết quả của sự giao lưu và hỗn dung tín ngưỡng giữa các tộc người Chăm – Việt – Khơ-me trên mảnh đất Bến Tre. Bà chiếm vị trí nhiều nhất trong các dạng thức thờ Mẫu của cộng đồng cư dân nơi đây. Bà được người ta đồng hoá với Thần Mẹ Xứ Sở trong tín ngưỡng của người Chăm (Thiên Y Ana). Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Xét về danh xưng, tính chất và sự xác tín mà người Việt gán cho Bà Chúa Xứ, ta thấy ở đây ít nhất có bốn lớp văn hoá, mà cốt lõi của nó chính là Nữ thần Pô InưNagar của người Chăm… Với tư cách là vị thần cai quản xứ sở, vị thần đất, vị thần cai quản, phù hộ độ trì cho những người làm ruộng, làm nghề biển, nghề buôn bán” [15, tr. 376 – 378].

     Nữ thần Thiên Y Ana (còn gọi là Pô Inư Nagar) được xem là Thần Mẹ Xứ Sở của người Chăm. Theo thời gian, sự biến đổi từ Mẹ Xứ Sở của người Chăm thành bà Chúa Ngọc của người Việt để dễ dàng trong việc tiếp nhận và thờ cúng, cũng như cầu mong, nguyện ước. Bác sĩ Albert Sallet cho rằng: “Thiên Y Ana Chúa Ngọc” hay “Bà Ngọc” là tên gọi biến danh từ nguyên thể gốc [12, tr. 127]. Dưới thời nhà Nguyễn, Bà được phong tặng danh xưng bằng mĩ tự: “Hồng Nhân Phổ Tế, Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”.

     Cho đến nay thật khó xác định Thiên Y Ana được người Chăm thờ tự từ bao giờ. Tuy nhiên, qua các truyền thuyết, các địa danh mang thánh tích cho chúng ta biết được tục thờ nữ thần Thiên Y Ana dường như có mặt hầu khắp lãnh thổ của vương quốc Chămpa xưa. Chuyện về nữ thần Thiên Y Ana được Phan Thanh Giản ghi lại vào năm 1856 và các quan địa phương đã khắc truyền thuyết đó lên bia đá dựng ở Tháp Bà (Nha Trang) như sau:

     “Tương truyền Thiên Y là một nàng Tiên, ban đầu giáng xuống núi Đại Điền. Thuở ấy có hai vợ chồng ông già ở sườn núi, trồng dưa để sinh sống. Khi dưa chín thường bị hái trộm, ông lấy làm lạ để ý rình. Một đêm nọ, ông thấy một cô gái, độ 13, 14 tuổi từ bóng cây khoan thai đi đến, cầm dưa vần chơi ở dưới bóng trăng. Ông đón lại gạn hỏi, thì ra chính là người đã hái trộm dưa hôm trước. Ông thương cô gái còn nhỏ đã rất xinh bèn đem về nuôi. Cô gái dịu dàng tha thướt, là người của trời sinh, nên hai ông bà rất thương yêu. Ngày nọ, mưa lũ bỗng tràn đến, cô gái sực nhớ phong cảnh cũ ở núi Tam Thần, liền kiếm cây hoa, chất mảnh đá đắp làm núi giả để chơi. Ông già thấy vậy, bực tức la mắng. Đang lúc cô gái oán hận thì có cây già nam trôi theo nước lũ đến đó, bèn biến hình nhập vào thân cây ấy, rồi trôi theo nước lũ dạt vào bờ biển phương Bắc. Người phương ấy thấy cây thơm lạ, rủ nhau khiêng về nhà, nhưng nặng quá không nhấc lên nổi. Lúc bấy giờ, vị Thái tử nước ấy nghe nói, bèn đến bờ biển xem, rồi xuống vớt cây nâng lên tay, đem về để nơi điện các.

     Thái tử khi ấy vừa 20 tuổi, chưa có vợ, thường ngày đến vỗ về thân cây, trong lòng bồi hồi vương vấn. Có khi chợt thấy bóng trắng thoang thoảng mùi thơm, trông lờ mờ như có người đi thoáng đến, nhiều lần như thế, trong lòng lấy làm lạ. Đêm nọ, sau khi mọi người đều yên giấc, Thái tử đi đến chỗ cũ rình xem thì cũng lại thấy như đêm hôm trước, liền đi sát đến tận nơi, thì ra một cô gái đẹp. Nàng hoảng hốt muốn chạy trốn, nhưng bị Thái tử giữ lại gạn hỏi, không thoát thân được, cô đành phải kể lại duyên cớ. Thái tử nửa sợ nửa mừng, tâu lên vua cha. Vua sai bói được quẻ tốt, bèn cho cùng nhau kết hôn. Vợ chồng ăn ở với nhau được ít lâu, sinh được một con trai đặt tên là Tri và một con gái tên là Quy.

     Một hôm bà nhớ nơi ở cũ, bèn dắt con trai con gái nhập vào cây gỗ hương, vượt biển theo hướng Nam, thẳng đến cửa biển Cù Huân, rồi tìm về chỗ cũ tại ven núi Đại Điền. Đến nơi thì hai ông bà trồng dưa đã mất rồi, bà bèn lập đền tại chỗ ấy để phụng thờ.

     Thấy dân làng ở vùng này khờ dại thật thà không biết việc sinh nhai và phòng hoạn nạn, bà bèn dạy cho họ những phép tắc và bày cho cách làm ăn. Bà lại cho đục đá ở núi Cù Lao làm bức tượng truyền thần, rồi đương lúc ban ngày, bay lên trời đi mất.

     Sau khi bà về Nam, Thái tử ở Bắc Hải không biết bà đi đâu, bèn sai người đáp thuyền đi tìm. Khi bọn này đến Cù Huân, thì giở giọng hách dịch hà hiếp dân sở tại và không kính trọng tượng Thần. Tức thì, một trận cuồng phong thình lình nổi lên làm cho chiếc thuyền chở bọn đó bị lật úp xuống, hoá thành một đống đá to.

     Từ đấy về sau, bà càng hiển linh, có khi cưỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi. Mỗi khi bà xuất hiện, nghe trong núi có ba tiếng nổ vang như súng lớn; có khi bà hiện hình như dải lụa bay giữa không trung; lại có khi bà cưỡi sấu qua lại trong vùng đảo Yên núi Cù. Dân địa phương ngưỡng vọng, cho là Thần, có cầu khẩn việc gì thường được ứng nghiệm, bèn xây hai ngọn tháp trên núi Cù Lao… Người Chiêm Thành gọi bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Buổi đầu triều ta, phong tặng bà là Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần” [11, tr. 644 – 645].

     Ngoài ra, người Chăm còn có truyền thuyết về Thiên Y Ana: “Pô Inư Nagar là một nữ thần do ánh mây và bọt nước biển biến sinh. Bà sinh ra với một tấm thân cân đối, một khuôn mặt xinh đẹp tuyệt vời và chói lọi hào quang. Bà sinh ra tận ngoài biển khơi. Nước biển dâng cao đưa bà vào bến Yjatran. Sấm trời và gió hương nổi dậy báo cho muôn loài biết tin Bà giáng thế. Liền đó những khe suối trên nguồn dồn lại thành sông chảy xuống mừng Bà và núi hạ mình thấp xuống để đón rước Bà. Bà bước lên bờ, cây cong cành xuống sát đất để tỏ lòng thần phục. Chim muông kéo nhau đến chầu hai bên đàng. Và hoa cỏ vươn lên để điểm hương vào bước chân Bà đi. Nơi hậu cung bà có 97 ông chồng. Nhưng chỉ có ông Pô Yan Amư là có uy quyền và được trọng vọng hơn cả. Bà sanh được 38 nữ thần, người nào cũng xinh đẹp. Song chỉ có ba người được Bà ban cho nhiều quyền phép là Pô Nogar Dara, Rarai Anaih, nữ thần vùng Phan Rang và Pô Bia Tikuk, nữ thần vùng Phan Thiết” [2, tr. 145].

     Khi người Việt vào đây định cư, bên cạnh hệ thống các vị thần trong tín ngưỡng của mình còn có hệ thống thần người Chăm đã được họ Việt hoá, xem là vị thần có tại xứ sở mình đang sinh sống, họ cũng thờ cúng bình đẳng như hệ thống thần người Việt. Bởi họ tin rằng, chức năng của các vị thần người Chăm cũng quán xuyến và giúp đỡ cho người dân trong làng sống yên vui, hạnh phúc. Ở Bến Tre, Bà được thờ cúng ở rất nhiều nơi, một số đình, miếu thờ Bà được sắc phong dưới các triều vua Nguyễn như: đình Bình Nguyên (phường 6, thành phố Bến Tre), đình Mĩ An (xã Mĩ Thạnh An, thành phố Bến Tre), miếu Bà Mĩ Hoá (phường 7, thành phố Bến Tre),… Trong một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 5 (1853) cho miếu thờ Bà ở thôn Mĩ Hoá, huyện Bảo Hựu (nay là phường 7, thành phố Bến Tre) đã ca ngợi công đức của Bà: “Sắc Thiên Y Ana Diễn Ngọc phi tôn thần nguyên trước đã tặng Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tương Thượng Đẳng Thần, giúp nước che dân, linh ứng đã lâu, ứng nghiệp sứ mạng lớn lao của ta nên gia tặng thêm Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tương Trang Huy Thượng Đẳng Thần. Nay chuẩn cho thôn Mĩ Hoá, huyện Bảo Hựu thờ phụng thần y như cũ, ngõ hầu trông coi, che chở cho dân lành của ta. Y lệnh. Tự Đức năm thứ 5, ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý (nhằm ngày 8-1-1853)”.

     Sự thờ cúng Bà của cư dân Bến Tre gắn liền với tâm thức là vị thần Mẫu có chức năng cai quản đất đai, độ trì sự bình an, ban tài lộc cho con người. Tín ngưỡng thờ Bà gắn liền với nguồn gốc dân cư, quá trình khai hoang lập ấp, chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử và văn hoá độc đáo mà trải qua bao thời gian nó vẫn được các thế hệ người dân nơi đây gìn giữ. Hàng năm, vào những ngày rằm, ngày lễ, đặc biệt vào dịp cúng Kì yên, người dân Bến Tre thường đến các miếu thờ Bà để thắp hương, dâng lễ, nhằm cầu mong sự che chở, phù hộ của Bà.

     2.2. Cửu Thiên Huyền Nữ

     Nếu như trong tín ngưỡng của cư dân Bến Tre, Bà Chúa xứ gắn liền với quá trình khai hoang, lập ấp thì tín ngưỡng thờ Cửu Thiên Huyền Nữ lại gắn liền với quá trình phát triển của nghề mộc, nghề may, nghề đóng ghe thuyền, nghề làm nhà của cư dân nơi đây.

     Cửu Thiên Huyền Nữ có nghĩa là người phụ nữ huyền diệu ở tầng thứ chín Cửu Trùng Thiên. Người ta biết đến Bà vào thời thượng cổ và cho rằng Bà là một nữ tiên đắc đạo ở trên trời, đã có công giúp Hoàng Đế chiến thắng Xuy Vưu (hay Si Vưu). Chuyện xưa kể rằng, Xuy Vưu vốn thuộc dòng dõi Viêm Đế – Thần Nông, nhưng lại là một hung thần mình thú, đầu người, đầu đồng, trán sắt, lại có bốn con mắt, sáu cánh tay, trên đầu còn có hai cái sừng sắc bén cứng như thép. Xuy Vưu ăn thức ăn cũng khác thường, món ăn thường là cát, đá, sắt. Xuy Vưu cũng rất giỏi chế tạo các loại binh khí như qua, kích, kiếm, búa, khiên, cung tên,… Xuy Vưu còn có tám mươi người em cũng đều mình thú, đầu người, đầu đồng, trán sắt, sức mạnh như thần. Tất cả đều biết nói tiếng người.

     Là một vị thần hùng mạnh, Xuy Vưu được giao nhiệm vụ mở đường cho đoàn xe của Hoàng Đế mỗi khi xuất hành hoặc hội triều. Thấy ở ngôi cao thật vinh hiển nên Xuy Vưu không cam tâm làm người hầu hạ, là kẻ dưới quyền của Hoàng Đế. Cậy có binh hùng, tướng mạnh, tám mươi anh em uy vũ như thần, lại thêm nhiều mãnh thú, tà ma quỷ quái giúp, Xuy Vưu nổi loạn muốn tranh được làm vua.

     Tuy là con cháu thuộc dòng dõi Thần Nông nhưng vì ham được ngồi trên toà của Viên Đế nên Xuy Vưu đã kéo đội hùng binh của mình đánh Thần Nông – Viên Đế ở phương Nam. Nhiều trận chiến diễn ra, Thần Nông thua bèn cầu cứu Hoàng Đế. Hoàng Đế cho quân tiến đánh Xuy Vưu. Tuy nhiên, trận nào quân của Hoàng Đế cũng đều thua và nguy hiểm đến tính mạng. Sau đó, Hoàng Đế may mắn được một vị nữ thần đầu người, mình chim gọi là Huyền Nữ – là một nữ tiên đắc đạo ở trên trời, truyền dạy binh pháp. Từ đó, Hoàng Đế biết bày binh bố trận, biến hoá khôn lường. Đồng thời, Hoàng Đế tìm thấy trong núi Côn Ngô một loại đồng đỏ như lửa bèn đem chế thành bảo kiếm. Có được binh pháp và binh khí, Hoàng Đế đã chiến thắng Xuy Vưu [1, tr. 72 – 86]. Vì vậy, người ta cho rằng Cửu Thiên Huyền Nữ là một vị thần quân sự linh thiêng.

     Ở Bến Tre, Bà được xem là vị nữ thần nằm ở vị trí hàng đầu trong những vị nữ thần và là tổ sư bách nghệ, tổ của nghề mộc, nghề may và nghề nề. Ngoài ra, Bà còn là vị thần phù hộ sinh mệnh cho nữ giới. Nhiều địa phương trong tỉnh Bến Tre đã lập miếu thờ bà ở bên ngoài đình, miễu hoặc Bà được thờ tự ngay trong chánh điện của đình, miễu như miếu Cửu Thiên ở xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre; hoặc linh vị thờ Bà ở đình Bình Hoà thuộc ấp Bình Minh, huyện Giồng Trôm… Có thể nói, Bà là vị thần có nhiều chức năng khác nhau nên được cư dân Bến Tre hết lòng ngưỡng vọng, tôn kính.

     2.3. Thiên Hậu Thánh Mẫu

     Bên cạnh tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ, Cửu Thiên Huyền Nữ thì tín ngưỡng thờ Thiên Hậu cũng chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của cư dân Bến Tre. Thiên Hậu Thánh Mẫu là vị Hải thần trong tín ngưỡng của người Hoa. Trong quá trình di cư đến Bến Tre, người Hoa đã mang theo tín ngưỡng này để cầu mong sự độ trì của bà cho những chuyến vượt biển thành công, cũng như để tiếp nối và giữ gìn truyền thống của quê hương.

     Thiên Hậu được người Hoa gọi dưới nhiều danh xưng tôn quý khác nhau như: Thiên Thượng Thánh Mẫu (Mẹ Thánh trên trời), Mã Tổ Bà (Bà Tổ), A Phò (Đức Bà, Đức Mẫu),… Người ta cho rằng, Bà sinh vào thời Tống Kiến Long năm thứ nhất (960), là con gái thứ sáu của Lâm Nguyện – Đô tuần kiểm huyện Bồ Điền, phủ Hưng Hoá, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Tương truyền khi Bà mới sinh ra đã có những luồng ánh sáng và mùi hương thơm kì lạ xuất hiện. Khi lớn lên bà rất hoạt bát và thông minh, đặc biệt Bà có thể cưỡi chiếu lướt trên biển cả, cưỡi mây ngao du khắp thiên hạ nên người ta gán cho Bà danh hiệu “Long Nữ”. Đến tuổi cập kê, rất nhiều người đến cầu hôn nhưng Bà lại không muốn lấy chồng. Đến thời Tống Ung Hi năm thứ 4 (987), khi sắp qua sinh nhật lần thứ 28, Bà nhờ mẹ giúp mình trang điểm thật lộng lẫy, sau đó ngồi trang nghiêm trên ghế và nhẹ nhàng nhắm đôi mắt lại. Mẹ Bà ngửi thấy mùi phấn hương kì dị tỏa ra lan rộng ngoài mấy dặm và một đoàn tiên nữ từ trên trời bước xuống dìu Bà bước lên đuôi rồng và mất hút giữa bầu trời [8, tr. 258].

     Hơn mười thế kỉ trôi qua, từ đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh và trải dài cho đến tận ngày nay, người Hoa đã thêu dệt lên rất nhiều câu chuyện về sự linh ứng của Bà và xây dựng nhiều đền miếu để thờ tự Bà. Bà đã trở thành vị thần Biển, vị Hải thần luôn theo cùng ngư dân trên các chuyến hải trình đầy gian nan, nguy hiểm.

     Ngày nay, ở Bến Tre, Bà còn được xem là vị thần phù hộ trong việc kinh doanh buôn bán, sinh đẻ, ban phước lành cho cộng đồng người Hoa nơi đây. Bà được thờ riêng hoặc chung trong các ngôi miếu, đình làng như: miếu Ngọc Hoàng, Thất Phủ Võ Miếu (thành phố Bến Tre), Thất Phủ Võ Miếu (thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri), miếu Thiên Hậu (thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri), miếu Bà An Thuận (xã An Thuỷ, huyện Ba Tri), miếu Thiên Hậu (xã Mĩ Thạnh, huyện Giồng Trôm), miếu Thiên Hậu (xã Bình Thắng, huyện Bình Đại), miếu Thiên Hậu (xã Thới Thuận, huyện Bình Đại), đình Bình Hoà (huyện Giồng Trôm), đình Chùa Bà (khu phố 4, thị trấn Mỏ Cày Nam),…

     Tại một số ngôi miếu, khám thờ Bà luôn được trang trí lộng lẫy, bên trong đặt tượng Bà với khuôn mặt tròn phúc hậu, hai bên có hai người nữ cầm quạt hầu và Thuận Phong Nhĩ (vị thần nghe xa nghìn dặm) cùng Thiên Lí Nhãn (vị thần trông xa nghìn dặm) giúp cho Bà nghe và nhìn thấy những người đang gặp hoạn nạn để Bà ra tay cứu giúp.

     Tại những nơi thờ Bà, người Hoa đi lễ hầu hết các ngày trong tháng. Nhưng ngày vía Bà (23-3 âm lịch) được xem là ngày hội lớn của cộng đồng người Hoa ở Bến Tre. Lễ vía Thiên Hậu không chỉ thu hút cộng đồng người Hoa, người Việt ở Bến Tre mà còn thu hút đông đảo bà con các địa phương lân cận cũng như du khách trong nước và quốc tế tham dự.

     2.4. Tín ngưỡng thờ Ngũ Hành Nương Nương

     Trong quan niệm của người Việt nói riêng và phương Đông nói chung, năm hành chất cấu tạo nên vũ trụ là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Vì vũ trụ là “sinh” nên biểu tượng là “nữ”, vì vậy được người ta nhân hoá năm hành chất này thành năm Bà Ngũ Hành với quyền năng khác nhau. Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhận xét: “Ở đây rõ ràng là người xưa đã khoác cho tự nhiên, vũ trụ thuộc tính nữ, mang tính sản sinh, tồn trữ và che chở. Suy cho cùng, việc tôn thờ nữ thần chẳng qua chỉ là cách nhân thần hoá và tôn sùng lực lượng tự nhiên mà thôi” [16, tr. 31].

     Một số ngôi miếu thờ Bà ở Bến Tre, người ta tạc tượng năm Bà để thờ gồm: Kim Đức Thánh Phi (áo trắng), Mộc Đức Thánh Phi (áo xanh), Thuỷ Đức Thánh Phi (áo đen), Hoả Đức Thánh Phi (áo đỏ) và Thổ Đức Thánh Phi (áo vàng). Mỗi màu sắc này đều có liên quan đến một thứ logic tương ứng. Chẳng hạn, ở trung tâm tức là khu vực của đất (thổ) màu vàng, nhưng trong màu sắc cũng có mối liên quan khít khao với với thực tế vì người ta quan niệm, thổ là màu sắc của dân chuyên canh, sống bằng nông nghiệp nên đó là màu của đồng lúa, màu đất phù sa, thổ thường thường có màu vàng sẫm, đôi khi có màu vàng tươi. Ở phương bắc tương đương với màu đen (thuỷ), vì hướng bắc là vùng lạnh nên được đồng hoá với mùa đông, mùa của đêm trường lạnh lẽo, đêm dài, ngày ngắn và tối, bầu trời mây che u ám. Phương nam là màu đỏ, vì đây là phần nền trời lúc nào cũng được mặt trời soi sáng và chính định tinh này đã cho ra màu đỏ của buổi ban trưa. Phương đông màu xanh, đây chính là phương của mặt trời mọc nên chưa có đủ lực tỏa sáng: vào lúc này mặt trời gợi nhớ tới mùa xuân, mùa của tuổi thanh xuân. Hướng tây là màu trắng, đây là phần trời của mặt trời lặn, buổi xế bóng mặt trời gợi ý về mùa thu, thời kì của các cuộc ngưng đọng sương móc đầu tiên, gọi là “sương trắng” của sương mù lạnh lẽo, của “váng – băng”. Mùa thu là mùa tương đương với ba mùa: sương móc, váng băng và sương mù. Tất cả các hiện tượng thiên nhiên về thời tiết này đều gợi lên ý màu trắng [3, tr. 43].

     Dân gian tin rằng, năm vị thần này có quyền năng đối với các nghề liên quan đến đất đai, củi lửa, kim loại, nước nôi, cây gỗ. Ngũ Hành Nương Nương được nhà Nguyễn tặng mĩ tự Tư Hoá Mặc Vận Thuận Thành Hoà Tự Tư Nguyện Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần (sắc Duy Tân thứ V) [17, tr. 135].

     Cư dân Bến Tre tìm thấy ở năm Bà thiên chức của người mẹ phù hộ cho con người và vạn vật sinh sôi, phát triển. Trong cơ thể của con người đều có các yếu tố liên quan đến các Bà (ngũ tạng), cho nên Bà được coi là vị thần độ mạng cho con người. Với các nghề như nghề nông thì liên quan đến các yếu tố như Bà Thổ, Bà Thuỷ, nghề đánh bắt thuỷ sản thì liên quan tới Bà Thuỷ, Bà Mộc,… Bởi “Bà có quyền năng rất lớn. Bà làm cho các nghề phát triển cân đối, bền vững. Bởi suy cho cùng, chẳng có nghề gì là không liên quan đến Ngũ Hành. Đặc biệt là nghề biển. Trong suy nghĩ của người dân biển, từ phương tiện đánh bắt đến không gian đánh bắt, đều quan hệ đến các Bà. Ghe thuyền liên quan đến Bà Mộc, Bà Kim, Bà Hoả, nước liên quan đến Bà Thuỷ, bờ bãi liên quan đến bà Thổ” [5, tr. 55].

     Đặc biệt ở Bến Tre, Bà Thuỷ được cư dân ven biển thờ tự rất phổ biến. Bà còn được gọi là Thuỷ Long Thần Nữ, Thuỷ Đức Thánh Phi, Thuỷ Long Nương Nương. Bà cai quản vùng sông, biển, đặc biệt phù hộ cho dân vạn chài đánh bắt cá. Trong quan niệm dân gian, Bà là nữ thần giếng, thần sông rạch, thần cù lao, thần hải đảo, tức vị thần cai quản vùng sông nước. Hiện nay ở Bến Tre, Bà được thờ riêng hoặc chung trong các đình miếu, thậm chí trong các ngôi chùa như Hội Tôn Cổ Tự ở ấp Quới Hoà Đông, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành người ta cũng có miếu thờ Bà; ở ấp An Thạnh (An Thuỷ) có ngôi miếu khá lớn thờ Bà Thuỷ,… Cho đến nay, tín ngưỡng Bà Thuỷ được ngư dân ở An Thuỷ ngưỡng mộ và thờ cúng. Không chỉ ngư dân, những người làm nghề khác như: buôn bán, trồng giồng, nuôi tôm, làm muối,… cũng tin tưởng vái van. Phải chăng đó là quá trình “cộng hưởng và lan truyền” từ đời sống tâm linh của ngư dân vốn là những người có vai trò chủ chốt trong đời sống kinh tế – xã hội và đông đảo tại địa phương? Mặt khác, trong đời sống hiện tại, chức năng của vị thần này được mở rộng hơn trước kia [7, tr. 47 – 48].

     Như vậy, trong tâm thức người dân Việt ở Bến Tre thì thờ Ngũ Hành Nương Nương tức là thờ các yếu tố tạo nên vũ trụ được “Mẫu hoá”. Đây chính là dấu ấn của người Việt tiếp thu Âm Dương Ngũ Hành trong văn hoá Trung Hoa. Họ thờ phụng Bà để cầu mong Bà phù hộ cho cuộc sống yên ổn, vạn vật sinh sôi nảy nở, công việc làm ăn được hanh thông, thuận lợi.

3. Kết luận

     Có thể nói, tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành một bộ phận quan trọng, chủ đạo, là một tổng thể văn hoá và là những di sản quý báu trong đời sống văn hoá của cộng đồng cư dân Bến Tre suốt bao thế kỉ qua. Thông qua hình thức thờ Mẫu, phần nào đã phản ánh được quá trình phát triển, đời sống kinh tế – xã hội của cộng đồng cư dân nơi đây từ thuở khai hoang lập ấp cho đến ngày nay. Nó còn biểu hiện của quá trình giao lưu và dung nạp văn hoá giữa cộng đồng các tộc người đang sinh sống trên mảnh đất Bến Tre, thể hiện tâm thức về những Mẫu có chức năng độ trì cho cuộc sống của người dân được bình an, thêm nhiều tài lộc. Ngày nay, việc mở rộng nghiên cứu và bảo tồn tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bến Tre là một việc làm cần thiết. Đây không chỉ là dấu gạch nối giữa con người và thần linh, giữa con người với con người, giữa truyền thống và hiện tại mà còn là cơ sở cho sự tiếp tục gắn bó của các cộng đồng cư dân đang sinh sống trên mảnh đất Bến Tre.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Dương Tuấn Anh (sưu tầm, tuyển chọn), Thần thoại Trung Hoa, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009.

2. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Chămpa – Sự thật và huyền thoại, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1994.

3. Paul Giran, Bùa chú và tôn giáo Việt Nam, Augustin Challamel xuất bản tại Paris năm 1912 (Bản Việt ngữ không ghi tên người dịch?).

4. Lư Hội, Di sản văn hoá phi vật thể tỉnh Bến Tre, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2009.

5. Nguyễn Xuân Hương, Tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt ở xứ Quảng, NXB Đà Nẵng, 2011.

6. Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam, Văn học, số 5/1992.

7. Dương Hoàng Lộc, Văn hoá tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2008.

8. Herri Maspéro, Đạo giáo và các tôn giáo ở Trung Quốc (Lê Diên dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.

9. Huỳnh Minh, Kiến Hoà xưa và nay (Bến Tre), Tác giả xuất bản, 1965.

10. Thạch Phương – Đoàn Tứ (Chủ biên), Địa chí Bến Tre, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001.

11. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập 1, NXB Lao động – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2012.

12. Albert Sallet, Ngũ Hành Sơn (bản dịch của Nguyễn Sinh Duy), NXB Đà Nẵng, 1996.

13. Li Tana, Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỉ XVII – XVIII (Nguyễn Nghị dịch), NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2013.

14. Ngô Đức Thịnh, Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hoá dân gian, NXB Thời đại, Hà Nội, 2012.

15. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2012.

16. Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2010.

17. Huỳnh Ngọc Trảng – Trương Ngọc Tường, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB Đồng Nai, 1999.

VÕ VĂN HOÀNG 1

__________
1. Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng.