Những giá trị VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG của DÂN TỘC trong TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ở VIỆT NAM

PHAN VĂN BA 1
HÀ THỊ THUỲ DƯƠNG 2
(1,2 Học viện Chính trị khu vực IV)

     Thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc bản địa, do đó tín ngưỡng này gắn bó chặt chẽ với văn hoá Việt Nam, kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống độc đáo của dân tộc. Làm rõ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam không chỉ góp phần khẳng định vai trò của tín ngưỡng này trong đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng mà còn là cơ sở cho việc bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ Mẫu vì một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

     Văn hoá thẩm thấu, xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm trong lịch sử, chính vì vậy, tín ngưỡng, tôn giáo luôn chứa đựng những yếu tố văn hoá dân tộc vì vậy, người ta đã nhắc đến một loại hình văn hoá tín ngưỡng, văn hoá tôn giáo. Song có lẽ hiếm có một hình thức tôn giáo, tín ngưỡng dân gian nào mà ở đó thể hiện khá tiêu biểu quá trình nảy sinh và tích hợp các hiện tượng và giá trị văn hoá mang sắc thái dân tộc độc đáo như tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Vì vậy, thờ Mẫu trở thành tín ngưỡng dân gian hàng đầu ở Việt Nam, có một sức sống bền bỉ qua hàng nghìn năm phong kiến “nam tôn nữ ti” và vẫn thu hút đông đảo người dân tin theo. Bản sắc văn hoá Việt Nam trong tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

     Thứ nhất, những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu

     Nghệ thuật là một dạng kết tinh của văn hoá. Muốn tìm hiểu văn hoá của dân tộc không thể không nghiên cứu nghệ thuật của dân tộc ấy. Và không ở đâu như tín ngưỡng thờ Mẫu, chúng ta có thể tìm hiểu được nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau của dân tộc từ văn học đến âm nhạc, múa, kiến trúc,…

     Trong kho tàng văn học dân tộc, đặc biệt là văn học dân gian nước ta, có một mảng riêng, đã được sưu tầm hay còn đang lưu truyền trong dân gian gắn liến với tín ngưỡng thờ Mẫu như huyền thoại, truyền thuyết, thần tích, thần phả, truyện thơ, các bài hát văn, các bài thơ giảng bút, các câu đối, văn bia,… mà người ta gọi là hiện tượng văn học dân gian đạo Mẫu. Trên phạm vi cả nước, có hàng trăm đền, phủ thờ các vị Thánh Mẫu và bao bọc xung quanh các đền, phủ, các vị Thánh Mẫu ấy là các huyền thoại, truyền thuyết và sau này, các truyền thuyết đó được thể hiện giản lược hơn trong các thần tích, thần phả viết bằng chữ Hán, chữ Nôm kể về cuộc đời của các vị Thánh Mẫu. Trong vốn liếng văn học đạo Mẫu không đến nỗi nghèo nàn này, các bài văn chầu được các cung văn hát trong những buổi hầu bóng các Thánh Mẫu có một vị trí quan trọng, tự bản thân nó đã biểu đạt những giá trị văn học nghệ thuật nhất định. Các bài văn chầu kể lại gốc tích các vị Thánh, trải qua cuộc đời gian truân, éo le, hiển linh, cứu khổ cứu nạn giúp người trần. Cấu trúc của loại hình các bài văn chầu thuộc phạm trù văn học dân gian, các mô típ quen thuộc của truyện dân gian, diễn đạt bằng thể văn vần lục bát hoặc song thất lục bát. Hình thức phát triển cao hơn của thể loại này là truyện thơ, giống như truyện thơ Nôm, mang tính tự sự và trữ tình rõ nét, bước đầu chú ý khắc hoạ tính cách nhân vật trong những tình huống mang kịch tính. Các bài văn chầu cũng là sự tiếp nối dòng văn học truyền kì như Việt điện U linh, Lĩnh Nam chích quái, Truyền kì Mạn lục,… đi vào mô tả, khơi gợi những chuyện quái dị, hoang đường liên quan đến thần linh, ma quỷ. Nối tiếp các bài văn chầu không thể không kể đến một dòng văn học viết của các nhà thơ, nhà văn viết về các vị Thánh Mẫu, đặc biệt là Mẫu Liễu Hạnh như “Vân Cát Thần nữ” của Đoàn Thị Điểm, “Liễu Hạnh công chúa diễn ngâm” của Nguyễn Công Trứ, Sự tích Liễu Hạnh công chúa của Trọng Hội (1959), Bà chúa Liễu của Hoàng Tuân Phô (1990), Liễu Hạnh công chúa, tiểu thuyết của Vũ Ngọc Khánh (1991),… Đây là những tác phẩm mang tính sử – văn, vừa khảo cứu vừa phóng tác, ẩn chứa những giá trị tư liệu và văn học nhất định. Ngoài ra, còn có một hệ thống các bài thơ giáng bút, đó là lời phán truyền của Thánh Mẫu mà các ngôi đền thờ Mẫu có ghi lại hay truyền tụng, nhất là Liễu Hạnh, một Thánh cô có tài thơ văn, từng giao du với các văn sĩ.

     Những giá trị văn học cả về nội dung lẫn nghệ thuật biểu đạt của dòng văn học liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, song không thể không thừa nhận rằng có một dòng văn học đạo Mẫu khá dày dặn nối tiếp truyền thống văn học viết và văn học dân gian của dân tộc và đã làm phong phú thêm nền văn học đó.

     Bên cạnh những giá trị văn học gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ tiêu biểu và đặc trưng nhất của tín ngưỡng này là hầu bóng và múa, hát bóng rối cũng là một hình thức diễn xướng đặc thù, một loại hình sân khấu tâm linh đặc thù, độc đáo, góp phần làm giàu có thêm kho tàng diễn xướng dân gian của dân tộc. Đây là hình thức diễn xướng tổng hợp vì nó sử dụng tổng hợp các yếu tố âm nhạc, hát, múa, động tác trong buổi trình diễn hầu bóng. Có thể nói, trong diễn xướng dân gian của người Việt, ít thấy hình thức nào kếp hợp cùng một lúc âm nhạc, hát và múa như hầu bóng. Hầu bóng hội tụ đầy đủ đặc tính của một loại hình sân khấu dân gian mang tính tâm linh hay sân khấu tâm linh, vì hầu bóng có người trình diễn và người thưởng thức. Người trình diễn, diễn viên là các cung văn (nghệ nhân chơi nhạc và hát) và con đồng, khán giả là con nhang đệ tử và tín đồ. Người diễn và thưởng thức hướng về một chủ đề là sự tái hiện sự tích và các hoạt động của Thần linh, mang lại sự trợ giúp cho đời sống thực thường nhật của con người. Sự tích và sự xuất hiện của thần linh là nội dung của sân khấu trình diễn, nhưng minh hoạ hình ảnh của thần linh chứ không phải là cốt truyện có kịch tính. Cũng như loại hình sân khấu khác, hầu bóng lấy phương pháp ước lệ biểu trưng làm nguyên tắc kịch thuật, lấy cách điệu hoá cao làm ngôn ngữ tái tạo những bóng thánh, siêu nhiên. Là loại hình sân khấu tâm linh, người trình diễn và người chiêm ngưỡng có ước nguyện chung là truy tìm ảo giác thần thánh nên động tác diễn xướng càng phi hiện thực, càng biểu trưng, càng cách điệu thì càng dễ đạt hiệu quả tâm lí hoà đồng giữa thế giới con người và thần linh. Tuy nhiên, đây là sân khấu tâm linh vì từ không gian, môi trường, tình huống mang đầy đủ đặc trưng của sân khấu, nhưng diễn ra ở điện thờ thần linh, bao trùm một không khí thiêng liêng.

     Đặc biệt, nghi lễ hầu bóng đã đưa hát văn trở lên trở thành đỉnh cao của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam. Âm nhạc của hát văn đã tiếp nhận một hệ thống làn điệu bài bản, phong phú của dòng dân ca đồng bằng Bắc Bộ và các vùng miền khác trên khắp lãnh thổ nước ta như ca trù, quan họ, hò lao động Nghệ An, hò trên sông nước Thừa Thiên – Huế và kể cả các điệu hát của các dân tộc thiểu số Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, Chăm, Khmer,… Có lẽ chỉ có hát chầu văn mới có thể thực hiện được sự hoà quyện dân ca ba miền Bắc, Trung, Nam, của các dân tộc khác nhau, là sự tổng hợp âm nhạc dân tộc truyền thống theo một phong cách riêng, phong cách Hát văn. Chính vì những giá trị âm nhạc độc đáo đó mà Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã đưa Chầu văn vào danh mục Di sản để nghiên cứu, lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” là Di sản Văn hoá Thế giới. Múa trong hầu bóng đã tiếp thu và phát triển nhiều động tác múa cổ truyền như múa quạt, múa kiệu, múa đèn, múa mồi, múa chèo đò,… đưa vào khung cảnh tín ngưỡng, lời hát văn và âm nhạc có tiết tấu thay đổi, cùng với trạng thái ngẫu hứng của các con đồng nên mang sắc thái riêng. Như vậy, trong múa hầu bóng, chúng ta có thể tìm thấy nhiều điệu múa cổ truyền đặc sắc của dân tộc. Có thể nói, hầu bóng đã trở thành một loại hình sân khấu tâm linh độc đáo, kết tinh nhiều giá trị nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc.

     Cùng với các giá trị về văn học, âm nhạc, múa thì tín ngưỡng thờ Mẫu còn góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật tạo hình, kiến trúc của Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã tạo ra một hệ thống các đền, phủ, miếu, điện trên khắp đất nước Việt Nam. Kiến trúc của các đền, phủ, miếu, điện thờ Mẫu này là kiến trúc mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, đặc biệt Phủ Dầy được coi là công trình kiến trúc mang nhiều nét đặc sắc của kiến trúc thời Nguyễn giai đoạn cuối. Kiến trúc đền, phủ thờ Mẫu còn phản ánh một tư duy phong thuỷ truyền thống của người Việt Nam là đưa thiên nhiên vào trong kiến trúc, dựa trên địa thế “sơn thuỷ”, phía sau là núi và phía trước hướng ra sông nước. Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Mẫu còn để lại một hệ thống tranh, tượng thờ rất phong phú. Do thờ Mẫu thờ rất nhiều vị thánh khác nhau nên số lượng các tượng thờ rất đa dạng, đặc biệt là có một số tượng thờ cổ của các nền văn hoá độc đáo đã từng tồn tại trên mảnh đất hình chữ S này. Tranh thờ trong các đền, phủ thờ Mẫu cũng là những tranh thờ dân gian, chất liệu và phong cách vẽ mang tính chất dân gian rõ nét, trong đó có những bức tranh đạt giá trị nghệ thuật cao như tranh Ngũ Hổ, Hắc Hổ. Có thể coi tranh Ngũ Hổ là một trong những tuyệt tác của nghệ thuật tranh dân gian.

     Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu đã tích hợp vào trong nó những nét đặc sắc của nghệ thuật truyền thống dân tộc, là không gian bảo lưu, phát triển nghệ thuật truyền thống dân tộc lên một đỉnh cao mới.

     Thứ hai, những sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu của dân tộc trong tín ngưỡng thờ Mẫu

     Những sinh hoạt cộng đồng là rất cần thiết để gắn kết những con người trong cùng một cộng đồng với nhau, làm tăng tính đoàn kết và giúp mọi người có thêm sức mạnh trong cuộc sống. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã tạo ra nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng có ý nghĩa như thế. Nghi lễ hầu bóng ngoài tính chất là một nghi lễ của đạo Mẫu còn là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Đến với Mẫu thì thường những điều cầu mong, ước vọng của mỗi người không giống nhau, nhưng thông qua những ông đồng, bà đồng để giao tiếp với Thánh Mẫu trong các buổi hầu bóng đó, những số phận khác nhau đã gắn kết lại với nhau, tạo nên một cộng đồng, sự cảm thông cộng đồng.

     Đặc biệt là hệ thống lễ hội lớn theo tiết “Xuân thu nhị kì”, tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ trong tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành một hình thức sinh hoạt cộng đồng rộng lớn. Những lễ hội này của tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành những ngày lễ hội lớn, vượt ra ngoài phạm vi một làng, một vùng, mang quy mô cả nước. Hệ thống hội của đạo Mẫu có vị trí và vai trò không nhỏ trong hội hè các dân tộc Việt Nam, là môi trường sản sinh và bảo tồn nhiều giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.

Thứ ba, triết lí nhân sinh, quan niệm sống, phong tục và các sinh hoạt của người Việt Nam trong tín ngưỡng thờ Mẫu

     Từ “Mẫu” trong tín ngưỡng thờ Mẫu nghĩa là mẹ, mụ,… chỉ một người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của con đối với người sinh thành ra mình, ngoài ra còn bao hàm nghĩa tôn xưng, tôn vinh như mẫu nghi thiên hạ. Các thánh Mẫu được thờ là các nữ thần hoặc nhân thần. Các Mẫu cũng có gốc tích nhân thần, trong đó, tuyệt đại đa số là thái hậu, hoàng hậu, công chúa, những người khi sống đều tài giỏi, có nhiều công lao với dân với nước, khi mất hiển linh được tôn vinh là Quốc Mẫu. Tục thờ Mẫu với đặc thù của mình đã thể hiện một cách độc đáo tinh thần yêu nước, đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc qua việc tôn vinh những người có công với đất nước, những người đã sinh thành ra mình.

     Tín ngưỡng thờ Mẫu ngoài việc phản ánh những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, nó còn thể hiện đặc trưng của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước, đó là nền văn hoá tôn thờ tính nữ. Người Việt và các dân tộc khác sống ở nước ta là cư dân nông nghiệp trồng lúa ở vùng nhiệt đới gió mùa, từ ngàn đời nay, quan niệm, lối nghĩ, nếp sống là của người nông dân. Do sản xuất nông nghiệp, họ tôn thờ đất, nước và nâng lên thành thần. Trong tiềm thức của họ, việc tôn thờ thần Đất, thần Nước, thần Núi, thần Lúa đều đồng nhất với Âm và nhân hoá thành tính nữ – Mẹ, Mẹ đất, Mẹ lúa,… vì đều là đối tượng sản sinh ra vật chất của cải nuôi dưỡng con người, có thuộc tính là bảo trữ, sinh sôi, sáng tạo. Hơn nữa, việc trồng lúa và tín ngưỡng trồng lúa gắn với vai trò và vị trí của người đàn bà, người mẹ. Vì vậy, nền văn hoá trồng lúa nước đã sản sinh ra tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như tín ngưỡng thờ Mẫu chính là kết tinh đặc sắc của nền văn hoá này.

     Tín ngưỡng thờ Mẫu còn thể hiện một quan niệm truyền thống về vũ trụ của người Việt xưa, đó là một vũ trụ mang tính nhất nguyên nhưng lưỡng cực (âm – dương, nam tính – nữ tính). Vũ trụ ấy do âm dương tạo thành. Vì vậy, trong tín ngưỡng thờ Mẫu, Mẫu là vị thần có quyền năng sáng tạo tối thượng, là một, nhất thể nhưng trong điện thần, các vị thần vẫn chia thành Dòng Cha và Dòng Mẹ, Thánh Mẫu với các hoá thân trực tiếp là các chầu và người giúp việc là các cô, bên kia là vua cha, thuộc dòng vua cha là các quan, các ông hoàng và cậu. Số lượng các vị Thánh trong mỗi hàng thuộc dòng mẫu là số chẵn 4, 8, 12, dòng vua cha Nam thần là số lẻ 5, 10, thể hiện quan niệm dân gian, con số lẻ gắn với dương, con số chẵn gắn với âm.

     Tín ngưỡng thờ Mẫu phản ánh những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc như phong tục thờ cúng tổ tiên. Các bài trí thờ cúng trong điện, phủ thờ Mẫu mô phỏng một gia tộc có cha mẹ, vua cha – thánh mẫu, có các cô, các cậu. Trong đó, các “Cô”, các “Cậu” ấy cũng chính là các bà cô, ông mãnh, các thiện nam, tín nữ đã mất từ rất sớm mà chưa kịp làm phận sự của một con người mà ít gia đình nào không có. Các “Cô”, các “Cậu” trong điện, phủ thờ Mẫu trên tay cầm hoặc bưng các thứ đồ vật như khay trầu, gương, lược, hoa quả,… là những thứ các bà, các cô ở Việt Nam dùng thường nhật hoặc sai các con, các cháu cầm giúp, điều đó đã tạo nên một không gian đầm ấm và thanh bình. Trong điện, phủ, chúng ta còn thấy những đồ dùng sinh hoạt thường ngày vẫn thấy trong nhà của người Việt Nam xưa như nón ba tầm, kiệu, võng, khay đựng trầu, cau, quạt, ấm nước… Những bộ trang phục mặc cho các vị thánh, vị thần cũng đều là những trang phục dân tộc mà người xưa thường mặc. Như vậy, không gian đền, phủ thờ Mẫu luôn gợi nhắc về những phong tục sinh hoạt đời thường của cha ông ta khi xưa.

     Có thể nói những giá trị văn hoá dân tộc truyền thống của dân tộc đặc biệt là các giá trị tinh thần được hội tụ, tích hợp khá đầy đủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Điều này làm cho tín ngưỡng thờ Mẫu có một sức sống mãnh liệt, bền bỉ giống như sức sống của văn hoá Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm phong kiến và đến nay vẫn còn thu hút, hấp dẫn biết bao người Việt Nam tin theo. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã bảo lưu và phát triển những giá trị văn hoá Việt Nam qua dòng chảy thời gian và vì vậy để xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay, việc bảo lưu và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu và những giá trị tích cực của nó trong xã hội đương đại là hết sức cần thiết.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2009.

2. Đỗ Thị Hảo, Sự tích các bà Thành Hoàng làng, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2012.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *