Hệ giá trị đạo đức phật giáo trong văn hóa Việt Nam (qua ca dao, tục ngữ) – Phần 1

Tác giả bài viết: Phó Giáo sư, Tiến sĩ  PHAN THU HIỀN

[Báo cáo đã trình bày và đăng kỷ yếu Hội thảo khoa học Hệ giá trị văn hóa truyền thống và sự chuyển đổi hệ giá trị trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, Biên Hòa, Đồng Nai, 9 – 2009].

     Phật giáo đã có chừng hai ngàn năm sống trong lòng dân tộc. Khi đóng vai trò tôn giáo quốc gia, được triều đình bảo trợ trong thời kỳ đầu của văn hóa Đại Việt cũng như sau này khi lui về thôn quê, ở cùng quảng đại quần chúng, Phật giáo luôn là một thành tố quan trọng tạo dựng nền tảng đạo đức Việt Nam:

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông

(Huyền Không)

     Tìm hiểu văn hóa truyền thống Việt Nam không thể không nghiên cứu kỹ lưỡng những mạch nguồn Phật giáo. Tuy nhiên, có thể thấy Phật giáo Việt Nam chưa được quan tâm xứng tầm vóc, nếu so trong tương quan với Nho giáo Việt Nam. Báo cáo này của chúng tôi xin đi vào một khía cạnh nhỏ: Hệ giá trị Phật giáo trong văn hóa đạo đức Việt Nam.

     Xác định khái niệm “giá trị” (values), trong Từ điển hàn lâm về Văn hóa học (The sage dictionary of Cultural studies), Chris Barker viết: “Một thứ có giá trị là thứ được chúng ta xem đáng giá và có tầm quan trọng tương đối so với những thứ khác” [Chris Barker 2004: 206]. Như vậy, giá trị là vấn đề của quan hệ có tính định hướng giữa chủ thể với đối tượng. Giá trị mang tính chủ quan, cái mà người này xem là giá trị, người khác có thể thấy không. Hơn nữa, giá trị không phải một đại lượng tự quy chiếu mà chỉ hiện ra trong đối sánh, giá trị được xác định do thao tác lựa chọn của chủ thể, tách biệt nó so với những cái khác ít giá trị hơn, phản giá trị, phi giá trị, vô giá trị…

     Triết gia E. Kant từng phân biệt giữa khái niệm “giá trị” và “giá”: “Vật nào có thể đem trao đổi được đều có một giá, duy có một số vật không lấy gì thay thế được thì có một giá trị. Ví dụ: Chiếc đồng hồ có một giá, còn tình bạn, tình yêu, lòng yêu nước, tinh thần hy sinh vì đại nghĩa, kiệt tác nghệ thuật, tín ngưỡng thần linh… là những cái vô giá, tức là những giá trị văn hóa”. [Dẫn lại theo Phan Quốc Anh]. Thực ra, đây là sự phân biệt giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị đạo đức thuộc về những giá trị tinh thần.

     Có giá trị mang tính cá nhân. Nhưng quan trọng hơn là những giá trị được đa số thừa nhận, tin tưởng, trở thành chuẩn mực chung của cộng đồng. Những giá trị này có chức năng định hướng đối với sự phấn đấu của các thành viên trong cộng đồng nhắm tới tiêu chuẩn Chân – Thiện – Mỹ, nhắm tới sự hoàn thiện, tiến bộ.

     Phan Ngọc đã hiểu văn hóa từ đặc trưng về tính giá trị khi ông viết: “Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân nọ so với một tộc người, một cá nhân khác.” [Phan Ngọc 1994: 105]. Định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm tỏ ra thấu đáo, đích đáng hơn khi xác định rõ đặc trưng về tính giá trị gắn với đặc trưng về tính hệ thống và đặc trưng về tính lịch sử: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2004: 25]. Có thể tìm hiểu bản sắc riêng của một nền văn hóa qua hệ giá trị của nó, hệ giá trị không phải chỉ là tập hợp những giá trị đơn lẻ nào đó mà cả những quan hệ, những nguyên tắc cấu trúc các giá trị ấy thành hệ thống hữu cơ. Hệ giá trị của một cộng đồng, một dân tộc không nhất thành, bất biến. Qua quá trình hoạt động thực tiễn, đáp ứng những điều kiện, đòi hỏi của xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định, trong sự tương tác chủ yếu với môi trường xã hội, giao lưu tiếp xúc với văn hóa khác của những cộng đồng, dân tộc khác, hệ giá trị của một cộng đồng, một dân tộc có thể được bổ sung, điều chỉnh.

     Báo cáo của chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam qua hệ giá trị Phật giáo mà dân tộc đã xây dựng trên cơ sở tiếp biến ảnh hưởng Ấn Độ và Trung Quốc. Trong ảnh hưởng Phật giáo bao trùm nhiều lĩnh vực, báo cáo này tập trung vào hệ giá trị đạo đức, và chỉ đề cập các khía cạnh tôn giáo – triết học có ý nghĩa nền tảng thế giới quan, nhân sinh quan cho hệ giá trị đạo đức. Tư liệu nghiên cứu giới hạn ở ca dao, tục ngữ, thành ngữ – vốn liếng văn hóa hun đúc bao đời của quần chúng nhân dân. Cụ thể chúng tôi khảo sát qua hợp tuyển Ca dao tục ngữ Phật giáo Việt Nam do Lệ Như Thích Trung Hậu biên soạn (từ đây xin viết tắt CDTNPGVN). 775 trang in, công trình này đã sắp xếp các đơn vị ca dao, tục ngữ, một mặt, theo trình tự alphabet, mặt khác theo các chủ đề nên khá thuận tiện cho những người nghiên cứu. Khó khăn của người nghiên cứu cũng chính là khó khăn mà người biên soạn đã phải đương đầu: trong những câu ca dao, tục ngữ có vẻ thể hiện những luận điểm Phật giáo, dùng những thuật ngữ Phật giáo, nhiều trường hợp không dễ dàng xác định rạch ròi giữa tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo; triết lý Phật giáo và kinh nghiệm dân gian… Lệ Như Thích Trung Hậu theo hướng thà chọn dư còn hơn bỏ sót, như GS Cao Huy Thuần đã viết đầy đồng cảm trong “Lời giới thiệu”: “Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, mọi người được thưởng thức hoa thơm cỏ lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua…” [Lệ Như Thích Trung Hậu 2002: 13]. Với tư cách người nghiên cứu, chúng tôi nghiêng theo khuynh hướng ngược lại: thà bỏ sót hơn chọn dư. Khi dựa trên CDTNPGVN, chúng tôi cân nhắc để chỉ khảo sát những đơn vị (câu / bài) có độ thuyết phục (tương đối) cao. Tất nhiên, lựa chọn như vậy cũng là “đành mang tội” theo một cách khác, nhưng chúng tôi cho rằng cách này có thể chấp nhận được, dựa vào một tiền đề mà Propp đã giới thuyết trong phần mở đầu công trình Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, đại ý: vì một cấu trúc loại hình thể hiện nhất dạng qua thiên hình vạn trạng các cá thể thuộc loại hình đó nên việc nghiên cứu cấu trúc loại hình có thể bắt đầu ngay cả khi chúng ta chưa thể tập hợp được đầy đủ đến cạn kiệt tất cả số lượng các cá thể thuộc loại hình. Về thao tác nghiên cứu, chúng tôi dựa trên tư liệu ca dao tục ngữ để khái quát – ưu tiên quy nạp hơn là diễn dịch. Chúng tôi dùng “chính thể” và “biến thể” (cả hai đều đặt trong ngoặc kép biểu đạt tính quy ước của những khái niệm công cụ dùng trong báo cáo này) để phân biệt những trường hợp thể hiện sự kế thừa tương đối trung thành quan niệm đạo đức Phật giáo Ấn Độ với những trường hợp có độ điều chỉnh nhất định (hay “độ khúc xạ”, nếu mượn cách nói của Phan Ngọc) cho thấy nét riêng của văn hóa dân gian Việt Nam trong tiếp biến ảnh hưởng ngoại nhập.

* *
*

1. Những quan niệm đạo đức gắn với nền tảng triết lý Nghiệp báo – Luân hồi

     Thể hiện rõ nét nhất ảnh hưởng Phật giáo và cũng xuất hiện đậm đặc nhất qua ca dao, tục ngữ là những quan niệm đạo đức gắn với nền tảng triết lý Nghiệp báo – Luân hồi.

     1.1. Trước hết về tư tưởng Nghiệp báo.

     Triết học Phật giáo Ấn Độ thể hiện phạm trù này qua thuật ngữ Karma, nguyên nghĩa là Hành động. Hành động là tiến trình 3 giai đoạn kế tiếp nhau trong đó tác ý (dự định hành động) điều khiển hành vi của thân, khẩu, ý (thực hiện hành động) dẫn đến (kết quả của hành động) không chỉ thay đổi đối tượng, môi trường bên ngoài mà còn thay đổi chính chủ thể của hành động qua sự tạo tác một tâm tính nhất định. Phật giáo Ấn Độ nhấn mạnh kết quả tuyệt đích với giá trị nội hướng của hành động hơn là kết quả ngoại hướng, cụ thể, trực tiếp. Cái tôi / tâm tính / nhân cách của ta quyết định những tác ý, những hành động của bản thân ta và đồng thời cũng được nhào nắn, khuôn đúc từ chính những tác ý, những hành động của bản thân ta. Đức Phật từng dạy trong kinh Majjhima Nikaya: “Chúng ta là chủ nhân những hành động của mình, là người thừa tự hành động của mình; ta sinh ra từ hành động của mình, chúng là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta.” [Dẫn lại theo Andrew Olendzki 2008: 87]. Hành động (tốt /xấu) tạo tác nên nhân cách tương ứng, đến lượt mình, nhân cách (tốt / xấu) tạo nên vận mệnh tương ứng. Nghiệp báo (Karma), như vậy, không gì khác hơn chính quan hệ tương ứng giữa những hành động ta chọn làm với sự tạo tác nên con người ta từ những hành động ấy và cuối cùng, với số phận của chúng ta. Không có Định mệnh do một thế lực bên ngoài sắp đặt mà số phận bản thân, nói đến cùng, đã được tạo tác bởi chính những hành động của chúng ta.

     Cốt lõi giản dị của phạm trù Karma là tư tưởng Nhân quả: Mọi hành động (tốt / xấu) đều tạo ra một kết quả (số phận) tương ứng, và người nhận chịu kết quả ấy chính là chủ thể của hành động. Ai gieo, người đó gặt và gieo gì gặt nấy. Hệ quả là người ta phải nỗ lực theo thiện tránh ác, bằng cách đó có được số phận tốt đẹp. Phật giáo dân gian Việt Nam tiếp thu triết lý Nghiệp báo ở cốt lõi giản dị nhất này.

     Trong CDTNPGVN, có 47 đơn vị thể hiện tư tưởng Nhân quả Ai gieo người đó gặt và gieo gì gặt nấy với nhiều lối diễn đạt phong phú:

– gieo / cấy / trồng A – gặt / ăn quả A’ [Gieo gió gặt bão – Cấy gió chịu bão – Trồng cây chua ăn quả chua, trồng cây ngọt ăn quả ngọt…]

– hành động A – gặp / phùng kết quả A’ [Ở hiền gặp lành – ở ác gặp dữ – Ở hậu gặp hậu, ở bạc gặp bạc – Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác…]

– hành động A – kết quả A’ đến / lai / quy / báo / đáo đầu [Làm việc phi pháp, sự ác đến ngay – Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai – Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình – Đạo trời báo phúc chẳng lâu, hễ là thiện ác đáo đầu chẳng sai – Tội hữu sở quy, ai làm nấy chịu…]

– hành động A – sinh / sanh kết quả A’ [Thiện sanh phước chung…]

– hành động A – kết quả A’ (dành cho) [Ở hiền thì lại gặp lành, hễ ai ở ác tội dành vào thân…]

– hành động A – kết quả A’ [Mưu thâm, họa diệc thâm – Sinh sự, sự sinh...]

– tương báo / quả báo / trả báo [Oan oan tương báo – Quả báo nhỡn tiền – Lên yên khó nỗi dục yên, tiền căn báo hậu nhãn tiền thấy chưa – Đời xưa trả báo thì chầy, đời nay trả báo thấy ngay nhỡn tiền…]

– ai hành động A – người ấy / nấy (nhận kết quả) A’ [Ai ăn mặn người ấy khát nước...]

– mình làm mình chịu [Mình làm mình chịu, chẳng ông tổ, ông tông nào làm – Trách thân chẳng dám giận trời, trách thân lắm lắm giận trời bao nhiêu...]

– làm hành động A với (đối tượng) B, (chủ thể) B làm hành động A’ trở lại [Hại nhân, nhân hại...]

     Ngoài dạng thức “chính thể” này, trong ca dao tục ngữ Việt Nam xuất hiện hai dạng thức “biến thể”.

     “Biến thể” thứ nhất: Triết lý Nghiệp báo của Phật giáo giao thoa với triết lý Thiên mệnh của Nho giáo hoặc ý niệm về ông trời trong dân gian (“trời có mắt”, “lưới trời lồng lộng”…) để hình thành tư tưởng Nhân quả theo kiểu Trời thưởng /phạt tương ứng. Hình ảnh một ông Trời có nhân cách cầm cân công lý như vậy vốn không có trong Phật giáo Ấn Độ. CDTNPGVN có 5 đơn vị diễn đạt quan niệm này, với hàm lượng ảnh hưởng Phật giáo rõ hơn ảnh hưởng Nho giáo hoặc dân gian:

Nghĩa nhân Trời Phật thưởng ban,

Ai hành ác nghiệp bạo tàn nát thây

     Trong những câu thuộc loại này, vế Trời thưởng người thiện thường đề cập khá chung chung, trừu tượng trong khi vế Trời phạt kẻ ác lại thường cụ thể, chi tiết, hãi hùng. Những bức tranh trên chùa cũng vậy, cảnh địa ngục cho kẻ ác thường được “tả thực” hơn nhiều so với cảnh thiên đàng. Hiệu quả cảnh báo, răn đe được nhấn mạnh.

     “Biến thể” thứ hai: Trong khi phạm trù Karma của Ấn Độ chỉ nhấn mạnh kết quả hành động báo về chính chủ thể của hành động, ai gieo người ấy gặt (A gieo A gặt), CDTNPGVN có 15 đơn vị thể hiện tư tưởng cha mẹ / tổ tiên / đời trước / tiền nhân gieo – con cháu / đời sau / hậu bối gặt (A gieo B gặt). Người ta càng phải thận trọng lựa chọn hành động (tốt / xấu) vì mỗi hành động tạo nghiệp báo ứng không chỉ trở lại chính bản thân mà đến con cháu mấy đời.

– Cây xanh thì lá cũng xanh

Cha mẹ hiền lành để đức cho con

– Đời cha ăn mặn, đời con khát nước

– Đời trước đắp nấm, đời sau ấm mồ

– Một đời làm hại, bại hoại ba đời

– Người trồng cây hạnh người chơi

Ta trồng cây đức để đời về sau

– Có tiền thì hậu mới hay

Có trồng cây đức mới dày nền nhân

     Thành ra, ông bà, cha mẹ luôn phải tâm niệm làm việc thiện để tạo phúc đức cho con cháu; con cháu nên người nên nghiệp không được quên nhờ hưởng đức của mẹ cha, ông bà. Quan niệm chịu ảnh hưởng Nho giáo thường nhấn mạnh sự thừa kế địa vị quyền thế chính trị, tài sản kinh tế, truyền thống nghề nghiệp, truyền thống thi thư của gia đình, dòng tộc, từ ông / cha đến cháu / con trai; còn quan niệm nghiêng về ảnh hưởng Phật giáo lại quan tâm chủ yếu đến sự tu nhân tích đức của thế hệ trước, trong đó nổi bật vai trò người mẹ (Phúc đức tại mẫu / Con nhờ phúc mẹ…).

     1.2. Với phạm trù Luân hồi (Samsara)

     Triết học Phật giáo Ấn Độ trình bày tư tưởng về chuỗi kế tiếp của các kiếp sống: Kiếp hiện tại của mỗi cá thể là sự nối tiếp của vô vàn những kiếp sống đã trải qua trong quá khứ và sẽ còn được kế tiếp bởi vô vàn những kiếp sống tương lai. Karma-Samsara (Nghiệp báo-Luân hồi) gắn kết thành một cặp phạm trù, quan hệ giữa các kiếp Luân hồi chính là quan hệ Nghiệp báo: gieo gì trong kiếp trước thì gặt nấy trong kiếp sau. Hệ quả là người ta càng phải nỗ lực theo thiện tránh ác vì hành động trong kiếp hiện tại còn tạo tác cả số phận trong kiếp vị lai.

     Chịu ảnh hưởng triết học Nghiệp báo, ca dao, tục ngữ Việt Nam có nhiều câu nhắc đến nghiệp [“nghiệp báo”, “tội nghiệp”, “nghiệp chướng”…], kiếp [“kiếp trước” (“tiền kiếp”) – “kiếp này” – “kiếp sau” (“kiếp tái sinh”), “quả kiếp”, “mạt kiếp”…] và quan hệ tiếp nối, trả báo giữa các kiếp.

– Làm ác kiếp sau chịu tội

– Bởi chưng kiếp trước vụng tu

Kiếp này tu để đền bù kiếp sau

– Kiếp này trả nợ cho xong

Làm chi để nợ một chồng kiếp sau

     Trở đi trở lại khá nhiều là ý nguyện “trả nợ”, “đền bù” kiếp trước, trong đó, đặc biệt là đáp đền ơn nghĩa, ân tình đối với mẹ cha, đối với người yêu của một mối tình dang dở… Những câu này trong nội dung bề sâu kỳ thực đã mang nét “biến thể”: cấu trúc hình thức của tư tưởng Luân hồi nhiều khi chỉ để nhấn mạnh lòng biết ơn sâu nặng, nghĩa tình tha thiết, ước nguyện gắn bó thủy chung son sắt, chân thành:

– Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong

– Kiếp sau nguyện làm thân trâu ngựa mà trả nghĩa này

– Khuyên ai ăn ở cho lành

Kiếp này chẳng gặp để dành kiếp sau

– Đây anh không giận, đó em cũng chớ hờn

Kiếp tái sanh ta sẽ nối phím đờn tri âm

– Đôi ta là nợ là tình

Là duyên kiếp trước đôi mình kết giao

     Tư tưởng Nghiệp báo – Luân hồi thấm sâu vào tâm thức dân gian, trở thành xung lực tinh thần mạnh mẽ cho phấn đấu hướng thiện, tích đức tu nhân.

     Còn tiếp: Kính mời Quý độc giả đón xem tiếp

Hệ giá trị đạo đức phật giáo trong văn hóa Việt Nam (qua ca dao, tục ngữ) – Phần 2 

Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)