Kênh Thoại Hà – Dấu ấn đột phá của vương triều Nguyễn trên vùng biên địa An Giang

THOAI HA CANAL – A GREAT SUCCESS OF THE NGUYEN DYNASTY
IN THE BORDER AREA OF AN GIANG PROVINCE

Tác giả: PHẠM VĂN THÀNH
(Trường Đại học An Giang)

TÓM TẮT

     Năm 1802, nhà Nguyễn ra đời và tiếp quản một nước Việt Nam rộng lớn nhất trong lịch sử nên vấn đề bảo vệ chủ quyền, biên giới được đặt ra vô cùng bức thiết. Biên giới Tây Nam là vùng đất mới khai phá có nhiều biến động nên yêu cầu bảo vệ và phát triển càng trở nên cấp bách. Với tầm nhìn chiến lược về chính trị, quân sự và quốc phòng của chính quyền vương triều nhà Nguyễn, cũng như trải qua muôn trùng khó khăn, trở ngại nhưng quân dân Việt Nam lúc bấy giờ đã tạo ra một công trình thủy lợi đánh dấu bước đột phá đầu tiên của nhà Nguyễn – kênh Thoại Hà. Từ khi ra đời, kênh Thoại Hà đã giữ vai trò chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội lẫn quốc phòng của nhà Nguyễn trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

     Từ khóa: Kênh Thoại Hà, Thoại Ngọc Hầu, vương triều nhà Nguyễn, An Giang.

ABSTRACT

     The Nguyen Dynasty was born in 1802, then took their roles to manage the country during the history of Vietnam; and therefore, protecting the sovereignty and borders of the country was considered an urgent role. The Southwest border area has currently been explored together with its changes, so the protection and development towards the area is becoming importantly. Regarding the political, military and defense strategies as well as the challenges of the Nguyen Dynasty, Vietnamese people at that time built an irrigation that was considered a great success of the Nguyen – Thoai Ha canal. Based on its appearance, Thoai Ha played an important role in both the socioeconomic development and defense of the Nguyen Dynasty.

Keywords: Thoai Ha canal, Thoai Ngoc Hau, Nguyen Dynasty, An Giang.

x
x x

1. Đặt vấn đề

     An Giang có vị trí khá quan trọng, cùng với Kiên Giang có đường biên giới án ngữ phía Tây Nam của Tổ quốc tiếp giáp với Campuchia (Chân Lạp). Trong đó, An Giang có đường biên giới dài khoảng hơn 100 km, là nơi thường xuyên bất ổn về tình hình chính trị và quân sự với các nước láng giềng (Chân Lạp, Xiêm La) trong lịch sử. Do đó, ngay từ khi sáp nhập vùng đất An Giang dưới tên gọi Tầm Phong Long, các chúa Nguyễn và sau này là vương triều Nguyễn đã ra sức củng cố vững chắc nền quốc phòng an ninh, bảo vệ vùng đất này nhằm tạo ra một tấm lá chắn vững chắc cho cả vùng Nam Bộ ở phía sau. Năm 1802, sau khi lên ngôi, Gia Long bắt tay vào thực hiện kế sách quan trọng, với công trình trọng tâm mang tính đột phá cho cả vùng lãnh thổ rộng lớn là mở một hệ thống kênh đào nối liền liên lạc của hai vùng Long Xuyên – Rạch Giá vốn trước kia đã bịchia cắt. Tầm nhìn chiến lược quan trọng đó đã được vua, quan vương triều Nguyễn cụ thể hóa. Năm 1818, vua Nguyễn lệnh cho Thoại Ngọc Hầu  – Nguyễn Văn Thoại khơi đào kênh Thoại Hà với tầm chiến lược quan trọng nhằm giải quyết tình trạng khó liên lạc giữa vùng Long Xuyên vớiRạch Giá, tạo nên những điều kiện thuận lợi cho chính sách phát triển kinh tế – xã hội, đối ngoại cũng như chính sách phòng thủ vùng biên địa của Việt Nam với các nước láng giềng Xiêm La, Chân Lạp.

2. Thoại Ngọc Hầu với sự nghiệp đào kênh Thoại Hà

     2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Thoại

     Thoại Ngọc Hầu tên húy là Nguyễn Văn Thoại, ông sinh ngày 26 tháng 11 năm Tân Tỵ (1761) niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 22. Nguyên quán làng An Hải, tổng An Lưu, huyện Duy Phước, phủ Điện Đàn, tỉnh Quảng Nam (nay là vùng Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng). Song thân ông là cụ Nguyễn Văn Lượng và Nguyễn Thị Tuyết. Ông sinh ra vào thời buổi đất nước loạn lạc, chia cắt, cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh, phong trào nông dân Tây Sơn diễn ra nên ông cùng gia đình thân thuộc phải chạy vào Nam định cư ở cù lao Dài (nay thuộc huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) (Ủy Ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2009). Ông kết hôn với bà Châu Thị Tế, là con của hai cụ Châu Vĩnh Huy và Đỗ Thị Toán, là người của vùng này.

      Châu Thị Tế có sách chép là Châu Thị Vĩnh Tế sinh vào tháng 4 năm 1766 tại cù lao Dài, là vợ cả của Thoại Ngọc Hầu, là người có tầm ảnh hưởng lớn trong sự nghiệp của ông và góp công lớn vào việc xây dựng đất nước. Để ghi nhớ công lao của bà Châu Thị Vĩnh Tế, Minh Mạng đã lấy tên bà đặt tên cho núi, sông, làng. Châu Thị Tế mất năm 1826, miếu và mộ hiện nay vẫn còn ở chân núi Sam, cạnh tuyến quốc lộ 91 đoạn Châu Đốc – Tịnh Biên. Sau khi mất bà được phong là Nhàn Tĩnh phu nhân.

     Năm 1777, Thoại Ngọc Hầu đến đầu quân với chúa Nguyễn Ánh tại Ba Giồng (Định Tường). Điều này cho thấy rằng, ông khởi nghiệp bằng con đường võ nghiệp, trải qua nhiều chức vụ quan trọng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam và cuối cùng ông quyết định gắn trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp khai phá vùng đất An Giang và miền Tây sông Hậu. Trải qua hơn nửa thế kỷ tận tụy trong mọi công vụ được giao, trở thành bậc đại quan dưới hai triều vua Gia Long, Minh Mạng; lãnh tới chức Thống chế, Bảo hộ (đã có tới 7 lần ông được phái sang Xiêm, 2 lần sang Lào, 11 năm giữ trọng trách bảo hộ Cao Miên và với chức vụ Trấn Thủ Vĩnh Thanh) (Ủy Ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2009). Thoại Ngọc Hầu mất ngày mùng 6 tháng 6 năm 1829 (năm Kỷ Sửu) tại Châu Đốc, theo thông lệ khi mất đem thi hài về quê an táng, xây cất lăng tẩm ở quê nhà nhưng Thoại Ngọc Hầu quyết định gắn trọn cuộc đời mình với vùng đất An Giang. Vì vậy, ông đã chọn ngọn núi Sam để vĩnh viễn nằm lại nơi đây, thể hiện lòng sắt son sống chết cùng quê hương thứ ba của mình cũng là vùng Tân cương của Tổ quốc.

     2.2 Quá trình đào kênh Thoại Hà

     Công cuộc khẩn hoang vùng đất Nam Bộ nói chung và vùng đất An Giang nói riêng được tiến hành từ thế kỷ XVII, XVIII và nó được xúc tiến một cách mạnh mẽ vào những thập niên đầu của thế kỷ XIX. Tuy được khai phá nhanh hơn vào những thập niên đầu của thế kỷ XIX nhưng địa phận khai hoang chỉ giới hạn trong vùng đất giữa sông Tiền và sông Hậu, còn dải đất rộng mênh mông trong vùng tứ giác Long Xuyên vẫn còn bỏ ngõ. Việc đi lại giữa các vùng này gặp nhiều khó khăn do đường rừng núi trở ngại, bên cạnh đó việc sản xuất nông nghiệp không có điều kiện phát triển thuận lợi do đất nhiễm phèn, nhiễm mặn lại ít phù sa bồi đắp và thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Nhằm giải quyết thực trạng này thì nhà Nguyễn buộc phải đưa ra những chính sách có tính đột phá là tiến hành đào kênh tạo tuyến nội thủy liên kết giữa các vùng. Đồng thời, giúp cho việc tháo chua, rửa mặn, cải tạo đất được thuận lợi. Đây là một thách thức lớn do phương tiện và kỹ thuật lao động lúc bấy giờ còn thô sơ, lạc hậu chủ yếu là leng, xuổng, cuốc, ky… nhưng những lưu dân người Việt đi khai hoang thời ấy đã dám quyết định và dám vượt qua bằng sức lao động bền bỉ của mình. Chính những điều kiện trên mà ngay từ khi Gia Long lên ngôi cho đến thời Minh Mạng trị vì đã xúc tiến mạnh mẽ công việc đào kênh, đây chính là bước đột phá táo bạo tạo sự chuyển biến sâu sắc cho vùng đất An Giang – Kiên Giang (Phạm Văn Thành, 2015). Kết quả, từ năm 1818 – 1844, vua quan, quân và lưu dân người Việt, Chân Lạp, Chăm đã hoàn thành 3 công trình thuỷ lợi lớn (kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế, kênh Vĩnh An) có tầm chiến lược quan trọng trong việc phòng vệ vùng biên viễn cũng như những biến đổi về kinh tế – xã hội ngay tại thời điểm đó và sau này.

     Năm 1817, Thoại Ngọc Hầu lãnh chức trấn thủ Vĩnh Thanh, thấy việc giao thương trong vùng gặp nhiều khó khăn, mọi chuyện giao thương bấy giờ giữa miền duyên hải Hà Tiên, Rạch Giá, CàMau vào Sài Gòn – Gia Định đều phải đi vòng đường biển, hiểm nguy và rất bất tiện. Việc tạo ra những thủy đạo nối liền các trung tâm kinh tế ven sông Hậu với những trung tâm kinh tế bên bờ biển phía Tây như Hà Tiên, Rạch Giá là vô cùng quan trọng, mang tính lưỡng dụng cả về kinh tế và quốc phòng, an ninh (Phạm Văn Thành, 2015). Do đó, từ cuối năm 1817, Thoại Ngọc Hầu đã dâng biểu tấu trình về việc đào kênh và được vua Gia Long đồng ý xuống chỉ cho đào.

     Kênh Thoại Hà còn có tên là Ba Lạch, sách Đại Nam Thực Lục ghi là Tam Khê, được chính quyền nhà Nguyễn, mà trực tiếp là trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu chỉ huy lưu dân đào năm 1818 (Trịnh Hoài Đức, 2006).

     Địa điểm đào kênh Thoại Hà (Ba Lạch), rộng 8 tầm, sâu 14 thước, cách trấn lỵ Vĩnh Thanh 214 dặm, cửa sông ở bờ Tây sông Hậu, nguồn hướng về phía Tây 4 dặm rưỡi đến ngã ba hợp với sông Cần Đăng về Tây Nam 59 dặm, đến cửa sông Lạc Dục, từ đó mà về phía Nam 57 dặm rưỡi đến sông Song Giang (Trịnh Hoài Đức, 2006).

     Công việc chuẩn bị đào kênh Thoại Hà được triển khai từ tháng 11 năm Đinh Sửu (1817) đến mùa xuân năm Mậu Dần (1818) bắt đầu khởi công. Thoại Ngọc Hầu điều động dân Việt và Khmer 1.500 người, nhà nước cấp phát tiền, gạo, kênh được đào theo đường lạch cũ, nối rạch Đông Xuyên (Long Xuyên) tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập tiếp giáp sông Kiên Giang đổ ra biển Tây tại cửa Rạch Giá, nên việc nạo vét và đào cho rộng ra khá thuận lợi và nhanh chóng. Trong vòng một tháng, kênh đã hoàn thành với bề rộng 10 trượng (47 m) sâu 18 thước (8 m). Chiều dài 12.410 tầm (28 km) (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tập I).

     Công việc đào kênh đã xong, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ và làm sớ tâu lên triều đình. Vua Gia Long rất khen ngợi và xuống chỉ cho phép lấy tên ông đặt cho kênh mới đào là Thoại Hà (dân trong vùng còn gọi là Thụy Hà). Vua lại thấy bên bờ Đông của kênh có một trái núi, tục gọi là núi Sập, liền cho cải tên là Thoại Sơn (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tập I).

     Ý chỉ của nhà vua trong việc đặt tên núi, tên sông là để ghi nhớ công lao của trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu trong việc khâm mệnh triều đình tổ chức đào kênh Thoại Hà. Đáp lại ân sủng của vua, Thoại Ngọc Hầu đã soạn bài văn khắc vào bia đá, dựng miếu thờ sơn thần ở núi Sập. Đầu bia chạm to hai chữ “Thoại Sơn”. Năm Minh Mạng thứ ba (1822) ông long trọng làm lễ dựng bia tại miếu thờ Sơn Thần bên triền núi Thoại Sơn. Bia Thoại Sơn viết: “Mùa thu năm Đinh Sửu (1817), lão thần kính, được vua trao ấn phù giữ trấn Vĩnh Thanh, mùa xuân năm Mậu Dần (1818) dâng chỉ đốc suất đào kênh Đông Xuyên. Từ ngày thụ mệnh vua, sớm khuya kính sợ, đốn cây rậm, bới bùn lầy, đào kinh dài 12.410 tầm, trải qua một tháng thì xong việc, nghiễm nhiên trở thành ra một con sông to, luôn luôn ghe thuyền qua lại thuận lợi…” (Nguyễn Văn Hầu, 1999). Bia đá “Thoại Sơn” hiện nay vẫn còn, nét chữ chưa phai mờ.

     Kênh Thoại Hà, là công trình ghi dấu ấn đầu tiên của Thoại Ngọc Hầu trong công cuộc khai phá vùng đất An Giang và Nam Bộ. Công trình với ý nghĩa chiến lược quan trọng nối liền ngọn rạch Đông Xuyên (Long Xuyên) với ngọn Giá Khê (Rạch Giá) tạo nên một con kênh có giá trị lớn về giao thông, thương mại, nông nghiệp, làm thay đổi bộ mặt dân cư và ổn định đời sống xã hội vùng đất từ Long Xuyên đến Rạch Giá, thúc đẩy phát triển công cuộc phòng thủ biên giới Tây Nam của đất nước.

3. Tầm chiến lược quan trọng của kênh Thoại Hà đối với vùng đất An Giang

     3.1 Góp phần phát triển kinh tế và ổn định xã hội trên vùng đất biên địa An Giang

     Trong thời kỳ khai phá vùng đất Nam Bộ, di dân người Việt chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước. Khi đã khai thác hết những vùng đất thuận lợi nơi có nguồn nước ngọt dồi dào, người ta mới tính đến việc mở đất ở những khu vực khó khăn. Trước khi đào kênh Thoại Hà, dân cư chỉ tập trung thành cụm ở Hà Tiên, Rạch Giá, khu vực quanh đồn Châu Đốc, còn cả một vùng rộng lớn của khu tứ giác này hầu như chưa được khai thác. Rải rác có vài sóc người Miên biệt lập sống trên những giồng đất cao. Đầu thế kỷ XIX, chính quyền phong kiến tổ chức đào kênh Thoại Hà (1818) và kênh Vĩnh Tế (1819 – 1824) là một bước đột phá về việc di dân mở đất sản xuất nông nghiệp ở khu vực này. Nước ngọt từ sông Hậu chảy qua kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế rồi ra Biển Tây. Về mùa mưa nước đổ mạnh, lưu lượng nước trên sông Hậu rất lớn vì vậy kênh còn đóng vai trò điều tiết thủy văn với sông Hậu, giảm lụt ở phía hạ nguồn. Nhưng lớn hơn cả vẫn là việc tháo chua rửa mặn ở vùng tứ giác Long Xuyên. Ở đây, đất dần dần được ngọt hóa, là điều kiện thuận lợi cơ bản cho sản xuất nông nghiệp.

     Năm 1818, kênh Thoại Hà mới hoàn thành, sang năm 1819 kênh Vĩnh Tế đào xong đợt một, triều đình đã ra lệnh cho Thoại Ngọc Hầu tăng cường việc khai hoang lập làng. Dụ của nhà vua nói rằng: “Châu Đốc là đất xung yếu, ngươi nên khéo phủ dụ, mộ dân lập thành làng mạc để hộ khẩu ngày càng tăng, đồng ruộng ngày mở mang” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tập II). Sự ra đời của con kênh đã kéo dân theo các lạch nước mới đào tìm đất hoang để khai phá lập làng mới. Các thôn xóm mới dần dần mọc lên đan xen với những làng xóm cũ tạo ra sự đông đúc và trù phú ven đôi bờ Thoại Hà. Đến năm 1836, khu vực này đã thành lập được các làng như Thoại Sơn, Phú Hòa, Vĩnh Chánh, Vĩnh Phú, Vĩnh Thuận (Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2009). Sự ra đời của kênh Thoại Hà góp phần quan trọng hình thành hai điểm quần cư lớn, một ở Đông Xuyên với mật độ dân cư đông đúc gọi là Đông Xuyên Cảnh đạo và hai là khu vực ở vùng quanh chân núi Sập (Thoại Sơn) và núi Ba Thê (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2006). Kênh Thoại Hà đã phát huy vai trò và lợi ích tích cực trong việc phát triển kinh tế, ổn định dân cư nơi miền biên địa Tây sông Hậu. Từ đó, việc đi lại, thương hồ, nông nghiệp được thuận lợi rất nhiều, nhất là trong việc dẫn nước ngọt của sông Cửu Long vào tháo chua, rửa phèn cho ruộng đồng ngày một thêm màu mỡ. Đại Nam nhất thống chí chép: “Từ đấy đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2006).

     Thời kỳ khai phá ở Nam Bộ, người dân đi lại, giao lưu buôn bán chủ yếu bằng đường thủy. Những trung tâm kinh tế hình thành ở khu vực này đều nằm trên các bờ sông. Nơi đó là một phố thị tấp nập buôn bán, trên bến dưới thuyền. Có một thực tế bất cập ở khu vực Nam Bộ là giao thông đường thủy theo những con sông tự nhiên để nối liền các trung tâm kinh tế trong khu vực là rất khó khăn. Ghe thuyền phải đi theo các sông rạch quanh co mất nhiều thời gian và có lúc gặp trắc trở với thủy triều, khi nước cạn thì không đi lại được. Để khắc phục những khó khăn đó, triều đình nhà Nguyễn đã xúc tiến thực hiện việc đào kênh tạo nên những tuyến nội thủy liên kết các trung tâm kinh tế quan trọng của vùng. Nếu xem trên bản đồ ta sẽ thấy các kênh đào ở Nam Bộ đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Kênh đào theo hướng này là sự kết hợp giữa kênh đào với sông rạch tự nhiên, từ đó tạo thành tuyến thủy đạo có thể đi suốt từ Sài Gòn – Chợ Lớn đến tận Rạch Giá – Hà Tiên (Phạm Văn Thành, 2015).

     Nếu lấy Sài Gòn là địa điểm xuất phát, người ta sẽ đi theo kênh Ruột Ngựa ra sông Chợ Đệm đến Bến Lức bên bờ Vàm Cỏ Đông, sau đó đi vào kênh Bảo Định để đến sông Tiền. Nếu đi Châu Đốc, người ta ngược dòng sông Tiền, qua sông Vàm Nao để sang sông Hậu rồi tiếp tục ngược dòng sông Hậu để đến Châu Đốc. Từ Châu Đốc đến Hà Tiên thì đã có kênh Vĩnh Tế. Nếu muốn đến Rạch Giá thì từ Vàm Nao xuôi sông Hậu đến Long Xuyên rồi đi theo kênh Thoại Hà. Điểm lại trên tuyến thủy đạo này, chúng ta thấy hầu hết các kênh đào ở Nam Bộ đều có tham gia nối dòng. Có thể nói, để tạo được con đường giao thông này một cách hoàn chỉnh người Việt đã phải thực hiện hơn một thế kỷ, kể từ khi đào kênh Vũng Gù (Bảo Định) năm 1705, đến đào xong kênh Vĩnh Tế (1824).

     Kênh Thoại Hà, đánh dấu công trạng đầu tiên của Thoại Ngọc Hầu trong việc tạo ra một tuyến nội thủy rất quan trọng nối liền từ sông Hậu ra biển Tây trên cơ sở nạo vét và đào đắp nối liền hai con lạch Tam Khê và Đông Xuyên. Công trình là thành quả lao động gian khổ của nhân dân Việt Nam và Khmer với thiên tài chỉ huy của Nguyễn Văn Thoại, sau một tháng tiến hành đào kênh. Con kênh hoàn thành không chỉ mở ra khả năng phát triển mới mà còn phát huy được tiềm lực của vùng đất An Giang – Kiên Giang cả về mặt quân sự và kinh tế, thúc đẩy nhanh quá trình định cư và phát triển vùng đất mới của nhân dân Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ trong buổi đầu khai phá. Mặt khác, sự ra đời của kênh Thoại Hà là một sự gợi ý và hiện thực hóa ý tưởng của các vua Nguyễn tạo tiền đề cho sự ra đời của kênh Vĩnh Tế.

     3.2 Góp phần vào công cuộc phòng thủ biên giới Tây Nam và khẳng định chủ quyền trên vùng đất mới

     Các vua Nguyễn tiếp tục kế thừa chiến lược quốc phòng của các chúa Nguyễn trong điều kiện và hoàn cảnh mới với những sự điều chỉnh phù hợp tập trung trọng điểm chủ yếu trên vùng đất An Giang nơi dễ dàng kiểm soát đất “bảo hộ” Chân Lạp lại vừa dễ bề tiến thủ khi có giặc tấn công. Dựa vào địa hình sông nước mà giữ gìn biên cương vừa phát huy sức mạnh của thủy quân nhà Nguyễn lại vừa tạo ra sự đặc trưng trong cách đánh địch đó là phương cách độc đáo trong cách tổ chức thế trận quốc phòng Tây Nam của các vua Nguyễn. Mặc khác, vùng Thất Sơn sau thời gian dài khai phá dưới thời chúa Nguyễn nay lại được tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, đóng binh phòng giữ hỗ trợ tích cực về mặt bộ binh cho các lực lượng thủy binh nơi Cửu Long Giang. Chính điều này là động lực thúc đẩy sự ra đời của nhiều đồn bảo trên bộ ven biên giới với Chân Lạp bên cạnh các đồn đã lập từ thời trước.

      Vượt lên trên tất cả những ý tưởng quốc phòng của tiền nhân, chính quyền nhà Nguyễn đã cho thấy sự tươi mới trong cách phòng bị biên cương với cách làm mà từ trước đến nay chưa từng có tiền lệ đó là cho thiết lập đào hệ thống kênh nối liền các trung tâm kinh tế – chính trị quan trọng của vùng để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội và giữ nước. Đây được xem là bước đột phá vô cùng độc đáo, sáng tạo trong suốt ba đời vua đầu nhà Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng đến Thiệu Trị với ba công trình còn lưu danh hậu thế: kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh Tế (1819 – 1824), kênh Vĩnh An (1843 – 1844). Trong đó, kênh Thoại Hà được đánh dấu bước đột phá đầu tiên của vương triều Nguyễn trên vùng biên địa An Giang và người có công đầu trong sự đột phá này chính là Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại (Phạm Văn Thành, 2015).

     Kênh Thoại Hà là công trình mở đầu, giữ vị trí hết sức thiết yếu. Bên cạnh giá trị kinh tế, khai hoang phục hóa cải tạo một vùng đồng bằng rộng lớn dọc hai bên bờ kênh phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, an dân lập ấp, kênh Thoại Hà còn thể hiện tầm chiến lược quan trọng về mặt quốc phòng. Kênh Thoại Hà cho thấy tầm nhìn vượt hẳn thời chúa Nguyễn vì nó thông từ sông Hậu ra đến biển Tây, từ khu vực Đông Xuyên (Long Xuyên) ra đến Rạch Giá nơi đạo Kiên Giang thời chúa Nguyễn. Do đó, khi có giặc đồn Rạch Giá có thể thoái lui dễ dàng về Trấn Giang theo đường thủy nếu thất thủ, mặc khác có thể đưa quân nhanh chóng từ hệ thống phòng thủ ở Cửu Long Giang sang ứng cứu, khắc phục nhược điểm lớn thời chúa Nguyễn.

     Kênh Thoại Hà vừa mang tính chất của một công trình quân sự lại vừa có tác dụng kinh tế quan trọng làm thay đổi bộ mặt của cả khu vực rộng lớn từ Long Xuyên đến Rạch Giá. Con kênh đã mang đến sự lưu thông thuận lợi từ sông Cửu Long ra biển Tây và ngược lại, không chỉ các thương thuyền qua lại dễ dàng mà việc vận hành quân, chuyển lương đường thủy giữa hai khu vực trở nên thuận lợi. Từ đây khu vực từ Rạch Giá đến Cà Mau đã thật sự được chính quyền nhà Nguyễn kiểm soát thông qua các ngõ thủy đạo đã được thông dòng nội thủy từ Gia Định đến biển Tây. Đây là con kênh có giá trị quân sự to lớn trong công cuộc phòng thủ đất nước buổi đầu khai hoang mở đất.

     Có thể nói, kênh Thoại Hà là một công trình thủy lợi lớn của vùng Nam Bộ lúc bấy giờ nói chung và An Giang nói riêng, cho thấy vị trí chiến lược của vùng đất An Giang trong chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn, trong đó kênh Thoại Hà giữ vai trò tạo bước đột phá quan trọng đầu tiên của nhà Nguyễn trên vùng đất An Giang. Những phương cách tiến hành của chính quyền nhà Nguyễn thể hiện sự đột phá mạnh mẽ trong chiến lược quốc phòng trên vùng đất phương Nam. Kênh Thoại Hà vừa là cơ sở khẳng định chủ quyền biên giới quốc gia không thể chối cải của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ lại vừa là cơ sở trực tiếp cho công tác phòng thủ biên giới Tây Nam của vương triều Nguyễn, để lại lợi ích muôn đời cho hậu thế.

4. Thay lời kết

     Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, lịch sử cũng như xuất phát từ quá trình thực tiễn trong công tác xây dựng và bảo vệ vùng đất phía Nam nói chung và An Giang nói riêng, vương triều nhà Nguyễn phải lần lượt kiến tạo nên những công trình nội thủy độc đáo trên vùng biên địa An Giang – Kiên Giang. Sự hình thành của kênh Thoại Hà (1818) là sự tổng hợp của nhiều nhân tố, yếu tố trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau.

     Sự ra đời của kênh Thoại Hà ở An Giang trong thời kỳ này là một giải pháp đột phá đầu tiên của vương triều nhà Nguyễn để mở đường giao thông, phát triển thương mại, nông nghiệp, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình khai hoang, lập ấp, mở mang lãnh thổ. Đồng thời, sự ra đời của kênh Thoại Hà cũng là cơ sở nền tảng vững chắc giúp vương triều Nguyễn tiếp tục hoạch định kế sách củng cố quyền lực và tạo vững niềm tin khi cho đào những con kênh mang tầm chiến lược tiếp theo như kênh Vĩnh Tế (1819 – 1824), kênh Vĩnh An (1843 – 1844)./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

     Phạm Đức Hảnh. (2009). Lịch sử kênh đào Nam bộ thời nhà Nguyễn từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX. Luận văn Thạc sĩ Lịch sử. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

     Phạm Văn Thành. (2015). Hệ thống kênh đào ở An Giang thời Nguyễn thời kỳ 1802 – 1867. Luận văn Thạc sĩ Lịch sử. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

     Phan Khánh. (2005). Nam bộ 300 năm làm thuỷ lợi. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Nông nghiệp.

     Quốc sử quán triều Nguyễn. Viện sử học. (2007). Đại Nam thực lục, tập I. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

     Quốc sử quán triều Nguyễn. Viện sử học. (2007). Đại Nam thực lục, tập II. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

     Quốc sử quán triều Nguyễn. Viện sử học. (2006). Đại Nam nhất thống chí, tập 5. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa.

     Sơn Nam. (2009). Tìm Hiểu Đất Hậu Giang & Lịch Sử Đất An Giang. TP Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ.

     Trịnh Hoài Đức. (2006). Gia Định thành thông chí. Đồng Nai: Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai.

     Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng. (2009). Danh nhân Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học.

     Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang. (2013). Địa chí An Giang. Chịu trách nhiệm xuất bản Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Trường Đại học An Giang –
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 106 – 111

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Kênh Thoại Hà – Dấu ấn đột phá của vương triều Nguyễn trên vùng biên địa An Giang (Tác giả: Phạm Văn Thành)