Lễ hội Katê của người Chăm Bàlamôn

 ĐỜI SỐNG, LỄ HỘI, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI CHĂM

     Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm
Tác giả bài viết: Tiến sĩ  NGUYỄN ĐỨC TOÀN

     Katê là mùa lễ hội lớn trong năm của người Chăm Bà La Môn tại Ninh Thuận và Bình Thuận. Lễ hội Katê có ý nghĩa kính nhớ ông bà tổ tiên, những người đã khuất, tưởng nhớ đến các vị anh hùng dân tộc (được người Chăm suy tôn thành thần) như Pô Rô mê và Pô Klong Garai: các vị vua đã có nhiều công lao đối với người Chăm thuở xa xưa như kiến thiết đất nước, hướng dẫn làm thủy lợi và sản xuất nông nghiệp. Lễ hội Katê còn có ý nghĩa tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên bên ngoại (tức bên cha, vì người Chăm theo mẫu hệ). Tương tự ý nghĩa kính nhớ ông bà tổ tiên trong Katê, người Chăm có lễ Chabur (vào 15/9 lịch Chăm) để tưởng nhớ ông bà tổ tiên bên nội (bên mẹ). Chabur đồng thời là dịp sùng kính thần mẹ xứ sở Pô Nagar – vị thần lớn nhất của người Chăm. Lễ hội Chabur thường được tổ chức với quy mô nhỏ hơn so với lễ hội Katê.

     Những nghi lễ chính của Katê được diễn ra nơi các đền tháp. Ở Ninh Thuận, có ba địa điểm hành lễ là đền thờ Pô Nagar (ở làng Chăm Hữu Đức thuộc xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận), tháp Pô Romê (ở gần làng Chăm Hậu Sanh, thuộc địa bàn huyện Ninh Phước, cách trung tâm thị xã Phan Rang gần 20 Km về phía tây nam theo đường bộ) và tháp Pô Klong Garai (ở thị trấn Tháp Chàm, cách Phan Rang 5 Km theo đường quốc lộ 27 từ Phan Rang đi Đà Lạt).

     Theo truyền thống, ngày 1 tháng 7 lịch Chăm là ngày chính lễ của lễ hội Katê, được tổ chức tại các đền tháp của người Chăm. Vì thế, ngày này còn được gọi là ngày lên tháp. Tính theo dương lịch, ngày lên tháp tương ứng với khoảng thời gian từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10 dương lịch. Năm nay (2004), ngày lên tháp nhằm vào ngày 13/10 dương lịch. Đến ngày lên tháp, ngay từ khi trời chưa kịp sáng, khắp các palay Chăm (làng Chăm) của người Chăm Bà La Môn tại Ninh Thuận đã nhộn nhịp tiếng mọi người gọi nhau để chuẩn bị “lên tháp” (các tháp Chăm thường được xây dựng trên các ngọn đồi).

     Đến khoảng 7 – 8 giờ sáng hôm lên tháp, y phục của các “thần vua” được rước từ danok lên trên tháp để hành lễ. Theo truyền thống, y phục vua Chăm do người Raglai gìn giữ và được đem đến danok vào ngày kế trước hôm lên tháp. Ở Ninh Thuận có ba danok: danok vua Pô Rô mê ở làng Chăm Hậu Sanh, danok nữ thần Pô Nagar ở làng Chăm Hữu Đức và danok vua Pô Klong Garai tại làng Phước Đồng, cả ba danok đều nằm trên địa bàn huyện Ninh Phước. Đoàn rước “y-trang” (trang phục của vua) lên tháp gồm dàn cờ ngũ sắc, các cô gái Chăm múa lễ duyên dáng và rực rỡ trong chiếc áo dài Chăm nhiều màu, các vị chức sắc Bà La Môn Giáo và những thầy lễ dân gian trang trọng trong bộ lễ phục bước cạnh kiệu rước y trang, nối tiếp kiệu rước là các đông đảo đồng bào Chăm và du khách từ các nơi quy tụ về.

     Ngay khi đoàn rước đến vừa đến trước cửa tháp, các cô gái Chăm phụ trách múa lễ liền biểu diễn các vũ điệu Chăm truyền thống để chào đón các vị thần linh về dự lễ hội Katê. Tiếp đến là nghi thức rảy nước trong Lễ Mở Cửa Tháp do thầy Cả Sư (Pô Dhia) và các thầy Bà Xế (Pasêh) thực hiện và nghi thức tắm tượng (Pamưnay Yăng) được tiến hành nơi tượng thờ (bên trong lòng tháp hoặc tại chính điện của các đền thờ). Những nghi thức này xuất phát từ các tập tục bản địa vốn có nguồn gốc sâu xa là nền văn minh nông nghiệp lúa nước liên quan đến thuật cầu đảo (cầu mưa). Y phục vua Chăm được Pô Dhia làm lễ ban phước và trao cho Muk Pajâu (Bà múa lễ cộng đồng) mặc vào tượng vua trong tháp thờ. Sau khi tiến hành nghi thức tắm tượng, cuộc tế lễ bắt đầu.

     Trong khung cảnh trang nghiêm tại lòng tháp, tiếng thầy Kadhar kể tiểu sử và ca tụng công đức các vị thần hòa quyện với tiếng kèn saranai, đàn kanhi réo rắt và tiếng trống ginăng rộn rã. Trong khi đó, ở trước thềm cửa tháp, các phụ nữ Chăm bày biện la liệt các lễ vật cúng thần linh để cầu xin ơn lành, cầu cho gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Lễ vật có cả món ngọt lẫn món mặn như: ngạnh (dê), cơm, canh, món mặn, xôi, chuối, bánh ngọt, trái cây… . Thời gian cúng lễ trên tháp được kéo dài cho đến xế chiều và kết thúc vào khoảng 15 – 16 giờ cùng ngày bằng nghi lễ đóng cửa tháp. Trong khoảng thời gian từ lúc mở cửa tháp cho đến khi đóng cửa tháp, từng dòng người đông đảo tiếp tục tuôn về các đền tháp. Người lớn mang lễ vật đến cầu khấn được buôn may bán đắt, gia đình bình an, hòa thuận hoặc dâng lễ để tạ ơn thần đã đáp ứng lời cầu xin; thanh niên nam nữ cầu thần ban cho văn hay, chữ tốt, nghề nghiệp tinh thông, tình duyên mặn nồng… các phụ nữ hiếm muộn cũng tranh thủ dịp này để đến tháp cầu tự. Thông thường, những ai có nhu cầu được buôn may bán đắt, học hành tấn tới thì đến cầu với Pô Klong Garai, muốn có sức mạnh, uy dũng thì tìm đến Pô Romê, còn muốn cầu tự thì tìm đến với Pô Nagar. Sau khi cầu khấn cùng thần linh, mọi người lưu lại chút ít thời gian để cùng nhau chuyện trò, ghi hình kỷ niệm hoặc sum họp ăn uống… . Không chỉ có người Chăm lên tháp, mà còn có một số người Việt ở khu vực lân cận các tháp Chăm cũng đến cầu xin, cúng bái. Các du khách thường đến viếng tháp Pô Klong Garai mà ít đến tháp Pô Romê, do tháp Pô Klong Garai có vị trí gần quốc lộ và trung tâm thị trấn Tháp Chàm, thuận tiện cho các loại xe vào sát chân đồi tháp.

     Sẽ là một thiếu sót lớn nếu chỉ đến dự Katê vào ngày lên tháp, bởi vì theo truyền thống hàng năm, trong ngày tiếp đón y phục vua Chăm do đồng bào Raglai mang từ trên núi xuống (kế trước ngày lên tháp), tại làng Chăm Hữu Đức (Ninh Phước – Ninh Thuận) bao giờ cũng có tổ chức múa Chăm (múa quạt) với quy mô lớn. Các du khách sẽ bị choáng ngợp bởi khung cảnh hoành tráng và sự uyển chuyển của hàng trăm thiếu nữ Chăm vớinhững vũ điệu duyên dáng hòa nhịp cùng tiếng trống ginăng rộn rã. Cuộc múa diễn ra dưới ánh nắng cháy bỏng giữa trưa hè (khoảng 12 – 13 giờ trưa) của vùng đất Phan Rang khô hạn trong sự tham gia cổ động của cả ngàn người. Tiếp theo tiết mục múa Chăm là các hoạt động thi đấu thể thao. Buổi tối ngày hôm đó, cũng tại Hữu Đức, mọi người sẽ cùng dự đêm văn nghệ truyền thống Chăm để thưởng thức các điệu múa Chăm từ múa dân gian cho đến múa cung đình, những làn điệu dân ca từ cổ truyền cho đến hiện đại… .

     Katê có ba cấp độ là Katê đền tháp, Katê làng và Katê gia đình. Những ngày tiếp theo “ngày lên tháp” (Katê đền tháp), người Chăm tiến hành Katê làng. Tuần tự từng làng Chăm theo từng nhóm đền tháp tổ chức cúng Katê làng ở kajang (nhà lễ) của mỗi làng. Sau Katê làng, bà con người Chăm tiếp tục Êw Lithay (cúng ông bà) tại gia đình, gọi là Katê gia đình. Trong những ngày mừng tết Katê, ai đó có việc phải đi đâu xa cũng đều tranh thủ tìm về mái ấm gia đình. Người ta đến thăm hỏi nhau, tiệc tùng, vui chơi giải trí… Trong những ngày diễn ra lễ hội Katê, tại các làng Chăm thường có các hoạt động thể thao, giao lưu văn nghệ… . Ở làng dệt cổ truyền Mỹ Nghiệp (thuộc thị trấn Phú Quý – Ninh Phước – Ninh Thuận), đôi khi còn có hội thi tay nghề dệt và triển lãm các mặt hàng thổ cẩm do người Chăm sản xuất. Xưa kia, người Chăm ăn tết Katê trong một tháng, nay được gói gọn lại trong vài ngày. Đến dự lễ hội Katê là đến với nền văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm. Katê là dịp để mọi người gần gũi, gắn bó, đoàn kết, thương yêu nhau hơn. Đồng thời, Katê cũng là dịp vui chơi, giải trí sau một năm lao động miệt mài. Lễ hội Katê còn là môi trường sống động trong việc bảo lưu và phát triển văn hóa truyền thống Chăm, là một biểu hiện gìn giữ bản sắc dân tộc của cộng đồng người Chăm, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam đa dạng và giàu bản sắc.

Trích dẫn tệp PDF từ: Thư viện tỉnh Ninh Thuận

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Lễ hội Katê của người Chăm Bàlamôn (Tác giả: TS. Nguyễn Đức Toàn)