Thành ngữ tiếng Việt cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua sáng tác của một số nhà văn Nam Bộ tiêu biểu

 Trong bài viết này, sau khi chỉ ra các tiêu chí xác định thành ngữ, chúng tôi tiến hành phân tích cách sử dụng thành ngữ trong truyện ngắn và tiểu thuyết của một số nhà văn Nam Bộ tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết cũng đặt vấn đề đối chiếu với cách sử dụng thành ngữ trong một số tác phẩm xuất bản sau năm 2000 của các nhà văn đương thời nhằm tái tạo diện mạo thành ngữ tiếng Việt giai đoạn giao thời giữa hai thế kỷ.

Xem chi tiết

Tính trò chơi trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhìn từ phương diện văn hóa và tư duy

Là hiện tượng thi ca nổi bật trong văn học hậu kì trung đại Việt Nam, gần đây thơ Nôm Hồ Xuân Hương còn được tìm hiểu, đánh giá từ lý thuyết trò chơi. Bài viết này là bước đầu tìm hiểu giá trị về văn hóa và tư duy trong những sáng tác bằng chữ Nôm của Hồ Xuân Hương với tư cách là đối tượng khảo sát của lý thuyết trò chơi. Trong đó, không gian văn hóa lễ hội đậm chất trào tiếu dân gian cùng những phương diện thể hiện sự hoài nghi, giải trung tâm và tinh thần nữ quyền là những giá trị mang tính trò chơi cần được làm sáng tỏ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Xem chi tiết

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam từ bình diện một công trình nghiên cứu

Để giúp độc giả có thêm một cái nhìn “bên trong” đối với công trình nghiên cứu folkore đã trở thành cổ điển ấy, nhân chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh tác giả (1915 – 2015), dưới đây chúng tôi xin đăng bài viết của GS. Nguyễn Huệ Chi – nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học – dưới bút danh Hy Tuệ, viết từ 1996 kèm thêm bản dịch Anh ngữ của nhà thơ Dương Tường mới hoàn thành trong thời gian gần đây.

Xem chi tiết

Bàn về dịch thành ngữ Anh-Việt (trên cơ sở ngữ liệu các thành ngữ có yếu tố màu sắc: xanh, đen, đỏ, trắng)

Tất cả các ngôn ngữ đều có thành ngữ [Langlotz, 2006; Wright, 1999]. Thành ngữ là sản phẩm ngôn từ của một ngôn ngữ [Nguyễn Đình Hùng, 2009], đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người bản ngữ một cách tự nhiên và, bởi vậy, trở thành vốn từ vựng quan trọng trong kho từ vựng của mỗi ngôn ngữ. Thành ngữ phản ánh những quan sát, cảm nhận và mang đặc trưng văn hóa và tư duy riêng của người bản ngữ. Thành ngữ vì thế là một kho báu bao chứa những trầm tích văn hóa đặc sắc và phong phú của một nền văn hóa.

Xem chi tiết

Nhà Nguyễn với việc quản lý và sử dụng hệ thống chùa sắc tứ

Chùa sắc tứ là ngôi chùa được vua nhà Nguyễn ban sắc chỉ chấp nhận chính thức và có tên trong danh sách của Bộ Lễ. Thời nhà Nguyễn, chùa sắc tứ xuất hiện ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Ở giai đoạn đầu, chỉ chùa tổ đình, đại danh lam, quốc tự mới được liệt vào hàng sắc tứ. Về sau, việc ban sắc tứ cho các ngôi chùa có phần dễ dãi hơn. Tất cả những ngôi chùa này được triều đình nhà Nguyễn quản lý, sử dụng bằng nhiều quy định đôi khi rất chi tiết.

Xem chi tiết

Đôi nét về bình phong ngoại án thời Nguyễn ở Huế

Là một thành phần quan trọng trong kiến trúc Huế, bình phong mang ý nghĩa triết học phương Đông, chống sự không may ở lĩnh vực tâm linh cho gia chủ, chống khí độc/quỷ sứ tác động tới điện thần, cung điện… Bình phong còn biểu hiện về vị thế của chủ nhà, đặc biệt là một điểm nhấn nghệ thuật cho cả toàn kiến trúc.

Xem chi tiết

Bàn về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế

Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tồn tại một cách đương nhiên và ngày càng gia tăng trong hoạt động thương mại quốc tế. Cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT trong thương mại quốc tế xuất phát từ mối quan hệ vốn có, chặt chẽ giữa ba yếu tố: cạnh tranh – SHTT – thương mại quốc tế. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập một cách khái quát mối quan hệ giữa cạnh tranh, SHTT và thương mại quốc tế, đồng thời nêu lên các dạng hành vi cơ bản phát sinh từ mối quan hệ này.

Xem chi tiết

Vũ đạo trong nghệ thuật sân khấu Dù Kê

Từ đặc điểm yêu chuộng cái hay, cái đẹp mà người Khmer Nam Bộ đã không ngừng miệt mài sáng tạo và cho ra đời một loại hình nghệ thuật mới, nghệ thuật sân khấu Dù kê. Đối với loại hình nghệ thuật sân khấu này, vũ đạo đóng vai trò chủ đạo. Ngoài việc kế thừa từ các loại hình múa của tổ tiên họ, người Khmer còn không ngừng sáng tạo và tiếp thu những nét tinh túy của các loại hình nghệ thuật của các dân tộc khác tạo nên một loại hình nghệ thuật mới đầy tính thu hút…

Xem chi tiết

Dấu ấn văn hóa nông nghiệp và sông nước trong thành ngữ – tục ngữ Khmer Nam Bộ

Trong nội dung bài báo, chúng tôi bước đầu tìm hiểu những hình ảnh mang dấu ấn của nền văn hóa nông nghiệp và sông nước trong thành ngữ – tục ngữ Khmer Nam Bộ. Đó là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi trong sản xuất nông nghiệp: cây lúa, hoa màu, các con vật; những dòng sông, con rạch, các phương tiện di chuyển trên sông,… Những hình ảnh này không chỉ làm cho nội dung phản ánh của thành ngữ – tục ngữ Khmer Nam Bộ phong phú hơn mà còn góp phần khẳng định bản sắc văn hóa người Khmer Nam Bộ.

Xem chi tiết

Luân thường nho giáo đối với sinh hoạt Ca Trù Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XV đến nửa cuối thế kỷ XIX

Về ảnh hưởng của Nho giáo đối với các nước Đông Á nói chung và Việt Nam nói riêng, các học giả đã có nhiều bài viết trên phương diện chính trị – xã hội, nhưng trên phương diện văn hóa – nghệ thuật còn ít được quan tâm. Bài viết nghiên cứu một hiện tượng văn hóa phổ biến ở Việt Nam (giai đoạn từ thế kỷ XV đến nửa cuối thế kỷ XIX), đó là sinh hoạt ca trù (hát ả đào, hát cô đầu); ảnh hưởng của luân thường Nho giáo tới loại hình sinh hoạt văn hóa này.

Xem chi tiết

Đặc trưng trong tang ma của người Sán Chỉ

Bài viết phân tích các đặc trưng trong tang ma của người Sán Chỉ tại Việt Nam. Theo tác giả, giống như một số dân tộc thiểu số cư trú tại vùng núi phía Bắc, người Sán Chỉ vẫn còn duy trì nhiều hình thức tang chế với những tập tục, kiêng kị riêng về cách “quản lý” linh hồn, khâm liệm, chuẩn bị hành trang cho người quá cố về với thế giới bên kia, về cách cúng tế, trang trí quan tài, di quan, chôn cất… Trong cách tang ma của người Sán Chỉ có nhiều quan niệm độc đáo về đời sống tín ngưỡng tâm linh.

Xem chi tiết

Bảo tồn và phát huy giá trị các tác phẩm điêu khắc Champa ở Thừa Thiên Huế

Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ XIX, một phần miền Trung Việt Nam (từ Quảng Bình đến Bình Thuận) là lãnh thổ của vương quốc Lâm Ấp – Champa. Mặc dù vương quốc này không còn tồn tại, nhưng những di sản văn hóa Champa gồm kiến trúc đền tháp, thành lũy, các công trình khai thác nước, các tác phẩm điêu khắc… vẫn còn hiện diện rõ nét với thời gian. Các di sản văn hóa này là tài sản quý giá của dân tộc và nhân loại.

Xem chi tiết

Giáo dục ở tỉnh Hà Đông thời Pháp thuộc

Hà Đông là một trong những tỉnh có truyền thống khoa bảng nổi tiếng cả nước. Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, giáo dục tỉnh Hà Đông có những thay đổi đáng kể. Ở làng xã, chính sách cải lương hương chính của chính quyền Pháp đã làm thay đổi bộ mặt làng xã, trong đó có giáo dục. Bài viết nghiên cứu về giáo dục làng xã trước và sau khi thực hiện chính sách cải lương hương chính ở tỉnh Hà Đông; tác động của chính sách cải lương hương chính đến giáo dục làng xã tỉnh Hà Đông thời Pháp thuộc.

Xem chi tiết

Núi sông xứ Huế qua Ô Châu cận lục

Sách Ô Châu cận lục do Tiến sĩ Dương Văn An (người Quảng Bình) biên soạn xong vào năm 1555 sau khi dựa vào 2 tập viết tay của 2 Nho sinh đồng hương viết về vùng Thuận-Quảng. Đây là sách địa phương chí đầu tiên của vùng đất này. Nó mang nội dung phong phú và giá trị cao về học thuật. Bài viết này chỉ đề cập đến 4 ngọn núi (Thương Sơn, Hương Uyển, Quy Sơn, Hải Vân) và 2 con sông (Linh Giang, Đan Điền) của xứ Huế mà tác giả sách ấy đã ghi chép gần 500 năm trước nhưng vẫn còn có giá trị đến ngày nay. Khi viết Ô Châu cận lục, cổ nhân đã thổi hồn mình vào trong tác phẩm bất hủ này.

Xem chi tiết

Một vài nhận xét về mối quan hệ giữa chúa Nguyễn Ánh – Vua Gia Long với người Khmer Nam Bộ

Trong quá trình khai phá vùng Đồng bằng sông Cửu Long (còn gọi là Nam Bộ), cộng đồng người Khmer1 có vai trò quan trọng. Họ không chỉ là lớp người đầu tiên đến khai phá, lập thành phum sróc, làng, ấp mà còn có những đóng góp to lớn về nhân lực, vật lực, tài lực cho sự nghiệp “trung hưng” của chúa Nguyễn Ánh (cuối thế kỷ XVIII) cũng như xây dựng và quản lý đất nước của vua Gia Long (đầu thế kỷ XIX). Trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra một số nhận xét về mối quan hệ mật thiết giữa chúa Nguyễn Ánh – vua Gia Long với người Khmer ở Nam Bộ.

Xem chi tiết

Đôi nét khái quát về văn hóa Thừa Thiên Huế*

Bài viết gồm hai phần chính. Phần một đưa ra kiến giải của tác giả về cội nguồn của các địa danh Huế, Thừa Thiên, Thừa Thiên Huế đồng thời xác định vị trí của tiểu vùng văn hóa Huế (mà văn hóa Thừa Thiên Huế là hạt nhân của văn hóa xứ Huế) trong vùng văn hóa Bắc Miền Trung. Phần hai phân tích hiện tượng giao thoa giữa các lớp văn hóa trên vùng đất Thừa Thiên Huế: Lớp trầm tích văn hóa của cư dân tiền trú (Champa); Lớp bồi đắp nền tảng của người Việt từ cả hai miền Nam Bắc đến Huế; Lớp giao thoa văn hóa với người gốc Hoa;…

Xem chi tiết

Địa danh Bảy Núi

Bài viết này góp phần vào việc tìm hiểu về một địa danh nổi tiếng ở An Giang mà cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Địa danh Bảy Núi trong thư tịch Sách Gia Định thành thông chí (1820), ghi nhận trấn Vĩnh Thanh có 18 ngọn núi gồm: Ba Thê, Thoại Sơn, Tà Chiếu, Trà Nghinh, Tượng, Ca Âm, Nam Sư, Khê Lạp, Chút, Tà Biệt, Ba Xùi, Ất Giùm, Chơn Giùm, Nam Vi, Đoài Tốn, Sâm Đăng, Đại Bà Đê, Tiểu Bà Đê.

Xem chi tiết

Biểu tượng hoa cau trong lễ cưới của người Khmer Nam Bộ

Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, tác giả bước đầu tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của biểu tượng “hoa cau” trong lễ cưới của người Khmer. Qua đây, một mặt nhằm khẳng định giá trị văn học của biểu tượng “hoa cau” được thể hiện qua một số bài dân ca trong đám cưới, mặt khác góp phần khẳng định thêm giá trị văn hóa đặc sắc trong phong tục cưới hỏi của người Khmer Nam Bộ.

Xem chi tiết

Phương thức định danh cho các đối tượng địa lý ở tỉnh Quảng Bình

Bài viết trình bày giới thuyết chung về phương thức định danh. Nêu cách thức định danh cho các đối tượng địa lý của vùng đất bao gồm phương thức định danh tự tạo và phương thức chuyển hóa với một số cách đặt tên cụ thể, điển hình ở địa danh tỉnh Quảng Bình. Qua đó thấy được nét chung trong phương thức tạo lập địa danh của các địa phương khác trong nước và đặc điểm riêng trong cách gọi tên các đối tượng địa lý ở Quảng Bình.

Xem chi tiết

Khảo cổ học với tu bổ, tôn tạo di tích (Qua trường hợp di tích đền – chùa Bà Tấm, Gia Lâm – Hà Nội)

Qua khai quật phế tích đền – chùa Bà Tấm (Gia Lâm, Hà Nội, có niên đại vào thế kỷ XI – XII), tác giả nhận thấy, có nhiều lớp văn hoá chồng lên nhau và có nhiều giá trị riêng biệt. Vì thế, không thể dựng ngôi chùa mới lên trên khu vực này, việc tôn tạo cần đẩy lên phía trước (trong khuôn viên chùa) để phục vụ yêu cầu tôn tạo và tín ngưỡng của nhân dân.

Xem chi tiết