Quá trình hình thành và phát triển CHỢ ở miền ĐÔNG NAM BỘ – Phần 3: VAI TRÒ của HỆ THỐNG CHỢ đối với KINH TẾ, XÃ HỘI

LÊ QUANG CẦN
(NCS chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Vinh)

3. Vai trò của hệ thống chợ đối với kinh tế, xã hội

     3.1 Đối với kinh tế

     Miền ĐNB hình thành và phát triển hơn ba trăm năm qua với bao thay đổi theo thời gian. Hệ thống chợ nơi đây hình thành và phát triển gắn liền với sản xuất hoa lợi địa phương và giao lưu kinh tế thế giới. Khi mới thành lập, hệ thống chợ nơi đây có quy mô hoạt động nhỏ. Theo thời gian, hệ thống chợ miền ĐNB mở rộng dần quy mô buôn bán, phạm vi hoạt động từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu vùng xa.

     Hệ thống chợ miền ĐNB góp phần thúc đẩy phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế địa phương. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, hệ thống chợ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giữ vai trò quan trọng thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy, Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã xác định tầm quan trọng của hệ thống chợ miền ĐNB nói riêng, cả nước nói chung bằng nhiều văn bản mang tính pháp quy. Năm 2015, hàng loạt hiệp định thương mại được ký kết giữa Việt Nam và nhiều đối tác có hiệu lực. Trong thời gian tới, nhiều loại hàng hoá sẽ giảm thuế xuất nhập khẩu, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Vì thế, nguồn thu ngân sách quốc gia trong thời gian tới sẽ tập trung từ sự phát triển kinh tế nội địa, trong đó, hệ thống chợ miền ĐNB có nhiều đóng góp đáng kể.

     3.2 Đối với xã hội

     Từ xưa đến nay, chợ là một phần văn hoá không thể thiếu hàng ngày của người Việt Nam. Chợ là nét đẹp văn hoá ứng xử cộng đồng, là biểu hiện gương mặt văn hoá vùng miền.

     Hệ thống chợ miền ĐNB là cầu nối quan trọng thúc đẩy giao lưu văn hoá cộng đồng dân cư nơi đây. Vùng đất miền ĐNB đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chợ ở nơi này trở thành nhân chứng cho bao nhiêu sự thay đổi kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội. Ngoài vai trò trao đổi hàng hoá, thúc đẩy phát triển kinh tế, chợ còn là nơi bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống lại vừa là nơi giao lưu, tiếp biến và lan tỏa các giá trị văn hoá mới Hoa – Pháp – Hoa Kỳ. Do đó, hoạt động của chợ là một trong những nhân tố quan trọng định hình văn hoá miền ĐNB nói chung, văn hoá Đồng Nai nói riêng trở thành “nền văn hoá có sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Đó cũng là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” (33).

__________
(33) Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng (2005), Văn hóa Đồng Nai (sơ thảo). Nxb Đồng Nai, tr3.

4. Đặc điểm chợ ở miền Đông Nam Bộ

     Chợ ở đồng bằng Bắc Bộ thường được hình thành giữa làng, giữa đô thị. Chợ ở ĐNB có sự bố trí khác hơn chợ ĐNB thường không hình thành giữa các làng mà chủ yếu được thành lập ở ven biển, ven sông, ven kênh rạch. Một trong những yếu tố quyết định địa điểm lập chợ ở vùng đất này là giao thông đi lại. Khi xưa, ở ĐNB việc đi lại bằng đường bộ rất khó khăn nên cư dân chủ yếu di chuyển bằng đường sông. Vì thế, hầu hết các chợ ở đây đều hình thành ở ven biển, ven sông, ở cù lao, ven kênh rạch như chợ Bà Rịa, chợ Vũng Tàu, chợ Bến Đình, chợ Cần Giờ, chợ Bến Thành, chợ Biên Hoà, chợ Thủ Dầu Một, chợ Bến Gỗ, chợ Tân Uyên, chợ Bến Cá, chợ Chiếu (Cù Lao Phố)…

     Thời gian họp chợ ở ĐNB không giống như nhiều chợ ở Bắc Bộ. Ở miền này không có loại hình chợ phiên như ở Bắc Bộ. Chợ ở ĐNB có hai loại hình họp chủ yếu: Chợ tỉnh, chợ huyện có thể buôn bán suốt cả ngày, chợ làng xã chỉ họp chợ vào buổi sáng từ ba bốn giờ sáng đến gần trưa thì chấm dứt hoạt động buôn bán.

     Thời gian hình thành các chợ ở ĐNB không đồng nhất. Miền ĐNB là vùng đất mới khai phá, nên chỗ nào có điều kiện thuận lợi hơn, dân cư tập trung đông hơn, làng xóm ra đời sớm hơn, thì chợ làng nơi đó cũng hình thành sớm hơn. Có lẽ chợ hình thành sớm nhất nơi này là chợ Bà Rịa, chợ Vũng Tàu, chợ Bến Đình, chợ cần Giờ, chợ Bến Thành, chợ Biên Hoa, chợ Thủ Dầu Một, chợ Bến Gỗ, chợ Tân Uyên, chợ Bến Cá, chợ Chiều (Cù Lao Phố)…

     Quy mô chợ ở đây tuỳ thuộc vào sự tập trung buôn bán của cư dân trong vùng và các vùng lân cận. Chợ Bến Thanh, chợ Bà Rịa, chợ Biên Hoà, chợ Thủ Dầu Một là những chợ lớn nhất ĐNB, gắn liền với sự hình thành và phát triển của thương cảng Cù Lao Phố, Sài Gòn vang danh một thời. Do địa hình bị phân tán, hệ thống chợ ở vùng đất này khá nhiều, hoạt dông buôn bán phong phú, đa đạng, đáp ứng nhu cầu phục vụ người dân.

5. Kết luận

     Hệ thống chợ ở miền ĐNB hình thành, phát triển đến nay đã hơn ba trăm năm. Gắn liền quá trình sinh cơ lập nghiệp của lưu dân Việt, Hoa, hệ thống chợ ở ĐNB đã trở thành đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phẩn ổn định tình hình chính trị, xã hội địa phương.

     Sự ra đời, phát triển hệ thống chợ ở ĐNB góp phần giao lưu văn hoá và gìn giữ văn hoá truyền thống dân tộc. Đồng thời, việc mua bán, trao đổi hàng hoá của hệ thống chợ ở đây đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động giao lưu văn hoá khu vực và thế giới.

     Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá thương mại diễn ra mạnh mẽ, hệ thống chợ ở miền ĐNB đứng trước nhiều vận hội và thách thức. Sự chủ động chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với phát triển của hệ thống chợ ở miền ĐNB nói riêng, cả nước nói chung bằng nhiều cơ chế, chính sách phù hợp đã đáp úng nhu cầu hội nhập sâu rộng kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Quang Cần, Hội thảo khoa học quốc tế, 40 năm thống nhất đất nước với công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế (1975-2015) do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức 27/4/2015.

2. Trịnh Hoài Đức ( 1972), Gia Định thông chí, Tập thượng, Quyển I và II, Nxb Văn hoá – Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hoá, Sài Gòn; Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 1 (Phiên dịch: Nguyễn Ngọc Tỉnh, hiệu đính: Đào Duy Anh), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.

3. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, tập hạ, dịch giả Tu Trai Nguyễn Tạo, Phủ quốc vụ khanh Đặc trách văn hoá.

4. Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng (2005), Văn hoá Đồng Nai (sơ thảo), Nxb Đồng Nai.

5. Trần Văn Giàu, Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP. Hồ Chí Minh.

6. Nguyễn Thanh Lợi (2015), Sài Gòn đất và người, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.

7. GS.TS Ngô Văn Lệ (2009), “Văn hoá người Việt Nam Bộ: Truyền thống và biến đổi”, in trong kỷ yếu khoa học, Mấy vấn đề lịch sử xã hội – đề án khoa học xã hội cấp nhà nước – Quả trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ.

8.Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch mới của Hoàng Văn Lâu, tập 2, Nxb Lao động.

9. UBND tỉnh Đồng Nai, Địa chí Đồng Nai, tập 4, Nxb. Đồng Nai.

10. M. Robert (1923), Địa chí tỉnh Biên Hoà, Nguyễn Yên Tri dịch từ tiếng Pháp, lưu trữ tại bảo tàng Đồng Nai – Ký hiệu tài liệu: BT ĐN/CS5.1

11. Tỉnh ủy Đồng Nai (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ VII, Đồng Nai.

12. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2005), Địa chí Bà Rịa – Vũng Tàu, Nxb KHXH Hà Nội.

13. Nguyễn Đình Thống (2011), Xứ Mô Xoài – địa điểm định cư lập làng đầu tiên của người Việt trên đất Nam Bộ, Nxb Thế Giới.

14. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1996), Quyết định số 1999/QĐ.UBND ngày 27/8/1996 về phê duyệt dự án đầu tư trung tâm thương mại thị xã Bà Rịa.

15. UBND thị xã Bà Rịa (1998), Báo cáo phương án hoàn vốn xây dựng chợ chính trung tâm thương mại thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

16. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Quyết định số 2942/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại và hệ thống chợ tỉnh giai đoạn 2013-2025.

17. Sơn Nam (2014), Sài Gòn xưa- Ấn tượng 300 năm và tiếp cận với đồng bằng sông Cửu Long.

18. Lê Trung Hoa chủ biên (2003), Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ.

19. Huỳnh Lứa chủ biên (1978), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb TP Hồ Chí Minh.

20. Nguyễn Các Ngọc (2014), Chợ Bến Thành qua cuộc trăm năm, Nxb. Hội nhà văn.

Nguồn: Giảng dạy nghiên cứu Việt Nam học và tiếng Việt
– Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn
Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com)

Hình: Ban Tu Thư (thanhdiavietnamhoc.com) sưu tầm & thiết lập ảnh tone màu sepia.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *