TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ (P.52) – Phần 1
NGUYỄN CUNG THÔNG[i]
Trong cuộc đời người, không có một sự kiện gì mà có thể ảnh hưởng đến 3 (ba) năm liên tục, thay đổi hầu như tất cả các hoạt động thường ngày, như việc cha mẹ qua đời. Ngay cả sinh nhật, dựng vợ gả chồng cũng không đòi hỏi nhiều thay đổi /thời gian và cuộc sống như vậy, td. theo như truyền thống cư tang thì phải để tang suốt 3 năm cho cha hay mẹ. Do đó, ta có thể nói việc tang chế là một sự kiện quan trọng nhất trong đời người Việt Nam theo truyền thống, đặc biệt còn mang dấu ấn của đạo hiếu /Nho giáo và tôn giáo như đạo Phật chẳng hạn. Vấn đề trở nên cực kì phức tạp khi ảnh hưởng của Đạo giáo, Khổng giáo và Phật giáo đan xen lẫn nhau cùng với tín ngưỡng của bản địa truyền lại từ ngàn xưa. Trong tài liệu Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 đến 1646, LM de Rhodes cũng từng ghi nhận[i] – qua bản dịch bằng tiếng Pháp của LM HENRI ALBI dòng Tên cùng thời – rằng ‘ … Trên quả đất có người ở này, không có một dân tộc nào kính trọng và tôn sùng người qua đời bằng vương quốc An Nam …’. LM G. F. DE MARINI cũng nhận xét (1663, sđd) khá tinh tế rằng – tạm dịch /NCT: ‘ … Không cái gì mà nước này sợ bằng sự chết, vậy mà không có lễ hội nào long trọng bằng việc tổ chức một đám tang, lúc mà người ta thể hiện ân nghĩa với người quá cố và bạn bè … Vì người ta không sợ hành hạ bởi người sống so với người đã chết, vì mức đau khổ do người sống gây ra không so bì được với những gì người chết có thể làm được. Thành ra, đám tang của một người luôn luôn hao tốn nhiều hơn so với số tiền bỏ ra xây nhà và bảo trì nhà này cho người đó khi còn sống“.
Phần này tập trung vào các thông tin ghi nhận trong từ điển VBL và các tài liệu dùng chữ quốc ngữ từ kỳ phôi thai. Dựa vào các tài liệu như “Thọ Mai Gia Lễ”, của HỒ SỸ TÂN (1690-170) liên hệ sâu xa đến “Chu Công Gia Lễ”, khai triển từ “Hồ Thương Thư Gia Lễ ” của danh thần Hồ SỸ DƯƠNG (1621-1681, ông nội của Hồ Sỹ Tân). Các tang lễ theo truyền thống rất phức tạp và khác nhau tùy theo gia đình hay địa phương và dùng nhiều từ Hán Việt. Dựa vào các bản “Thọ Mai Gia Lễ” được chép lại, tài liệu vào đầu TK 20 như “Việt Nam Phong Tục” (Phan Kế Bính) và “Cô Mai – Scènes de la vie annamite” chương XIV – tác giả GEORGES SEILER (bút danh của nhà Hán học Georges Cordier). Đặc biệt là cuốn “A Description of the kingdom of Tonqueen” của tác giả /thương gia SAMUEL BARON (khoảng 1685): ông có cha là người Hà Lan và mẹ là người Kẻ Chợ (Thăng Long) và từng sống ở Đàng Ngoài nên các quan sát /hình minh họa và ghi chép của ông rất đáng quan tâm. Tài liệu bằng tiếng Pháp “Le rituel funéraire des Annamites: Étude d’ethnographie religieuse” của DUMOUTIER (1904) ghi rất chi tiết các tục lệ trong đám tang ở Bắc Kỳ (1904): giải thích các kinh kệ đọc bằng tiếng Việt, Hán và có khi xen lẫn tiếng Phạn; ngoài ra còn một chương về các loại phù chú và ý nghĩa của chúng với nhiều hình vẽ minh họa ở phần cuối sách. Đại khái một đám tang truyền thống có các lễ như sau: 1) mộc dục (tắm gội người chết), 2) khâm liệm (quấn vải) gồm tiểu liệm (vải bao người chết, bọc trong) và đại liệm (bọc ngoài), 3) phạn hàm (ngậm hàm), 4) hạ tịch (đặt trên chiếu), 5) chiêu hồn /phục hồn, 6) nhập quan, 7) thành phục (trang phục tang lễ tùy theo liên hệ huyết thống), 7) chiêu tịch diện (lễ cúng cơm chiêu /buối sáng, tịch /buổi tối), 8) thổi kèn giải (phường bát âm), 9) cầu siêu, 10) phạt mộc (dùng dao chém /gõ vào quan tài), 11) di quan /động quan /chuyển cữu, 12) nghi trượng : thể kỳ[ii], minh tinh, hương án, thực án, nhà táng, đồ mã … cùng đưa đi đường khi chôn cất, 13) hạ huyệt /hạ khoáng gồm có cúng thổ thần sau khi xem phong thủy (địa lí), lễ đắp mồ, lễ đốt mã …, 14 ) ngu tế[iii] gồm có sơ ngu (cúng sau 1 ngày), tái ngu (cúng ngày thứ 2) và tam ngu (cúng vào ngày thứ 3), 15) tam chiêu (nghi lễ sau 3 ngày), 16) tuần đàn /tuần thất (nghi lễ sau 7 ngày /1 tuần), 17) chung thất (nghi lễ sau 49 ngày), 18) tốt khốc (tốt là thôi /hết, nghi lễ sau 100 ngày), 19) tiểu tường (giỗ đầu sau 1 năm), 20) đại tường (giỗ sau 2 năm), 21) đàm tế (bỏ hết tang phục trở lại bình thường) gồm có lễ xả tang (mãn tang) …, 22) cải táng (sang cát /bốc mộ) thường sau 3 hay 5 năm, v.v… Như vậy là có ít nhất 22 nghi lễ chính mà người viết (NCT) đã ghi nhận được, trong đó không kể đến các nghi lễ liên hệ khác như: a) khấn vái trong lúc cầu hồn, nhập quan…, b) đốt mã (trong khi cúng tế ở nhà và khi hạ huyệt ở ngoài), c) hồn bạch để trên bàn thờ (để thu lấy hồn người chết), d) các loại áo tang và thời gian mặc và để tang – thường có năm bậc (ngũ phục) như trảm thôi (cho đại tang 3 năm), tư thôi (cho tang 1 năm), đại công (cho tang 9 tháng), tiểu công (cho tang 5 tháng), ti ma (cho tang 3 tháng), e) xem ngày /xem tuổi khi nhập quan hay hạ huyệt (td. tránh trùng tang hay điềm xấu), f) tìm địa điểm phương hướng (phong thủy) để đặt quan tài ở nhà hay khi chôn, g) các bài văn tế/điếu văn /truy điệu cho các giai đoạn trong tang lễ; cáo đạo lộ (trước khi di quan), h) các điều kiêng kỵ như cha mẹ không đi đám ma con cái, người mang thai không đi đám tang, nhốt mèo (đen) lại để tránh điềm xấu …, i) báo tang (cáo phó), j) đặt thụy hiệu hay tên hèm (tên đặt cho người đã mất), đặt tên cúng cơm – đặt /vẽ bùa để dán, quy trình soạn minh tinh, thể kỳ, bài vị hương án (thường dùng chữ Nho) cũng đòi hỏi kiến thức về chữ Nho và truyền thống từ xưa, k) nhà trạm (hay trạm trung đồ) để linh cữu tạm dừng lại trên đường đi chôn cất và để làm lễ diện tế, l) chúc thực: lễ đặt bó đuốc trước sân để xua đuổi tà ma và dẫn đường cho vong linh trong đêm tối m), 2) giáp cữ: sau 24 giờ hay giáp cữ thì mới làm lễ khâm liệm và nhập quan – đây là để tránh hiện tượng chết giả (hay chỉ bất tỉnh) và hồn phách chưa ổn định …v.v… LM CRISTOPHORO BORRI (1631, sđd) đã từng nhận xét rằng “… chúng tôi quan sát thấy có nhiều điều liên hệ đến nghi lễ (tang chế/NCT) và mê tín mà nếu muốn kể hết thì không sao kể được …”. Trong bản tường trình “Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina” (1631, sđd), BORRI tiếp tục ghi nhận vài tục lệ nổi bật như chiêu hồn, đãi ăn long trọng cho mọi người suốt tám ngày trong tang lễ, phường bát nhã, đốt vàng mã /xe tang, phong thủy địa lý cho mồ mả … Tuy không ghi tên từng nghi lễ như trên trong các tài liệu ghi chép bởi de RHODES, BORRI và BARON: VBL đã ghi nhiều cách dùng liên hệ trực tiếp hay gián tiếp như săng (quan tài), thây ma, cất ma, thượng khâm, hạ khâm, quàn, để tang để tóc, thần vì, đô tì, trùng tang liên táng, minh tinh, thầy địa lí, chiêu hồn /phục hồn /gọi hồn, của mã, nhà táng, giỗ, giỗ chạp … Phần sau sẽ đi vào chi tiết các cách dùng này qua ngôn ngữ của dân gian vào TK 17 (VBL) cùng bàn thêm các chi tiết liên hệ từ các tài liệu Hán và Nôm.
1. Các từ liên hệ đến tang lễ trong VBL
1.1 Ma, thây ma – cất ma, làm ma
Ma quỉ, ma cỏ: diabo: diabolus, i. ma: almas dos defunctos: animæ defunctorum. ma: corpo morto: cadauer. cất ma: enterrar defuncto: ſepelire mortuum. làm ma: fazer certa ſolenidade a os defuntos dentro do triennio do dò: defunctis ſolemnitas quædam exhibita intra triennium luctus. (VBL trang 441) thây: corpo morto: cadauer, is. thây ma, xác, idem. (VBL trang 735).
Vào TK 17, ma ngoài nét nghĩa hồn người chết (diabolus /L), còn chỉ xác chết, thây hay tử thi: chính vì thế mà cất ma có nghĩa là chôn (cất) thi hài người chết, thiêu ma là đốt xác chết (hỏa táng). Nét nghĩa xác chết (cụ thể) của ma không còn hiện diện trong tiếng Việt. Sau này, nghĩa địa hay nghĩa trang còn gọi là bãi tha ma ở Đàng Ngoài (nơi tha ma/Vallot – hay tha ma/vườn thánh [i] theo RAVIER và DRONET /1903 ~ bãi chứa hay chỗ chôn cất người chết) so với các cách gọi đất thánh, thổ mộ, phần mộ ở Đàng Trong (Trương Vĩnh Ký /1885); tuy nhiên vẫn còn vết tích trong cách dùng thây ma như trong VBL (cadauer /L), ma quàn là tử thi để lâu ngày, khiêng ma (một trò chơi con nít khiêng thân thể /ĐNQATV), đám ma còn gọi là đám xác theo “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị /1895, (sđd). Vấn đề được chôn cất tử tế là một việc quan trọng trong xã hội Việt Nam từ xưa đến nay, do đó tạo ra biết bao tục lệ liên quan đến niềm tìn này. Những người chết mà không được chôn cất sinh ra cô hồn (VBL trang 125), lễ cúng cô hồn (xá tội vong nhân) và lễ vu lan (cột phướn làm chay – VBL trang 609, 134). Bài này chỉ bàn đến các cách dùng này trong ngôn ngữ vào thời VBL mà không đi sâu vào chi tiết của tín ngưỡng tâm linh trong đại chúng. Có lẽ nên xem lại lịch sử hình thành chữ ma, một vết tích điển hình của giao thoa văn hóa /tôn giáo và ngôn ngữ rất đặc biệt – cũng như trường hợp Bụt và Phật – theo dòng thời gian. Chữ ma 魔 (thanh mẫu minh 明 vận mẫu qua 戈 bình thanh, hợp khẩu nhất đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết :
莫 波 切 mạc ba thiết (TVGT, ĐV) TVGT ghi 鬼 也 quỷ dã, có thể liên hệ đến cách dùng ma quỷ – các tài liệu sau TVGT như TV, QV, LT, NT, TTTH đều chép lại định nghĩa này;
莫 何 切 mạc hà thiết (NT, TTTH);
莫 婆 切 mạc bà thiết (QV);
眉 波 切,音 摩 mi ba thiết, âm ma (TV, VH, LT, CV, TVi);
TNAV ghi vận bộ 歌 戈 ca qua (dương bình);
CV ghi cùng vần /bình thanh 摩 磨 䃺 劘 魔 𥂓 麼 䯢 攠 (ma);
Giọng BK bây giờ là mó (theo pinyin hiện đại) so với giọng Quảng Đông mo1, mo4 và các giọng Mân Nam [沙 头 角 腔] mo2 [宝 安 腔] mo1 [海 陆 腔] mo2 mo1 [客 语 拼 音 字 汇] mo2 [台 湾 四 县 腔] mo2 mo1 [东 莞 腔] mo1 [梅 县 腔] mo2 [陆 丰 腔] mo3 [客 英 字 典] mo2 潮 州话 mo5, tiếng Nhật ma (Go-on) và ba (Kan-on) và tiếng Hàn ma.
Ma có khả năng rất cao là *ma liên hệ đến tiếng Phạn māra मा र, kí âm là 魔 羅 ma la, nhưng trong lúc dịch kinh thường lấy âm tiết đầu là ma, chỉ sự chết chóc /giết hại /tiêu hủy … Trong Phật giáo Đại Thừa còn chỉ Ma Vương so với Tiểu Thừa thường mở rộng nghĩa và nhân cách hóa để chỉ sự chết chóc, ác độc, xấu xa, chướng ngại, (loài) quỷ – thoạt đầu kí âm ma bằng bộ thạch 磨 (nghĩa là cọ xát, bảo lưu qua dạng mài), sau đó vào thời Lương Vũ Đế (464-549 SCN, một vị vua rất sùng Phật giáo, còn được gọi là Bồ Tát Hoàng Đế[ii] 菩 薩皇 帝), ông đổi bộ thủ thạch (đá) 石 ra quỷ 鬼 để cho thấy hàm ý của chữ ma rõ nét hơn. Vết tích của gốc Phạn ma– (lại có gốc là Tiền Ấn Âu Proto-Indo-European *mór-o-s ~ chết) hàm ý xấu xa, chết chóc còn thấy trong động từ tiếng Pháp mourir (tiếng La Tinh mori – chết) và danh từ tiếng Anh nightmare: night ~ đêm, mare ~ ma quỷ ảnh hưởng đến người đang ngủ, thành ra nightmare nghĩa là ác mộng so với tiếng Pháp cauchemare (vẫn dùng ngữ căn mare).
1.2 Đơm ma tế quỷ
đơm ma té quỉ: offerecer de comer ao diabo: offerre diabolo edulia. đơm ou᷃ bà ou᷃ vaỉ: offrecer de comer aos ſeus antepaſſados mortos: offerre progenitoribus defunctis edulia. (VBL trang 231).
Tục làm đám giỗ cho người qua đời còn được ghi trong VBL qua cách dùng đơm ma tế quỉ, đơm là dâng (cúng). VBL cũng ghi cách dùng đơm ông bà ông vải hàm ý cúng đồ ăn cho tổ tiên đã mất. Ông bà ông vải (progenitores /L trang 586 mục ông ~ ou᷃) nghĩa là tổ tiên, tổ tông, tổ nể (VBL trang 817, mục tổ). Nếu phương Tây coi trọng ngày sinh (sinh nhật) thì phương Đông lại coi trọng ngày mất, phản ảnh văn hóa tôn kính truyền thống (quá khứ) hay cha mẹ tổ tiên. Điều này thể hiện rất rõ nét qua tục lệ như tổ chức các đám giỗ hàng năm chẳng hạn.
1.3 Giỗ – cữ – kị
giỗ: conuite que fazem aos mortos parentes, no dia em que morreraõ: conuiuium quod celebratur in memoriam defuncti conſanguinei die obitus, vel anniuerſarij. giỗ chạp, idem. (VBL trang 286),
Truyền thống tôn kính tổ tiên cha mẹ thể hiện rất rõ qua tục lệ làm đám giỗ, VBL đã ghi nét nghĩa giỗ là làm tiệc để tưởng nhớ người thân (họ hàng ~ consanguinei /L) hàng năm vào ngày người đó qua đời. Chú ý: phần tiếng Bồ ghi chữ parentes, hàm ý người thân thích hay cùng máu mủ (tổ tiên) chứ không liên hệ trực tiếp đến danh từ parent nghĩa là cha mẹ – phần tiếng La Tinh rõ nghĩa hơn. Đây là trường hợp trùng hợp rất thú vị gọi là false friend (~ bạn giả /NCT) trong ngôn ngữ. VBL còn ghi cách dùng tương đương là giỗ chạp: chạp là tháng 12 (tháng chạp ~ lạp nguyệt 臘 月), thành tố chạp cho thấy yếu tố thời gian (hàng năm) của tục lệ này. Xem lại chữ giỗ, một dạng chữ Nôm cổ dùng tổ HV 祖 (tổ tiên) như trong “Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa” 39a :
Thịnh bàn mâm để thích trung
Tiện khi giỗ chạp để phòng cất đơm
Chữ Nôm giỗ dùng tổ HV 祖 dễ hiểu (nhắc nhở đến tổ tiên) hơn dạng chữ Nôm hậu kì dùng âm chủ (chúa) 𠰍 – để ý chữ tổ HV còn dùng để kí âm chỗ.
1.3.1 cữ – giỗ
VBL trang 137 ghi “nằm cữ” là tránh giao thiệp vì sắp sinh nở. Cữ chữ Nôm thường dùng cử HV 擧 hay dạng viết giản lược, và có khi dùng thanh phù cự HV 巨: đây là kết quả của khuynh hướng bảo lưu âm cổ hơn với nguyên âm mở rộng so với nguyên âm nhỏ /trước i như kì 奇 ~ cơ, kì 旂 ~ cờ, kí 記 ~ nhớ … Do đó, cữ có khả năng liên hệ đến kị HV. Xem lại chữ kị 忌 (thanh mẫu quần 羣 vận mẫu chi 之 khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết :
渠 記 切 cừ kí thiết (TVGT, ĐV, QV, TV, NT, LT, VH, TTTH, TG 字 鑑) – để ý QV ghi 忌 諱 也 kị huý dã và 敬 也 kính /kinh dã – so sánh nét nghĩa này của kị (~ cữ) với kính /kinh (~ kiêng), khâm (~ khem) và trai (chay).
巨 記 反 cự kí phản (NKVT 五 經 文 字);
居 利 切 cư lợi thiết (TV);
居 吏 切 cư lại thiết (LT);
巨 己 切,音 芑 cự kỉ thiết, âm khỉ (TV, LT, NATV 五 音 集 韻)
TNAV ghi vận bộ 齊 微 tề vi (khứ thanh);
CV ghi cùng vần /khứ thanh 芰 騎 䗁 伎 技 妓 忌 偈 嵑 臮 暨 𡏲 蔇 垍 綦 諅 誋 惎 㥍 (kị kĩ kệ); CV cũng ghi cùng vần /khứ thanh 寄 徛 冀 兾 覬 懻 洎 溉 既 穊 覬 𩦸 季 記 其 忌 己 禨 璣 暨 刏 幾 猘 狾 罽 𦇧 瀱 (kí quý kế);
奇 寄 切,音 惎 kì kí thiết, âm kị (CV, TVi) – TVi/CTT còn ghi thêm cách đọc khác là âm kĩ 音技 (so với âm cữ tiếng Việt /NCT).
吉 器 切 cát khí thiết (CV);
奇 上 聲 kì /cơ thượng thanh (TViB) …v.v… Giọng BK bây giờ là jì so với giọng Quảng Đông gei6 gei2 và các giọng Mân Nam 客 家 话: [海 陆 丰 腔] ki6 [客 英 字 典] ki3 ki5 [宝 安 腔] ki3 [梅 县 腔] ki3 [沙 头 角 腔] ki3 [客 语 拼 音 字 汇] gi4 ki4 [陆 丰 腔] ki6 [东 莞 腔] gi5 [台 湾 四 县 腔] ki5 潮 州 话:gi6 (kĭ) ki7 (khī), giọng Mân Nam /Đài Loan ki7, tiếng Nhật và tiếng Hàn ki. Một dạng âm cổ phục nguyên của kị là *ɡiə, cho ra dạng kị HV và cữ, cũng như xát hoá để cho ra dạng giỗ (và có thể *ɡiə > giới HV 戒 ).
Ngoài nét nghĩa kính sợ (> cữ, kiêng cữ), kị còn một nghĩa cổ là ngày hay lễ cúng ngày đấng cha mẹ /người thân đã qua đời: do đó kị còn liên hệ đến âm giỗ tiếng Việt. Cả hai dạng cữ và giỗ đều hiện diện trong VBL – không thấy dạng kị (so với kì và kí đều được LM de Rhodes ghi lại trong VBL). Khuynh hướng xát hoá của phụ âm đầu k- để cho ra phụ âm gi- vẫn còn vết tích vào thời VBL qua cách dùng khảo cả ~ khảo giá (taxare pretium /L – VBL trang 363) là xem xét giá cả cả: đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy cả là âm cổ hơn của giá, cũng như các ghi nhận trong VBL trang 85 cang la ~ giang la … Khảo ứng với khảo HV 考, và giá ứng với giá HV 價 mà một dạng âm cổ phục nguyên là *ka. Đây là vết tích của âm cổ của giá chính là cả mà VBL đã ghi nhận chính xác. Các tổ hợp ghi trong VBL như giá cả, mà cả (> mặc cả trong tiếng Việt hiện đại) đều cho thấy âm cổ hơn cả đứng ở sau (cấu trúc chính trước phụ sau). Tương quan phụ âm đầu c/k-gi còn thấy khi so sánh các từ HV như :
gian 閒 hay 間 – căn;
giam 監 – khám;
giảm 減 – kém;
giáp 夾 – gắp, cắp, cặp, kẹp;
giái – giới 介 – cõi;
giải 解 – cải, cởi, cổi, gỡ …;
giải 蟹 – cua;
giới 疥 – ghẻ (bệnh);
giới 戒 – cai (cai nghiện);
giái – giới 芥 – cải (rau);
giái (giới) 薤 – kiệu (rau);
giác, giốc 角 – gạc (sừng nai), góc, cắc (bạc cắc);
giác 覺 – cóc, cốc (biết, hiểu);
gia 茄 – cà;
giả 赭 – ké (màu đỏ) vết tích còn trong cách dùng đỏ ké;
giả 者 – kẻ (người ấy);
giỗ < kị 忌 cữ …v.v… VBL chỉ ghi cữ và giỗ, không thấy ghi kị.
Khi cha mẹ ruột hay cha mẹ nuôi mất, con cái phải để tang 3 năm – đây là đại tang của gia đình; các lễ cúng giỗ phải được tuân thủ trong thời kỳ này cũng như cách ăn mặt, sinh hoạt hàng ngày cần phải hạn chế để thể hiện sự trang nghiêm, hiếu thảo …v.v… VBL đã ghi lại cách dùng làm ma để chỉ tục lệ thờ cúng ba năm, cách dùng này khá tối nghĩa trong tiếng Việt hiện đại nếu không biết các phong tục về tang lễ cổ truyền. Nếu làm ma có thể gợi ý về biến cố của người qua đời /chết trong gia đình – dựa vào thành tố ma – thì cách dùng tương đương vào TK 17 làm hè lại cho thấy một hoạt động đặc biệt khác trong xã hội – dựa vào thành tố hè, cách dùng này không còn hiện diện trong tiếng Việt và chỉ để lại vết tích trong chữ kép hội hè.
1.4 Làm hè
hè, làm hè: certas ceremonias que os gentios fazem no triennio de ſeu dò aos mortos, ſuperſtitiones Ethnicorum in triennium luctus, erga defunctos. (VBL trang 318).
VBL giải thích làm hè là nghi lễ (đám giỗ/NCT) mà kẻ ngoại đạo tuân thủ trong ba năm để tang. Điều này phản ánh sự tụ tập đông người cùng tham gia tang lễ, tiếng Việt còn bảo lưu nét nghĩa này trong cách dùng hội hè. Tuy VBL chỉ ghi hội, nhưng Béhaine (1772/1773) ghi thêm đám hội và hội hè cùng một nghĩa – để ý làm hè ở Đàng Trong có nghĩa là cùng nhau làm (eia agamus/L: tiếng thúc giục, vẫn còn vết tích của nét nghĩa chỉ số đông, td. hè nhau đi chợ, hè nhau cướp đám bạc/VNTĐ). THEUREL (1877, sđd) ở Đàng Ngoài vẫn ghi làm hè là làm giỗ cho người đã mất cũng như các cách dùng tương đương hội hè, hè bội – G. Hue (1937) ghi lại cách nói ‘khi ra hè vào đám‘ (dans les assemblées ~ trong các cuộc họp mặt).
1.5 Đưa đón
đưa: accompanhar: comitor, aris. đưa đón: acompanhar aſepultura: comitari funus. đưa xác, idem. (VBL trang 239, trang 231-232 mục đón cũng lặp lại nét nghĩa của đưa đón).
Vào thời VBL, đưa đón hay đưa xác hàm ý đưa đám ma chứ không có nghĩa như trong tiếng Việt hiện đại: đưa và đón từ một nơi nào đó hay đưa rước. Có thể đây là cách nói hàm ý sự chết như là đi về hay tuần hoàn như đưa đi và rước về (td. sinh kí tử quy) hay sự hiếu thảo và triết lý âm dương: ‘cha đưa mẹ đón’. Vào cuối TK 19, đám ma còn gọi là đám đưa xác (Vallot, sđd) hay đám xác (Génibrel, sđd). Tuy nhiên vào TK 18 (tự điển Béhaine), TK 19 (tự điển Taberd, Theurel) thì đưa đón không còn mang nghĩa đưa xác, đưa ma nữa. Điều này phản ảnh phần nào khuynh hướng giản hóa truyền thống tang lễ qua ngôn ngữ đại chúng – xem thêm chi tiết mục cái tiểu phần sau.
1.6 Đi đưa xác
xác: corpo: corpus, poris. thân xác, mềnh, idem. xác: corpo morto, cadauer, ris. đi đưa xác: leualo a enterrar; defunctum ad ſepeliendum deferre (VBL trang 880).
Đi đưa xác hàm ý đưa xác đi chôn. Vào cuối TK 19, đám ma hay đám tang còn gọi là đám đưa xác (Vallot, sđd) hay đám xác (Génibrel, sđd).
1.7 Thầy địa lí
thày điạ lí: o meſtre gentio que conſultão ſobre qual lugar ſerà bom pera fazer caza, e taõbem ſobre o lugar das ſepulturas pera que os filhos daquelles defuntos ſepultados neſſe lugar tenhão proſperidades, como os gentios paruoamente ſe perſuadem: conſulere magiſtrum Ethnicum de loco, tum domus de nouo erigendæ, tum ſepulturæ, ad hoc vt filij illorum qui in ea ſepultura ſunt conditi cuncta proſpera habeant, vt Ethnici ſtultè putant. (VBL trang 412).
Thầy địa lí được giải thích trong ba mục : thầy (thày VBL trang 735), địa (VBL trang 220) và lí (VBL trang 412): điều này cho thấy sự quan tâm và ấn tượng về mức độ phổ thông của cách dùng này vào TK 17. Nội dung phần giải thích bằng tiếng Bồ Đào Nha (in nghiêng) cũng tương tự như phần La Tinh: tóm tắt ba mục giải thích là thầy địa lí có nhiệm vụ tư vấn cho người dân về địa điểm, phương hướng khi làm nhà mới hay khi chôn cất người qua đời, mục đích là mong con cháu hưởng được sự giàu sang phú quí – đây là sự mê tín một cách dại dột (theo phần phê bình thêm trong mục giải thích thầy địa lí của VBL).
Ngoài ra, trong cuốn “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” (sđd), LM DE RHODES cũng ghi nhận vai trò quan trọng của thầy địa lí trong ba điều cốt lõi của tang lễ Đàng Ngoài: điều thứ nhất là quan tài lộng lẫy tốn kém, điều thứ hai là số đông người tham dự tang lễ gồm quan viên, làng xóm và hai họ của gia đình, và điều thứ ba là sự tư vấn từ thầy địa lí để xem phương hướng, vị trí (td. long mạch) của mồ mả. Tác giả SAMUEL BARON trong hai chương [iii] viết về tang lễ ở Đông Kinh (Đàng Ngoài, từ cuốn “A Description of the kingdom of Tonqueen” sđd), từng ghi cách gọi Tay-de-lee (thầy địa lí, đọc theo tiếng Anh) và gia đình có tang luôn tuân theo lời chỉ bảo của người này trong thời kỳ có tang. Cho đến đầu TK 20, cụ PHAN KẾ BÍNH vẫn còn ghi nhận nhiệm vụ xem phương hướng, phong thủy của thầy địa lí trong tang lễ (Việt Nam Phong Tục, sđd), cũng như truyện kể “Cô Mai – Scènes de la vie annamite“/sđd. Truyện Cô Mai dịch ra tiếng Việt (xem phụ chú xiv) còn cho thấy ảnh hưởng của thầy địa lí trong lúc đưa đám tang: phải đi đường cong queo để cho tốt: “Nghỉ nhiều lần mà đi quanh co mãi, sau mới đến huyệt. Đi quanh co tại thầy địa lý chủ ý bắt như vậy, vì những đường bộ hay đường thuỷ đi thẳng một mạch thì phép địa lý cho là không hay không lợi: những đường thẳng ấy không giữ được cái khí linh tú lâu dài, nó làm cho cái khí ấy chóng tán mạn lắm.” (hết trích).
1.8 Săng – cái săng – cái quan, áo săng
săng: caixão em que enterrão os mortos: loculus, i. cái săng, cái quan, idem. aó săng: pano da tumba: feretri pannus. (VBL trang 676)
Săng có hai nghĩa theo VBL: gỗ (~ lignum La Tinh) và quan tài (~ loculus La Tinh) – VBL ghi hai cách dùng cái săng, cái quan (không có chữ tài) – để ý “Đại Nam Quốc Ngữ” (sđd) ghi quan tài cái quan 棺 材 丐 棺. Áo săng là tấm vải phủ quan tài. Bây giờ thì ít người biết đến nghĩa của săng: tiếng Mường (Bi) vẫn dùng khăng chỉ săng (quan tài, tương quan kh – s) như Mõl là khăng pằng câl bốc lòng ~ người Mường làm săng bằng cây gỗ khoét lòng. Săng vẫn con để vết tích trong ca dao, tục ngữ: td. hàng săng chết bó chiếu; bán hàng như bán hàng săng – ai mua thì bán chẳng rằng mời ai; muốn ăn thì lăn vào bếp – muốn chết thì lết vào săng. Vào TK 17, cái săng là danh từ phổ thông trong tiếng Việt: “Đoạn thì tay đá đến cái săng” PGTN trang 186, “Nó liên ngồi trên săng ma nói” Kinh “Những Lễ Mùa Phục Sinh” (Maiorica) trang 99 (bản chữ Nôm cột 149), “bỗng chốc bà Thánh ấy bởi săng mà ra” “Thiên Chúa Thánh Mẫu” (Maiorica) quyển trung trang 68 …v.v… Trong tự điển chép tay Việt Bồ, Bồ Việt (khoảng cuối TK 18) của PHILIPHÊ BỈNH, quan tài còn gọi là cái cữu 丐 柩 (xem hình chụp bên dưới) như từng ghi nhận trong “Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa” và “Đại Nam Quốc Ngữ” (cữu dư ~ xe quan tài).
[i] Từ khi Ki Tô giáo truyền đến Việt Nam, tang lễ cũng bắt đầu thay đổi vì lề luật và giáo lý Thiên Chúa giáo rất khác biệt với truyền thống bản địa. Thay vì chôn cất ở đất nhà, bổn đạo Ki Tô thường chôn ở nơi riêng biệt – td. như đất nhà thờ hay nghĩa trang của họ đạo chẳng hạn – và dựng cây thập tự ở trước mộ. Thành ra nghĩa địa từng được gọi là đất thánh (Trương Vĩnh Ký /1885) hay vườn thánh (Vallot /1898, Ravier và Dronet /1903 …).
[ii] Tham khảo thêm chi tiết trong cuốn 止 觀 輔 行 傳 弘 決 Chỉ quan phụ hành truyền hoằng quyết (soạn bởi pháp sư 湛 然 Trạm Nhiên từ năm 755 đến 765 đời Đường), hay Chánh Tự Thông 正 字 通 ghi 「譯 經 論 曰:魔 古 从 石 作 磨,石 靡 省 也。梁 武 帝 改 从 鬼」dịch kinh luận viết: ma cổ tòng thạch tác ma,thạch mĩ tỉnh dã。 lương vũ đế cải tòng quỷ」.
[iii] Hai chương là chương XVI “Of the Funerals in general” (tạm dịch /NCT: tang lê tổng quát) và chương XVII “Of the funeral pomp of the Chova or General of Tonqueen” (tạm dịch /NCT: mức độ tráng lệ của tang lễ Chúa hay Chủ Tướng coi Đông Kinh“. Cách ghi Tay-de-lee trang 699 – hay còn viết là Thay-de-Lie trong trang 706 (sđd) – cho thấy BARON xem cách gọi này như là ‘một chữ’ hay một đơn vị độc lập vì luôn được dùng như vậy, điều này còn phản ánh mức độ phổ thông của cách dùng này vào TK 17.
◊ Các chữ viết tắt khác là :
| Viết tắt | Chữ đầy đủ | Viết tắt | Chữ đầy đủ | Viết tắt | Chữ đầy đủ |
| NCT | Nguyễn Cung Thông | Phật Giáo | NKV | Ngũ Kinh Văn Tự /776 | |
| HV | Hán Việt | TVGT | Thuyết Văn Giải Tự /khoảng 100 SCN | LKTG | Long Kham Thủ Giám /997 |
| VN | Việt Nam | NT | Ngọc Thiên /543 | QV | Quảng Vận /1008 |
| CG | Công Giáo | ĐV | Đường Vận /751 | TNAV | Trung Nguyên Âm Vận /1324 |
| CV | Chính Vận /1375 | TVi | Tự Vị /1615 | VB | Vận Bổ /1100 /1154 |
| VH | Vận Hội /1297 | LT | Loại Thiên /1039 /1066 | CTT | Chính Tự Thông /1670 |
| TViB | Tự Vị Bổ /1666 | TTTH | Tứ Thanh Thiên Hải | KH | Khang Hi /1716 |
| P | tiếng Pháp | A | tiếng Anh | L | tiếng La Tinh |
| VNTĐ | Việt Nam Tự Điển /Hội Khai Trí Tiến Đức 1931 /1954 | TNNL | Thiên Nam Ngữ Lục | TV | Tập Vận /1037 /1067 |
| ĐNA | Đông Nam Á | . . . | . . . |
Kí còn viết là ký (tên người, tên sách), kị – kỵ và trang /cột /tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt cổ hay Hán cổ).
[i] NGUYỄN CUNG THÔNG: Nhà Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email : nguyencungthong@gmail.com.
◊ Phần này bàn về các tục lệ tang chế truyền thống ở Việt Nam từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh /Bồ (Chữ Quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn cùng với chữ Nôm, cũng như một số tục lệ không còn hiện diện nữa.
◊ Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là các tài liệu chép tay của LM PHILIPHÊ BỈNH (sđd) và bốn tác phẩm của LM DE RHODES soạn: (a) cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” (viết tắt là PGTN), (b) “Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh” (viết tắt là BBC), (c) “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646″ và (d) “Tự điển Annam-Lusitan-Latinh” (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra Tự điển này trên mạng, như trang: https://tinyurl.com/booksgooglefr.
[i] Người viết (NCT) có xem lại Bản La Tinh của LM DE RHODES, câu này lại hơi khác so với cách dịch của LM ALBI:‘ … Tình thương của người Đàng Ngoài dành cho cha mẹ đã qua đời, và những cúng tế rất xa hoa thì không thể tưởng tượng nỗi. Thật ra, đây là một tục lệ làm cạn kiệt tài chính/tài nguyên và thường dẫn đến việc nợ nần ngặt nghèo …’.
[ii] Thể kỳ là một bức hoành hoặc mành vải trướng làm bằng lụa, vóc hoặc nhiễu màu trắng, được căng ngang và có hai người khiêng ở hai bên, đi sau thần phương tướng 方 相 dẫn đường và trước minh tinh. Thể kỳ 彩 旂 thường có 4 chữ: nếu cha mất thì đề Hổ sơn vân ám (núi Hồ mờ sương khói /mây mù che phủ), nếu mẹ mất thì đề Dĩ lĩnh vạn mê (núi Dĩ mịt mù) hay 3 chữ Vọng bạch vân 望 白 雲 (ngắm nhìn mây trắng, hàm ý nhìn về phương xa vì nhớ cha mẹ); mục đích là nói lên nỗi đau thương, sự che khuất hoặc chia lìa âm dương (tang chế) từ lòng hiếu thảo.
[iii] Ngu tế 虞 祭 là một nghi thức tang lễ của Trung quốc cổ đại: ngu 虞 hàm ý an lạc, với mong muốn là hồn người quá cố sẽ được bình an trong đời sau (hay là được an hồn định phách 安 魂 定 魄). Lý do là từ tín ngưỡng dân gian: ngay sau khi chết, hồn phách còn bơ vơ chưa được yên vị. Số lần cúng tế tùy theo đẳng cấp trong xã hội (theo Lễ Kí): Thiên tử (vua) thì 9 lần, Chư hầu 諸 侯 thì 7 lần, quan chức lớn (đại phu 大 夫) thì 5 lần, dân thường (sĩ 士) thì 3 lần để tóc, thần vì, đô tì, trùng tang liên táng, minh tinh, thầy địa lí, chiêu hồn /phục hồn /gọi hồn, của mã, nhà táng, giỗ, giỗ chạp … Phần sau sẽ đi vào chi tiết các cách dùng này qua ngôn ngữ của dân gian vào TK 17 (VBL) cùng bàn thêm các chi tiết liên hệ từ các tài liệu Hán và Nôm.
… CÒN TIẾP …
GHI CHÚ :
◊ Nguồn: Tác giả NGUYÊN CUNG THÔNG gửi bài trực tiếp đến Ban Tu Thư thandiavietnamhoc.com qua email.
◊ Các chữ in, chữ nghiêng, chữ màu, xử lý hình ảnh và biên tập ‘nhẹ’ do Ban Tu Thư thực hiện để phù hợp với phong cách trình bày của trang web.
MỜI XEM :
◊ TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ- Phần 2.
BAN TU THƯ
bantuthu1965@gmail.com
10 /2026