TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ (P.52) – Phần 3

the-manner.of_.their_.funeral.pomp-nha.tang-by-samuel.baron-1685-dam.tang-thanhdiavietnamhoc.com
Hình 1:  The Manner of their Funeral Pomp (Nguồn: Royal Society, London)

 

Các từ liên hệ khác trong Từ điển Việt-Bồ-La (VBL)

Đại dư

   Đại dư 大 輿: dư là xe hay kiệu 轎, kiệu còn gọi là kiên dư 肩 輿: ‘xe’ khiêng bằng đòn trên vai. Đại dư hay xe tang chỉ khung gỗ hay bộ đòn lớn dùng để khiêng quan tài trong lễ di quan. Số người khiêng đại dư và cách trang hoàng xe tang còn cho thấy đẳng cấp của ngươi chết hay gia tộc trong xã hội. Hình vẽ của BARON, đánh số 3 và chú thích thêm ở góc trái trên hình vẽ, cho thấy có 32 người khiêng đại dư và linh cữu với cấu trúc rất hoa lệ: mái cong với hoa văn, phướn và vách bao chung quanh với nhiều màu sơn phết.

ꞗua hành khiển, đang niên tháng sở tri

hành, ꞗua hành khiến: diabo que cuidão os gentios ſe muda do gouerno cada anno, e com o qual lanção pragas: diabolus quem ſingulis annis præfici putant de nouo, & cuius nomen inuocant ad malè imprecandum. (VBL trang 315)

đang nien tháng sở tri: diabo a quem inuocão quando iurão, ou lanção pragas: diabolus quem Ethnici iurando, vel maledicendo inuocant, hunc putant ſingulis annis mutari. ꞗua hành khién, idem. (VBL trang 200)

     Vua hành khiển là vị thần (vua) mà người ta sử dụng khi nguyền rủa ai, phần La Tinh thêm chi tiết là mỗi năm lại có một vị thần (vua) khác nhau chủ trì. Đang niên tháng sở tri cũng cùng một nghĩa như vua hành khiển, phần La Tinh ghi rõ hơn là mỗi năm có một vị vua khác nhau. Trong tang ma truyền thống của người Việt, vua hành khiển (vương hành khiển, quan hành khiển) không phải là nhân vật chính của đám tang, nhưng được thỉnh mời trong các nghi thức cúng bái, lập đàn, yểm tâm linh hoặc phát tang nhằm xin phép thần linh cho vong linh người mất được yên nghỉ và gia quyến được bình an.


Gậy, chống gậy, thần xích

     VBL ghi gậy, chống gậy và thần xích – gậy của pháp sư dùng để chữa bệnh – hình vẽ của SAMUEL BARON cho thấy các người con của chúa Trịnh Đàng Ngoài chống gậy đi theo quan tài – xem hình (trích) chụp lại bên dưới. BARON ghi chú thêm: hình số 7 là ‘The chief mourners‘ (các người để tang chính /NCT so với tang chủ).

the-manner.of_.their_.funeral.pomp-nha.tang-by-samuel.baron-1685-thandiavietnamhoc.com
Hình 2:  Hình trích “The Manner of their Funeral Pomp” – SAMUEL BARON (Nguồn: Royal Society, London)

    Trong tài liệu đã dẫn, BARON có nhắc đến năm qua đời của một vị Chúa Đàng Ngoài vào năm 1683 (trang 701 /sđd), có thể ông là TRỊNH TẠC (1606-1682). Các tang chủ chính đi chân đất và cầm gậy đi theo các đô tì (khiêng quan tài): BARON thuật lại ” Người con trưởng cũng là người kế vị cùng các anh em trai đi theo quan tài, mặc áo thụng mắc tiền bằng lụa và chống gậy, chỉ có con trưởng là đi dép tranh” – nhưng hình vẽ lại cho thấy chân trần? và người đứng giữa là TRỊNH CĂN? Để ý mũ kết hình tròn đặc biệt của con trưởng ở giữa khác với mũ của hai con trai đi bên cạnh. Tục lệ chống gậy đi có thể khác biệt tùy vùng miền hay thời gian: td. trong Truyện Cô Mai (1923 Hà Nội /sđd) thì con cả chống gậy đi giật lùi …v.v. Cụ PHAN KẾ BÍNH ghi lại chi tiết hơn (Việt Nam Phong Tục /sđd) “Cha mất thì con trai chống gậy tre, mẹ mất thì chống gậy vông. Con trai nào mất trước rồi thì con trai người ấy phải chống thay cho cha, hoặc con nào đi vắng thì treo cái gậy ấy ở đầu đòn đại dư. Nếu không có con trai thì ai vào ăn thừa tự phải chống gậy. Con gái, con dâu thì lăn đường cho cha mẹ, mới là con có hiếu.” (hết trích).

     Đại Nam Quốc Ngữ 59a (sđd) cũng ghi giống như trên: trúc trượng 竹 杖 gậy tang cha, đồng trượng 桐 杖 gậy tang mẹ. Một số cách dùng HV không còn tồn tại nữa như trúc trượng, đồng trượng, đại dư; xe quan tài gọi là cữu dư 柩 輿 (Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, Đại Nam Quốc Ngữ sđd), người khiêng quan tài con gọi là dư phu 輿 夫 hay âm công, ai tử (con để tang mẹ), cô tử (con để tang cha), … v.v.


Ngày tuổi, xem tuổi

ngày tuổi: dia infausto: dies infauſta, quia ſcilicet putant ſignum illud correſpondens diei in qua nati ſunt ipſis eſſe infauſtum nec in die aut hora in qua idem ſignũ reccurrere putãt quicquam momenti aggredi audent, quia timent infauſtum exitum. (VBL trang 845-846)

     Ngày tuổi nghĩa là ngày của ‘định mệnh’ (hàm ý ngày không tốt /xui xẻo /NCT) theo giải thích trong phần tiếng Bồ – chỉ vỏn vẹn có 2 chữ; so với phần tiếng La Tinh có 35 chữ! Tuy lặp lại nghĩa là ngày của ‘định mệnh’, dân chúng thường tin rằng con giáp của ngày sinh khi trùng hợp với giờ hay ngày nào đó thì không được làm bất cứ việc gì vào giờ hay ngày đó (giờ, ngày, tháng và năm tính theo 12 con giáp /thập nhị chi và thập can /NCT). Sự khác biệt phần tiếng Bồ và phần tiếng La Tinh đáng chú ý: xem thêm chi tiết trong mục 1.10 Chiêu hồn.


Xem tuổi

xem tuổi: ſuperstição de notar os annos da idade: ſuperſtitio qua conſiderant ſignum ſub quo ſe natos putant vtrum habeat ſympathiam necne cum alio ſigno, & hoc præſertim in matrimonijs ineundis conſiderant Ethnici. (VBL trang 846)

     Phần tiếng Bồ giải thích xem tuổi là sự dị đoan tin vào tuổi của mình (hàm ý con giáp của ngày /năm sinh /NCT). Phần tiếng La Tinh có nhiều chi tiết hơn, dân chúng xem sự hợp tuổi hay xung khắc với các tuổi khác nhất là khi cưới hỏi. Nên thêm ở đây là ngày giờ /năm qua đời cũng dùng để tính chỗ đặt và phương hướng của mồ mả, trùng tang, nhập quan, di quan …

     Truyện Cô Mai [i] ghi rõ chi tiết về vấn đề này ” … Hôm sau nhập quan. Trước khi nhập quan, anh Nghĩa là chủ tế, kêu to lên rằng: – Phụ thân tôi sinh năm ngọ, tháng mộc, ngày mùi. Nếu ai hợp tuổi, phải ra ngoài. Hợp tuổi với ai nghĩa là sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày với người ấy, cùng bằng tuổi nhau như hệt. Người nào hợp tuổi mà xem khâm liệm, không khéo thì chết tươi vì những quỷ sứ sai đi dân đường cho người chết, lúc đem sổ tay ra xem, thấy hai người cùng tuổi, có khi nhầm người nọ ra người kia…” (hết trích).

     Trong mục xem và mục giò, VBL còn ghi lại cách dùng xem giò là coi chân gà để tiên đoán công việc sắp bắt đầu (có làm hay không /NCT).


tắm, rửa, giặt

     VBL phân biệt tắm là rửa thân thể cho sạch, còn rửa là cho quần áo, khăn hay những đồ vật tương tự, còn giắt thì cho quần áo. BARON ghi lại là việc đầu tiên khi chúa Đàng Ngoài chết là tắm xác cho sạch: đây chính là lễ mộc dục 沐 浴 (mộc ~ gội đầu, dục ~ tắm), được làm trước khi tiến hành khâm liệm và nhập quan. Truyện Cô Mai (1923, sđd) bằng tiếng Việt (xem thêm ghi chú ix) ghi việc tắm rửa cho thi thể như sau “... Người nhà mang lại cho ông sư một cái nồi, nhà sư bỏ quế, chầm (trầm/NCT), nước hương và bạch đàn vào ngâm, nước ấy dùng để lau mình cho ông Trưởng …”. Các tục lệ như mộc dục, phạn hàm, chiêu hồn, ngũ phục thay đổi theo thời gian – càng ngày càng đơn giản hơn – và cũng thay đổi theo không gian (vùng miền) nhưng cốt lõi vẫn giữ lòng thành kính đối với người đã qua đời.

ngặm miệng lại (ngậm hàm)

     VBL ghi ngặm miệng lại trong mục ngặm và mục miệng, tuy nhiên không ghi nghi thức ngậm hàm (~ phạn hàm theo Thọ Mai Gia Lễ, ĐNQATV) trong tang lễ truyền thống. BARON (sđd, năm 1685) ghi là trong tang lễ chúa Đàng Ngoài, người ta đặt những miếng vàng, bạc hay hạt trai nhỏ (seed pearl – tiếng Anh trong nguyên bản) trong miệng của xác người. Truyện Cô Mai dịch ra tiếng Việt (sđd, năm 1923) cũng ghi lại nghi thức tương tự “Đến giờ cúng cơm, người con giai (trai /NCT) cả tên là Quý cúng vong linh phụ thân những thức ăn sau cùng: nó bỏ vào mồm ông Trưởng mấy hạt gạo và mấy đồng kẽm. Đoạn, nó rút cái đũa ra và lấy một vuông vải lụa phủ mặt“. Như vậy là trong vòng 300 năm, từ thời Borri và de Rhodes cho tới đầu TK 20 của Cô Mai, tục đặt đũa và tiền vào miệng người quá cố vẫn hiện diện – xem thêm chi tiết trong hình vẽ của HENRI OGER (1908 /1909) bên dưới :


phan.ham-nguoi.chet-henri.oger-thanhdiavietnamhoc.com
Hình 3:  Phạn hàm – HENRI OGER (Nguồn: Technique du Peuple Annamites /VNSI)

   Phạn hàm 飯 含 trích từ hình vẽ trong cuốn “Technique du peuple annamite” Henri Oger /sđd. Để ý hình vẽ chiếc đũa đặt ngang miệng người quá cố và bàn tay đưa đồng tiền (có hình tròn lỗ giữa vuông) vào miệng và trang phục bao lấy thi thể.

 


2.7  Nghi trượng

     Nghi trượng 儀 仗 chỉ hệ thống đồ dùng, khí cụ, cờ, lọng, biển, nhạc cụ và cách sắp đặt /điều hành đoàn tang theo truyền thống. Nghĩa cổ và hẹp hơn của nghi trượng là binh lính, vũ khí hộ vệ cho vua quan đi đường. Cụ PHAN KẾ BÍNH (trang 31 – Việt Nam Phong Tục, sđd) trong mục Nghi trượng đi đường ghi “Trước hết có hai thần phương tướng làm bằng giấy, bốn mắt, hình dung dữ tợn, cầm đồ qua mâu đi dẫn đạo“; so với hình vẽ Đám tang của SAMUEL BARON, đánh số 1, thì ta cũng nhận ra đi đầu đoàn đưa tang là hai người to lớn mang hai cây giáo (một loại nguyệt xoa /xa) và hai cái khiên để xua đuổi ma quỷ tránh xa người chết, không được gặp và phá phách đám tang.

2.8  Phường bát âm

     Hình vẽ trong “A Description of the kingdom of Tonqueen” (1685) của BARON, đánh số 2, cho thấy đi sau hai người cầm giáo và khiên (hay mâu và thuẫn) thì có một nhóm nhạc công đánh trống, gỏ mõ, kéo đàn nhị /đàn bầu?, thổi kèn. BARON chú thích là The musicians (các nhạc công – tiếng Anh). BARON nhận xét là tiếng kèn, trống, âm thanh ồn ào và việc đốt vàng mã giống như những cuộc biểu tình [i] ồn ào chống Tòa Thánh La Mã (Popish procession /A). LM CRISTOFORO BORRI (1631, sđd) ghi lại một cảnh trong đám tang vị Trấn Thủ Đàng Trong ” … tất cả thân nhân của quan Trấn Thủ đãi tiệc long trọng cho tất cả mọi người trong tám ngày liên tục, trong thời gian này, từ sáng đến tối, người ta không làm gì khác hơn là ăn và uống, cùng với ca hát, chơi nhạc cụ, nhảy múa – khi thì với nhạc cụ, khi thì với tiếng kèn quân nhạc và tiếng trống ...” (hết trích). Có lẽ ấn tượng của sự kiện một nhóm người tụ tập ăn uống thoải mái (hàm ý trong chữ đám: đám giỗ, đám cưới, đám hỏi, đám ma, đám chay) mà VBL trang 196 đã ghi trong mục đám: đám mây, đám mạ và đám người đám ăn uống là những kẻ háu ăn (Vorax /L); Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài (1651 /DE RHODES, sđd) cũng ghi rằng ” … Bởi vì sau một bữa giỗ long trọng có mời nhạc công và người thổi sáo, các sư sãi và thầy pháp, thì người thừa kế đem tất cả hàng mã (thường lên tới hơn một nghìn êcu) này châm lửa đốt …”. Một cách dùng đáng chú ý là cách gọi ban nhạc hiếu tương đương với phường bát âm [ii], cho thấy ảnh hưởng của đạo hiếu /Nho giáo trong nghi thức cổ truyền cho đám tang. Tương tự như cách gọi tang chủ con gọi là hiếu chủ (PHAN KẾ BÍNH, sđd) đám hiếu là đám ma, hiếu sự cho hậu sự: đây là ảnh hưởng lâu đời của nguyên lý “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam, luôn tôn kính tổ tiên cha mẹ qua chữ hiếu. Cụ PHAN KẾ BÍNH (Việt Nam Phong Tục, trang 37 sđd), khi so sánh với tang lễ Tây phương, đưa ra nhận xét ngắn gọn như sau về sự vắng bóng của âm thanh (âm nhạc, khóc la, nói chuyện rầm ran) và ăn uống liên tục của Âu châu “Trong khi đưa ma, ai nấy im phăng phắc như tờ. Đưa đến huyệt thì các người thân thích đọc một bài điếu tang, rồi đâu về đấy, hiếu chủ chỉ đón cửa tạ ơn người đi đưa, chứ không có lệ mời mọc ăn uống lòi thòi gì cả.”.


2.9  Chiêu, mục – tả chiêu hữu mục

     VBL ghi chiêu là kêu gọi như chiêu hồn, và bên trái (sinister /L), tuy nhiên không ghi cách dùng nào liên hệ trực tiếp với nét nghĩa bên trái trong Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa 46b, trong mục Báo hiếu tế khí đệ nhị thập tứ :

Chiêu mục đứng bày hai bên
Tả chiêu hữu mục dưới trên thuận hòa.

     Cách ghi nhận trên cho thấy truyền thống tôn trọng tôn ti, trật tự gia đình [iii] trong tang lễ: thứ tự thờ cúng với chính giữa là thủy tổ hay hương linh, bên tả (trái – chiêu) cho thế hệ mang số lẻ như 1, 3, 5 … như con, chắt; còn bên hữu (phải – mục) cho thế hệ mang số chẵn 2, 4, 6 … như cháu, chút … Tất cả các danh từ cháu, chắt, chút, chít đều hiện diện trong VBL. Tục lệ tả chiêu hữu mục 左 昭 右 穆 bắt nguồn từ Nho giáo, dựa trên cách phân chia các thế hệ theo hai nhánh tả và hữu hay bên trái và bên phải. Để ý là vị trí “trái” hay “phải” luôn được xác định theo hướng từ bàn thờ nhìn ra ngoài. Có lẽ nên bàn thêm về chữ chiêu (bên trái): tiếng Mường (Bi) vẫn còn dùng chiêu chỉ bên trái: td. “Ti tiểnh ngá pa đi, ủn ngé wềl thay chiêu (đi đến ngã ba đó em rẽ trái)” Tự Điển Mường Việt (NGUYỄN VĂN KHANG chủ biên – Hà Nội /2002). Chiêu có một dạng chữ Nôm là chiêu HV 招 mà âm cổ phục nguyên là *kiau, tương ứng với các ngôn ngữ láng giềng như tiếng Kơho kiêu là (bên) trái, so với các tiếng Aslian, Chrau là chiêu. Tiếng Khme có dạng ឆ្វេង្ /cveɛŋ/ là bên (phía) trái. Chiêu thường đi chung với đăm (bên phải): “Vai chiêu gánh cha, vai đăm gánh mẹ” trích Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh 24a, “Vinh hoa nhiều thấy khách đăm chiêu, bần tiện ai là kẻ trọng yêu” Ức Trai /Quốc Âm Thi Tập 46a, NGUYỄN BỈNH KHIÊM – VBL không có mục đăm.


[i]  Truyện Cô Mai dịch ra tiếng Việt bởi tác giả VŨ VĂN LỄ và in trên Bulletin de la Societe d’enseignement mutuel du Tonkin (Bản tin của Hội Tương tế Giáo dục Bắc Kỳ) vào các năm 1927-1931. Người viết (NCT) có xem lại văn bản tiếng Pháp, nguyên bản không dịch mà vẫn giữ cách dùng tiếng Việt “hợp-tuổi” hàm ý năm sinh cùng một tên con giáp (les memes caracteres cycliques d’annee /Pháp). Một điều nên ghi lại ở đây là tên VŨ VĂN LỄ có trong nguyên bản tiếng Pháp như một quan chức hành chánh chứng nhận đơn từ (Tri phủ Yên Khoái), thành ra có thể chính ông đã tham gia trong quá trình cung cấp thông tin cho tác giả GEORGES SEILER khi soạn tài liệu Cô Mai và xuất bản vào năm 1923; do đó cách dịch tiếng Việt và hiểu nguyên bản tiếng Pháp của tác giả VŨ VĂN LỄ rất đáng chú ý. Đặc biệt là khi nguyên bản tiếng Pháp dịch các bài ca dao, kinh kệ, văn tế của người Việt mà không ghi nguồn! Tác giả VŨ VĂN LỄ đã dịch theo cách hiểu của ông vào giai đoạn này (ông là nhân chứng lịch sử), khác với một dịch giả nào đó chỉ dịch từ nguyên bản tiếng Pháp ra tiếng Việt mà không hiểu rõ hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, rất dễ sinh ra nhầm lẫn.


2.10  Chúc bản

     Chúc bản 祝 版 chỉ văn bản hay lời kể lại thân thế, cuộc đời, công lao và đức độ của người đã khuất, đồng thời nói lên nỗi tiếc thương sâu sắc của con cháu và làng nước, cũng như những lời trối trăng sau cùng của người quá cố, xin phép thổ địa, thành hoàng cho vong linh được an nghỉ …v.v. Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa 47a ghi :

Chúc bản bản chúc phỏng dài thước kinh.

     Đại Nam Quốc Ngữ 59a ghi ‘Chúc bản bản đọc chúc’. Chúc 祝 hàm ý khấn, cầu mong – td. chúc phúc 祝 福 nghĩa cổ là cầu thần linh ban phúc cho. VBL mục chúc còn ghi câu “chúc kì hậu nhin (nhân /NCT), truyền cho kẻ đời sau” và “chúc đài [iv]“.

2.11  Tiểu tường, đại tường, giỗ Thường

     Trong “A Description of the kingdom of Tonqueen” trang 699 (sđd), BARON ghi lại các đám giỗ mỗi năm vào tháng 5, 6, 7 và 9; và mỗi lần giỗ thì mất 2, 3 hay 4 ngày. Tuy nhiên, ngày giỗ quan trọng và lớn nhất là vào cuối thời hạn 3 năm để tang. Đây thuộc về các nghi lễ như chung thất (sau 49 ngày), tốt khóc (tốt 卒 là xong, hết), tiểu tường (sau 1 năm), đại tường (sau 2 năm) và mãn tang (cát kỵ /giỗ Thường – sau 3 năm). Cụ PHAN KẾ BÍNH trong Việt Nam Phong Tục còn ghi các lễ ngu tế gồm sơ ngu (ngày thứ nhất sau khi an táng), tái ngu (ngày thứ nhì) và tam ngu (ngày thứ ba) …v.v.


2.12  Ranh, chữa ranh, rí – làm rí

ranh: mouito: aborſus, vs. ſiue abortiuum ſtatim moriatur, ſiue aliquo breui tẽpore duret. sảy, sảo, idem. chữa ranh: curar com feiticerias eſſa doença: veneficijs illam infirmitatem partus curare. hoc enim ſuadente diabolo faciunt vt infantem iam moriturum gladio in partes ſecent ipſimet parentes, exiſtimantes diabolum quem infirmitatis illius cauſam fuiſſe putant, eo modo fugari, ne ſequentibus partibus noceat. ranh: diabrete que cuidão fas morrer as criãças: paruus dœmon quem Ethnici putant interficere infantes. (VBL trang 639-640)

     Ranh chỉ đứa trẻ chết khi còn trong lòng mẹ hay vừa lọt lòng; phần giải thích bằng tiếng La Tinh chi tiết hơn phần tiếng Bồ (chỉ dùng động từ tương đương là movito tiếng Bồ cổ, bây giờ thường dùng aborto espontâneo có gốc La Tinh abortio). Tiếng Việt TK 17 còn dùng sảo (con), sút hay sẩy (thai). Chữa ranh là chữa sẩy thai bằng bùa phép (phù thủy, phần tiếng Bồ); phần tiếng La Tinh giải thích chi tiết hơn: chữa sẩy thai bằng bùa phép, do ma quỷ xúi giục mà cha mẹ chặt đứa bé thành nhiều mảnh bằng gươm, vì ma quỷ là nguyên nhân gây ra sự sẩy thai và do đó làm như vậy để không gây hại cho các việc sinh đẻ tiếp theo. Ngoài ra, VBL trang 28 còn ghi bảo thai là tục mang bùa của đàn bà có bầu để ngừa sẩy thai. Xem thêm thông tin trong mục chữa trùng tang liên táng 1.12.3 về phép trừ khử các tai họa liên hệ. Để ý đoạn sau VBL phần tiếng Bồ lại định nghĩa ranh là con quỷ nhỏ đã giết đứa trẻ (nguyên nhân của sẩy thai /NCT), phần tiếng La Tinh thêm vào ‘kẻ ngoại đạo tin như vậy‘. Sau TK 17, ranh mở rộng nghĩa chỉ sự quỷ quái mang tính chất tiêu cực: td. ranh mãnh, trẻ ranh, ranh con, đứa chết ranh (lời mắng chửi, nguyền rủa). Nên thêm nhận xét là một dạng chữ Nôm của ranh là linh HV 伶 theo BÉHAINE (1772 /1773), linh HV có một âm cổ phục nguyên là *re:ŋ, đọc như reng gần với âm ranh – so sánh tương ứng giữa linh 靈 và lanh (nhanh), lĩnh 領 – lãnh cho thấy liên hệ phụ âm đầu l – r và nguyên âm i – a. Ngoài ra, các đứa bé đã qua đời còn được dùng trong bùa phép của bà phù thủy và gọi là làm rí [v] (VBL trang 647).


3. Tiểu kết

     Tóm lại, sự qua đời của một người thân trong gia đình là một sự kiện rất quan trọng trong đời người Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ trong tang lễ truyền thống mà dấu ấn còn rất đậm nét trong tiếng Việt vào TK 17.

     Bằng cách tra cứu từ điển VBL và qua dạng chữ quốc ngữ vào thời bình minh, ta có thể tìm thấy một số cách dùng liên hệ trực tiếp như săng, cái quan, cái tiểu, minh tinh, thần vì, thượng khâm, hạ khâm, quàn, đưa đón, để tang để tóc, trùng tang, liên táng, xe táng, đô tì, cất ma, đơm ma tế quỷ, thiêu ma, chiêu hồn, của mả, thầy địa lí, đi đưa xác, hài cốt … Một số cách dùng liên hệ gián tiếp đến tang lễ như chống gậy, văn tế, quan (vua) hành khiển, tắm gội (mộc dục HV), xem ngày /giờ /tuổi, ngặm miệng lại (ngặm hàm – phạn hàm HV), thầy phù thủy, bóng cốt (làm đồng làm cốt) … Dấu ấn của hiện tượng chết còn thể hiện trong ngôn ngữ đại chúng vào TK 17, ghi nhận trong VBL, qua các cách diễn đạt động từ chết: chết, tử (tử vong 死 亡), về nhà quê /về quê (lương dân không muốn dùng /nghe chữ ‘chết’ /VBL trang 624), toi, mất, xong chân xong tay (chân tay cứng lại /không nhúc nhích), trút linh hồn, qua đời, tắt nghì, tắt hơi, hết hơi, chết tươi, ranh (trẻ chết non), chẳng còn, nát bàn /bất sinh /chẳng sống (VBL trang 510), sang (trong cách nói “bà sang” ~ bà thiếp của vua qua đời – VBL trang 16), sinh thì – giờ lên. Ngay cả các giáo sĩ Tây phương và bổn đạo địa phương phải tạo ra một động từ mới, phản ánh giáo lí của Ki Tô giáo, là sinh thì (~ Đức Chúa Trời rước ~ đưa người chết có đạo về cùng Người /Nước Chúa – theo VBL trang 661 mục rước, trang 688 mục sinh). Tuy là một dạng Tự điển dùng ba ngôn ngữ Việt, Bồ Đào Nha và La Tinh, nhưng tình huống lúc soạn tài liệu này là theo yêu cầu và ‘chỉ đạo‘ từ Trung Ương (Tòa Thánh La Mã) với mục đích truyền bá Ki Tô giáo và tiếng La Tinh cho dân bản địa: td. Lời giới thiệu trong trang đầu VBL của DE RHODES nhắc đến điều này. Là một LM Dòng Tên vào TK 17, DE RHODES đã tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu để soạn VBL, thành ra phần La Tinh có thêm nhiều chi tiết hơn so với phần tiếng Bồ, so với các tài liệu nguồn bằng tiếng Bồ chép tay của BARBOSA và AMARAL đã có từ trước. Nhờ vào nỗ lực cập nhật theo định hướng từ Tòa Thánh La Mã mà ta có thêm nhiều thông tin liên hệ như để tang để tóc (> giải thích cách dùng tang tóc trong tiếng Việt hậu kì), làm hè (làm ma, làm đám giỗ – không còn dùng nữa trong tiếng Việt và chỉ còn vết tích trong tổ hợp hội hè), ranh (trẻ chết non /sẩy thai) …v.v. Các nghi thức ghi nhận từ VBL, PGTN, Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646 của LM DE RHODES (1651), các tài liệu tương tự như bản báo cáo của LM BORRI (1631), tài liệu soạn bởi G.F. DE MARINI (1663) và cuốn ‘A Description of the kingdom of Tonqueen’ của SAMUEL BARON (1685) cùng hình vẽ lại cảnh một Đám tang của Chúa Đàng Ngoài đều cho ta thấy các tục lệ đám tang vào TK 17 rất phức tạp, tuân theo Nho giáo (đạo hiếu, đẳng cấp xã hội – td. Thọ Mai Gia Lễ) và chịu nhiều ảnh hưởng của tôn giáo cùng thời như Phật giáo và Đạo giáo. Thành ra, không ngạc nhiên khi VBL và PGTN cùng các tài liệu trên luôn nhắc đến Tam Giáo (đạo Nho /Nhu, đạo Bụt và đạo Đạo /Đạo giáo).

     Mức độ phức tạp và sự tốn hao tài lực /nhân lực làm cho các tục lệ dễ thay đổi theo vùng miền (Đàng Ngoài so với Đàng Trong – yếu tố không gian), dĩ nhiên cũng thay đổi theo thời gian để phù hợp với đời sống hiện đại: td. âm nhạc trong tang lễ bây giờ thường dùng nhạc cụ tây phương và các bản nhạc cận đại [vi] như Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y VÂN, Một Cõi Đi Về của nhạc sĩ TRỊNH CÔNG SƠN (đây cũng là trải nghiệm của chính người viết /NCT). Làn điệu và nhạc trong tang lễ truyền thống thường là Nam Ai, Lưu Thủy – Kim Tiên – Hành Vân (khi di quan hay rước vong) dùng Ngũ cung do phường bát nhã hòa tấu, âm điệu rất khác so với hiện nay. Các tục lệ phức tạp và tín ngưỡng tâm linh truyền thống như hai vị thần phương tướng dẫn đâu đám tang, đội khiêng linh cữu (đô tì), cờ phướn và minh tinh, phạn hàm, ngu tế, đàm tế, đốt vàng mã, chiêu hồn, thời gian tang lễ đã giản tiện hơn. Hỏa táng thay thiêu ma /VBL bắt đầu được ưa chuộng so với địa táng, lại càng làm thủ tục ma táng đơn giản hơn nữa. Máy móc đã thay thế sức lực con người như âm nhạc (thu và phát bất kỳ lúc nào từ thiết bị điện tử trong đám tang), xe tang tối tân thay vì cần nhiều người khiêng quan tài /hương án đi bộ đường xa gây hao tốn nhân lực và tài lực.

     Một tài liệu cần được khai thác nghiêm túc là cuốn “Le rituel funéraire des Annamites: Étude d’ethnographie religieuse“, viết bởi học giả GUSTAVE DUMOUTIER (1904): rất nhiều tục lệ và tín ngưỡng về tang chế ở Hà Nội vào cuối TK 19, phản ánh ảnh hưởng rất lớn của Tam giáo, bao gồm hình ảnh [vii] quý hiếm vào thời kỳ này – td. xem hình minh họa Thơ đối và Vè ca tụng người quá cố khi đưa tang trong Phụ Trương. Người viết /NCT đặc biệt chú ý đến tài liệu Cô Mai (1923, sđd), được soạn cùng thời với cụ PHAN KẾ BÍNH, nhưng ghi lại nhiều câu chuyện rất chi tiết nhìn từ bên trong tang lễ và gia đình thay vì từ ngoài nhìn vào; td. các con người quá cố phải chia việc cho nhau để làm: người con gái út tên là Bích phải lo đi tìm nơi chôn cất cùng với thầy địa lí (phong thủy), các hoạt động chi tiết của gia đình người quá cố, dịch vụ của nhà sư và đoàn ni cô từ đầu tang lễ đến khi hạ huyệt …v.v. Một điều trở nên khá rõ ràng với người viết /NCT, nhất là khi tra cứu các tài liệu để soạn phần này, là không thể cảm thông tục lệ tang ma cổ truyền Việt Nam mà không biết đến tục lệ truyền thống Trung Hoa (td. qua Thọ Mai Gia Lễ) và ảnh hưởng rất sâu đậm của Tam giáo (đạo thích, đạo nhu, đạo đạo – VBL trang 717) qua quá trình giao lưu và thay đổi sao cho thích hợp với phong tục bản địa. Ngoài ra, khi tham khảo các tài liệu cũng cần phải thận trọng vì khả năng khác biệt cách dùng từ Hán Việt tùy theo thời gian (td. Trung Hoa cổ đại, Việt Nam vào TK 17) và không gian [viii] (vùng miền địa phương, Đàng Ngoai, Đàng Trong, Đàng Trên …).

     Hi vọng bài viết này tạo cảm hứng cho bạn đọc để tìm hiểu tiếng Việt sâu xa hơn, và cùng khám phá nhiều kết quả thú vị hơn nữa.


[i]  Các tuần hành hay biểu tình chống đối Tòa Thánh La Mã xảy ra ở London từ năm 1679 đến 1681, điều này cho thấy SAMUEL BARON đã soạn tài liệu “A Description of the kingdom of Tonqueen” sau thời kì này. Trong các cuộc biểu tình ồn ào này – có lúc lên đến cả 200 ngàn người – hình giấy của các Hồng Y, ma quỷ và Đức Giáo Hoàng bị đốt, sau khi có tin là vua Anh Quốc (JAMES, Duke of York) có thể bị thay thế bằng một nhân vật theo đạo Ki Tô (thuộc Tòa Thánh La Mã).

[ii] Thật ra phường bát âm 八 音 gồm có 8 nhạc cụ cổ truyền (ĐNQATV mục âm): 1) kim 金 (kim loại) như đàn đoản, thanh la; 2) thạch 石 (đá /sành) như khánh đá ; 3) thổ 土 (đất nặn) như tù và đất, trống đất; 4) mộc 木 (gỗ) như mõ, phách, sáo gỗ; 5) ti 絲 (tư, tơ) như đàn nhị, đàn hồ, đàn nguyệt, đàn tam; 6) trúc 竹 (trúc /trước – tre) như sáo trúc, tiêu, kèn bóp (kèn loa); 7) bào 匏 (quả bầu) như đàn bầu; 8) cách 革 (da) như trống cái, trống con (trống cơm). Các vật liệu khác nhau làm mỗi nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Hình vẽ phường bát âm của SAMUEL BARON (chụp lại trong bài này) thật ra đã giản hóa, chỉ có 6 nhạc công mà không thấy dùng sáo, khánh, thanh la.

[iii]  VBL trang 461 ghi bát mẫu hay tám bà mẹ như trong Thọ Mai Gia Lễ: “từ mẫu /mẹ sinh đẻ, kế mẫu/mẹ ghẻ, đích mẫu/em mẹ đã nuôi ngày sau, dưỡng mẫu/mẹ nuôi/mẹ mày, giã (giá/NCT) mẫu/mẹ đã lấy chồng khác mà còn nuôi con, thứ mẫu/vợ mọn cha, xuất mẫu/mẹ còn nuôi con khi chồng đã trốn đi, nhũ mẫu/vú“. Tùy theo tình trạng /danh phận của người mẹ trong bát mẫu mà chế độ để tang khác nhau, td. mẹ vú (dưỡng mẫu) thì thời gian chỉ có 3 tháng. Không thấy VBL ghi tam phụ (thân phụ /cha đẻ, kế phụ /cha ghẻ, dưỡng phụ /cha nuôi) như trong Thọ Mai Gia Lễ.


[iv]  Chúc đài (VBL trang 119) giải thích chúc đài là cây cột lộ thiên có cây ngang, kẻ ngoại đạo dùng để thờ trời hay cầu khấn điều dữ (nguyền rủa) cho người khác. Phần La Tinh có 16 chữ so với phần tiếng Bồ có 5 chữ vì thêm nhiều chi tiết hơn, phần tiếng Bồ chỉ ghi là cây cột ở trên có nước thơm (nước hoa). VBL trang 119: chúc đài: coluna com perfumes em ſima: columna ſub dio erecta cum ſuſfitibus ſuprapoſitis, ſuperſtitio qua Ethnici colunt cælum, vel maledicta imprecantur alteri.

[v]  Rí có thể liên hệ đến lí HV 履 (giày) hay là tên một quỷ thần nhỏ: truyền thuyết Trung Hoa từ thời nhà Đường kể lại là có con quỷ nhỏ tên là Hư Hao 虚 耗. Quỷ nhỏ này mặc khố đỏ với một chân mang giày, một chân không nhưng đeo giày ngang lưng. Con quỷ nhỏ này chuyên ăn cắp, hay làm người ta đau khổ. Có lẽ vì truyền thuyết này mà dân gian gọi hồn ma trẻ nít trong phù chú là rí, một dạng kí âm chữ Nôm là *lí 哩 (BÉHAINE /TABERD, HUỲNH TỊNH CỦA sđd). Bùa phép này ngày nay không còn hiện diện nữa, tuy nhiên đã để lại vết tích trong VBL. Một dữ kiện đáng chú ý là THEUREL (1877 /sđd) giải thích rí là bóng cốt, bà bóng chứ không phải là hoa giấy dùng cho bùa ngãi như BÉHAINE và TABERD. Ngoài ra, THEUREL ghi nhận 5 mục rí so với 2 mục rí ghi nhận bởi BÉHAINE /TABERD; tới thời cụ Huỳnh Tịnh Của (ĐNQATV) thì chỉ ghi 1 mục rí – tụng rí cùng nét nghĩa với BÉHAINE /TABERD, nhưng Việt Nam Tự Điển (Hội Khai Trí Tiến Đức) ghi hai cách dùng nàng rí, nàng cốt như nét nghĩa của THEUREL. Điều này cho thấy cách dùng rí ở Đàng Ngoài phổ biến hơn (bảo lưu truyền thống) so với Đàng Trong cũng như vết tích từ thời VBL.

[vi]  Không phải ngẫu nhiên mà các bản nhạc này được ưa chuộng trong đám tang hiện đại. Bài ca Lòng Mẹ thường vang lên trong đám tang của cha mẹ (đặc biệt là mẹ) gợi lại sự biết ơn, đạo hiếu cho các bậc sinh thành. Bài ca Một Cõi Đi Về gợi cho ta khái niêm vô thường của đạo Phật, xem sinh lão bệnh tử là những sự kiện tự nhiên của con người …v.v.


[vii]  Các hình vẽ hay chụp, nếu có thể phân tích chi tiết, có thể cho ta nhiều thông tin thú vị. Đây là phương pháp tiếp cận tổng hợp trong loạt bài viết “Tiếng Việt từ TK 17“, không những là liên ngành từ ngôn ngữ đến lịch sử /khảo cổ, mà còn khai thác triệt để các hình ảnh đã hiện diện trong tài liệu được tra cứu. Tiếng Anh có câu nói “A picture is worth a thousand words” tạm dịch /NCT: Một bức tranh /hình vẽ đáng giá bằng cả ngàn chữ viết, có lúc ghi là “A picture paints a thousand words” tạm dịch /NCT: Một bức tranh /hình vẽ được cả ngàn chữ viết. Tiếng Pháp cũng có câu nói “Une image vaut un long discours” (Một tấm hình/tranh đáng giá như một bài nói chuyện dài). Với khả năng của công nghệ thông tin ngày nay, các hình vẽ /chụp có thể được phục hồi, phân giải rất chi tiết và chính xác, hỗ trợ đắc lực cho các tài liệu bằng tiếng ngoại quốc vào thời trước.

[viii]  Thí dụ như linh xa HV 靈 車, hay liễu xa 柳 車 (Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghia 45b, Đại Nam Quốc Ngữ trang 250) , tang xa 喪 車, linh nhi 靈 輀 chủ yếu là xe (kiệu) khiêng hay kéo tay dùng để di chuyển quan tài (nhà táng, nhà xe – VBL); Linh xa HV là danh từ hiện đại so với các từ khác, tuy nhiên nhưng cũng có thể dùng để chỉ xe (kiệu) chuyên chở bài vị, hương án, di ảnh của người quá cố. Xe tang (hay xe tang lễ, xe đưa tang) là là từ hiện đại và phổ biến nhất so với các cách dùng tương đương khác như xe đòn, xe rồng (hay long xa), linh xa, xe đám, xe quan, xe ma, nhà vàng (ĐNQATV) …v.v. Trong bài viết “Giới thiệu tấm bia Chợ Quan tại xã Trường Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” (TBHNH 2011), tác giả VŨ XUÂN HIỂN cũng cho thấy cách dùng liễu xa (xe tang) vào TK 18 – trong bài ký chợ Quan của vị quan nhà Lê – NGUYỄN HUY OÁNH (1713-1789).


Tài liệu tham khảo chính

1)  TOAN ÁNH (1969) “Phong tục Việt Nam” NXB Khai Trí (1969, Sài Gòn).

2)  SAMUEL BARON (1685) “A Description of the kingdom of Tonqueen” đăng lại bởi JOHN WALHOE, London (1732) – trang 656 đến trang 707 trong tuyển tập này – có thể đọc toàn bài trên trang này chẳng hạn http://www.lexilogos.com/vietnam_carte.htm.

3) PIGNEAU DE BÉHAINE  (1772 /1773) – Bá Đa Lộc Bỉ Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi NGUYỄN KHẮC XUYÊN, NXB Trẻ (Thành Phố HCM – 1999). Có thể tham khảo bản chép tay trên mạng như https://archive.org/details/DictionariumAnamiticoLatinumPigneaux/Dictionarium%20Anamitico-Latinum%20-%201772%2C%20P.J.%20Pigneaux/page/n1/mode/2up?view=theater  .vv…

4)  PHAN KẾ BÍNH (1915) “Việt Nam Phong Tục” NXB Nhà sách Khai Trí in lại – gồm nhiều bài viết đăng trong Đông Dương Tạp Chí vào những năm trước đó.

5)  PHILIPE BỈNH  (1822) “Sách Sổ Sang Chép Các Việc” NXB Viện Đại Học Đà Lạt, 1968, (khoảng 1794-1802) “Nhật Trình Kim Thư Khất Chính Chúa Giáo” – xem bài viết trên mạng như https://www.scribd.com/document/118931952/Nh%E1%BA%ADt-Trinh-Kim-Th%C6%B0-Kh%E1%BA%A5t-Chinh-Chua-Giao-Philiphe-B%E1%BB%89nh cùng các tài liệu chép tay như “Truyện nước Annam Đàng Ngoài chí Đàng Trong”, “Truyện nước Anam Đàng Trong – quyển nhị”, “Truyện các Thánh, Đức Mẹ …”, “Truyện các thánh tử vì đạo”, “Tự điển Việt Bồ”, “Phép Giảng Tám Ngày” (chép lại từ nguyên bản của LM DE RHODES) …

6)  CRISTOPHORO BORRI (1631) “Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina” (Nhiệm vụ mới của các cha dòng Tên ở Vương quốc Đàng Trong – NCT) bản dịch của tác giả PHẠM VĂN BÂN 4/2011 – có thể xem toàn bài trang này https://thunhan.org/images/file/OGaaTdIb0wgQAKwp/mar-31-11-cristoforo-borri-vietnamese-avril-5-1-.pdf ….v.v…

7)  CHU NGỌC CHI (1952 ) “Thọ Mai Gia Lễ” NXB Hưng Long (Hà Nội).

8)  E. DIGUET (1906) “Les Annamites: société, coutumes, religions” NXB Challamel (Paris).

9)  DUMOUTIER, GUSTAVE (1904) “Le rituel funéraire des Annamites: Étude d’ethnographie religieuse” NXB Imprimerie Typo-Lithographique F.H. Schneider (Ha Noi).

10)  LÃ MINH HẰNG (2013) “Khảo cứu từ điển song ngữ Hán-Việt Đại Nam Quốc Ngữ – nguyên bản Nguyễn Văn San” NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội.

11)  GUSTAVE HUE (1937) “Dictionnaire annamite-chinois-français” Imprimerie Trung-hoà – NXB Khai Trí (Sài Gòn) in lại năm 1971 theo bản gốc năm 1937.

12)  GIÊRONIMO MAIORICA (thế kỉ XVII) “Mùa Ăn Chay Cả”, “Thiên Chúa Thánh Mẫu – Quyển thượng”, “Thiên Chúa Thánh Mẫu – Quyển trung”, “Đức Chúa Giê-Su – Quyển chi cửu & Quyển chi thập” (ĐCGS), “Thiên Chúa Thánh Giáo Hối Tội Kinh”, “Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông” (TCTGKM), “Kinh Những Ngày Lễ Phục Sinh – Quyển thứ ba”, “Các Thánh Truyện” (CTTr) từ tháng giêng đến tháng mười hai… Sách lưu hành nội bộ (năm xuất bản 2002 /2003, LM NGUYỄN HƯNG).

13)  GIOVANNI FILIPPO DE MARINI (1663) “Delle Missioni de Padri della Compagnia del Giesu nella Provincia del Giappone, e Particolarmente di quella di Tumkino” dịch ra tiếng Pháp “Relation nouvelle et curieuse des royaumes de Tunquin et de Lao” (biên tập bởi Gervais Clouzier – Paris /1666).

14)  HOÀNG THỊ NGỌ (1999) “Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh” NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội), (1999) “Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh – chữ Nôm và tiếng Việt” NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội.

15)  HENRI OGER (1908 /1909) “Technique du peuple annamite” (Hà Nội) có thể xem trên mạng như trang này chẳng hạn http://ndclnh-mythousa.org/KhoSachCu/Technique%20du%20Peuple%20Annamite%20(Henri%20Oger)%2019 09.pdf …v.v.

16)  ALEXANDRE DE RHODES (1651) “Phép Giảng Tám Ngày” – Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 – Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả NGUYỄN KHẮC XUYÊN, “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” (1651) thường gọi là Từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của THANH LÃNG, HOÀNG XUÂN VIỆT, ĐỖ QUANG CHÍNH – NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991); “Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của HỒNG NHUỆ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California /Mỹ, 1994?); “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả NGUYỄN KHÁC XUYÊN – Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).

17) GEORGES SEILLER (1923) “Cô Mai – Scènes de la vie annamite” Imprimerie d’Extrême-Orient (Ha Noi) – bản dịch ra tiếng Việt bởi tác giả VŨ VĂN LỄ (H. : BSEMT, 1929, t. X, nᵒ 1, p. 1-61).

18)  JEAN LOUIS TABERD (1838) – tên Việt là cố TỪ – “Dictionarium Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale) và cuốn tự điển La Tinh – Việt (1838).

19)  J. S. THEUREL (1877) “Dictionarum Anamitico-Latinum” LM THEUREL ghi nhận LM TABERD khởi thảo và ông cố tình ‘bổ sung’ ngay trong cách giới thiệu trang đầu, (td. hàm ý các cách dùng Đàng Ngoài khác với Đàng Trong /NCT) – Ninh Phú (Đàng Ngoài).

20)  NGUYỄN CUNG THÔNG (2025) “Tiếng Việt từ TK 17: một số cách dùng như đạo bụt, giáo bụt … kiếp, nghiệp, kệ, pháp môn, mục liên, tì lô …” (phần 50B), hay “Tiếng Việt từ TK 17: tóm tắt một số phong tục và các cách dùng như lêu trâu (tlâu) húc nhau, khêu đèn, trêu (tlêu), ghẹo” (phần 49) …v.v. Có thể tham khảo loạt bài này trên các trang như https://nghiencuulichsu.com/2024/12/22/tieng-viet-tu-tk-17-tom-tat-mot-so-phong-tuc-va-cac-cach-dung-nhu-leu-trau-tlau-huc-nhau-kheu-den-treu-tleu-gheo-phan-49/ …v.v.

21)  VŨ HI TÔ (1927) “Thọ Mai Gia Lễ Diễn Nghĩa” NXB Phú Văn Đường (Hà Nội).

22)  PIERRE-GABRIEL VALLOT (1898) “Dictionnaire franco-tonkinois illustré” NXB F.H. Schneider (Hà Nội); “Grammaire Annamite à l’Usage Des Français de l’Annam Et Du Tonkin” (1905) Imprimeur-Éditeur F. H. Schneider, HaNoi.


GHI CHÚ :
◊  Nguồn: Tác giả NGUYÊN CUNG THÔNG gửi bài trực tiếp đến Ban Tu Thư thandiavietnamhoc.com qua email.
◊  Các chữ in, chữ nghiêng, chữ màu, xử lý hình ảnh và biên tập ‘nhẹ’ do Ban Tu Thư thực hiện để phù hợp với phong cách trình bày của trang web.


MỜI XEM :
◊  TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ- Phần 1.
◊  TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ- Phần 2.

BAN TU THƯ
bantuthu1965@gmail.com
10 /2026

Phụ Trương

1. Hình vẽ minh họa Thơ đối và Vè chữ Nho ca tụng người chết trong đám tang – trích từ “Le rituel funéraire des Annamites: Étude d’ethnographie religieuse“ (G. DUMOUTIER, 1904).

PL.20-lerituel.funerair-gustave.dumoutier-thanhdiavietnamhoc.com

Hình 4:  The Manner of their Funeral Pomp (Nguồn: Royal Society, London)


2. ‘Để tang’ trích từ Tập Lịch Sử Nước An Nam chép tay của BENTÔ THIỆN (1659).

     BENTÔ THIỆN không ghi lại các nghi lễ trong đám tang, chỉ ghi lại thứ bậc của cha mẹ và thân quyến trong gia đình cùng thời hạn để tang liên hệ – từ ba tháng cho đến ba năm phù hợp với ghi chép trong Thọ Mai Gia Lễ. Một số thời hạn không bắt buộc, nhưng một số tục lệ phải tuân thủ nếu không sẽ phạm tội ‘hình sự’ (mang họa vì không theo luật lệ nhà nước). Đây là đoạn chép lại theo chính tả hiện đại /NCT: “Bằng phép để tang cho cha mẹ đã chết, anh em, chú bác, dị ( dì) mợ, thì đã có thứ (thứ bậc, td. ghi chép trong Thọ Mai Gia Lễ chẳng hạn/NCT). Con để cho cha mẹ ba năm, vì mẹ còn ở cùng cha cho đến già, thì để tang ba năm; cha chết trước, hay là cha để mẹ, mà mẹ lấy chồng khác, thì con để tang cho một năm. Vợ phải để cho chồng cũng ba năm, mà chồng để cho vợ một năm. Song le mặc ý ai, sự ấy quan chẳng có bắt. Song le sự sau này, ai chẳng có giữ cho nên thì có vạ: cháu trai chẳng còn cha, còn cha để thì để một năm, cháu gái để năm tháng. Anh để cho em một năm, em để cho em cũng vậy. Em cha hay là chị cha, con gọi là bác cùng chú hay là cô, cũng để một năm. Ví bằng cô đã có chồng, thì cháu để cho chín tháng. Anh mẹ hay là em mẹ, gọi là cậu dị (~ dì), thì cháu để cho ba tháng; vú cho nuôi cho bú cũng ba tháng, có ở cùng cha gẻ (~ ghẻ), thì để một năm, chẳng có thì ba tháng” (hết trích). Thời hạn ba năm để tang theo ghi chép của BENTÔ THIỆN, với nhiều giới hạn trong hoạt động bình thường như tiệc tùng/ăn mặc và giao thiệp, gây ấn tượng không nhỏ cho những người nước ngoài cùnd là ‘nhân chứng lịch sử’ như BORRI (1631, sđd), DE RHODES (VBL), BARON (1685, sđd): tất cả các tác giả đều ghi lại tục lệ khắc nghiệt này cho con cái trong tang lễ truyền thống của người Việt. Tục lệ này thể hiện phần nào đạo hiếu trong đời sống con người, ngay cả sau khi cha mẹ đã qua đời; ngay cả người Việt như BENTÔ THIỆN (1659) cũng chỉ ghi tục lệ về thời hạn để tang (tùy theo quan hệ huyết thống) trong rất nhiều nghi lễ liên quan đến một đám tang truyền thống.

 

 

 

 

 

bang-chep.tay-de.tang-by-bento.thien-1659-tap-lich.su-nuoc-an.nam-thanhdiavietnamhoc.com
Hình 5: ‘Để tang’ trích từ Tập Lịch Sử Nước An Nam chép tay của BENTÔ THIỆN (1659)

Bài viết gốc của Tác giả NGUYỄN CUNG THÔNG

◊  TẢI VỀ (Pdf) để xem & lưu trữ :  TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ (P.52)

MỜI XEM :
◊  “TIẾNG VIỆT từ thế kỷ thứ 17 (Phần 42): các cách dùng TRỐNG MỘT, GIỮ/CẦM CANH, NHÀ ĐIẾM/DỎ, TRẮC ẢNH, THÌ GIỜ” – Phần 1.
◊  “TIẾNG VIỆT từ thế kỷ thứ 17 (Phần 42): các cách dùng TRỐNG MỘT, GIỮ/CẦM CANH, NHÀ ĐIẾM/DỎ, TRẮC ẢNH, THÌ GIỜ” – Phần 2.