TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ (P.52) – Phần 2
Một điều đáng chú ý là danh từ hòm, so với từ HV hàm 函, không thấy dùng để chỉ quan tài vào TK 17; td. VBL từng ghi cân hòm là hòm (rương, hộp) đựng cân, hòm đợng (~ hòm đựng). Sau đó, khi Đàng Trong mở rộng thì hòm (hàng) bắt đầu dùng để chỉ quan tài: BÉHAINE (1772/1773) ghi hòm đất là loculus – tiếng La Tinh nghĩa là quan tài, cái tiểu, săng vỏ (Taberd /1838). Phương ngôn tiếng Việt hiện đại còn bảo lưu các cách dùng trên: Nam Bộ thường dùng hòm để chỉ quan tài. Nên nhắc ở đây một nhận xét của SAMUEL BARON (trang 692, sđd) liên quan đến quan tài – tạm dịch /NCT ” … Các nhà giàu có thi rất cẩn thận chọn lọc quan tài, đến lúc tuổi già thường chọn quan tài làm bằng gỗ quý và kích thước, trang trí đầy đủ tương xứng, không cần biết đến tổn phí là bao nhiêu“. Sau gần 3 thế kỉ, quan niệm về việc đặt mua quan tài trước khi chết vẫn còn hiện diện: như VALLOT (mục cercueil /quan tài, sđd) hay truyện Cô Mai (trang 101, sđd) ghi lại rằng “Nhân ngày khao vọng hay ngày sinh nhật mà biếu thân thích một cỗ quan tài sơn trạm đẹp đẽ kỹ lưỡng, thường có khi đắt giá lắm, là một sự thường mà lại coi như một cái thịnh tình mỹ ý nữa.” (hết trích).

1.9 Khâm, thượng khâm, hạ khâm
khâm: papel que ſe poẽ pollos gentios no caixão dos mortos: carta quæ mortuorum capſis ab Ethnicis apponitur. hạ khâm: papel que ſe poem na parte de baixo do caixão dos mortos: papyrus quæ adhibetur in parte inferiori loculi defunctorum. thượng khâm: o papel que ſe poem de cima: cartula quæ adhibetur ab Ethnicis in parte ſuperiori loculi defunctorum. (VBL trang 360).
Khâm HV 衾 chỉ chăn vải để bọc xác người chết khi đặt vào quan tài (cũng theo Thọ Mai Gia Lễ sđd), để ý VBL lại ghi là tấm giấy (papyrus /L, tiếng Bồ là papel) kẻ ngoại đạo (Ethnicis /L, gentios /Bồ) đặt trong săng: thượng khâm là tấm giấy đặt bên trên, còn hạ khâm là tấm giấy đặt bên dưới. Tới thời Béhaine (1772 /1773), TABERD (1838) thì khâm là mền (stragulum /L), DE RHODES cũng dùng danh từ stragulum để chỉ đệm, chăn trong cách dùng lá tọa, lá tố (cái đệm của yên ngựa). Cụ HUỲNH TỊNH CỦA (ĐNQATV) ghi thượng khâm là mền đắp /phủ trên mình kẻ chết, còn hạ khâm là mền lót dưới mình kẻ chết. Nhà giàu sang thì dùng vóc, nhiễu, lụa để bọc thi thể so với vải trắng: các vật liệu dùng trong tang lễ phản ánh phần nào đẳng cấp và khả năng kinh tế của gia đình có tang. Tại sao khâm lại dùng giấy như nhận xét của VBL vào TK 17: phải chăng là đa số dân thường không dùng chăn vải vì hoàn cảnh tài chánh hay do sự tiện lợi của giấy, khi đã được dùng cho đồ mã để đốt trong tang lễ?
Có lẽ nên thêm hai giai đoạn quan trọng trong nghi thức khâm liệm trước khi nhập quan, ghi lại trong Thọ Mai Gia Lễ và SAMUEL BARON (1685), BÉHAINE (1772 /1773), TABERD (1838). BARON trong “A Description of the kingdom of Tonqueen” nhận xét là thi thể người nam thì được quấn vải tốt nhất 7 lần, so với thi thể phái nữ thì quấn 9 lần – người viết (NCT) dịch best coat (A) là vải tốt nhất. Có thể 7 và 9 lần bọc liên hệ đến tín ngưỡng dân gian “đàn ông ba hồn bảy vía, đàn bà ba hồn chín vía” (VBL trang 867 mục vía) hay “blai có ba hồn bảy vía … gái có ba hồn chín vía” (VBL trang 337 mục hồn). Niềm tin vào hồn vía còn thể hiện qua nhiều nghi thức liên hệ như tục chiêu hồn, cúng tế, hồn bạch (tơ bạch, bạch mộc …) – xem chi tiết phần sau.
Tiểu liệm 小 殮 là bọc thi thể bằng các lớp chăn vải như thượng khâm và hạ khâm, theo nghi thức ban đầu ; còn Đại liệm 大 殮 là hoàn tất việc liệm và chuẩn bị nhập quan. Không thấy VBL ghi khâm liệm, tiểu liệm và đại liệm so với khâm, thượng khâm, hạ khâm như đã ghi bên trên. Lại theo cụ PHAN KẾ BÍNH trong Việt Nam Phong Tục (trang 28, sđd) thì giải thích có hơi khác hơn: “Khâm liệm nhập quan — Nhà giàu dùng vóc nhiễu tơ lụa, nhà thường dùng vải trắng, may làm đại liệm, tiểu liệm, (đại liệm một mảnh dọc, năm mảnh ngang, tiểu liệm một mảnh dọc, ba mảnh ngang) để khâm liệm, rồi thì nhập quan (bỏ vào săng)“.
Xem lại các cách đọc hai chữ khâm và liệm, hai từ HV từng được VBL ghi lại.
1.9.1 Khâm
Chữ khâm 衾 (thanh mẫu khê 溪 vận mẫu xâm 侵 bình thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết :
去 音 切 khứ âm thiết (TVGT) TVGT ghi là đại bị dã 大 被 也 (mền, khăn lớn) cũng như QV/TV’TVKC 集 韻 考 正 /LT, LTCN 六 書 正 譌. Để ý bị bộ y là khăn lớn (mền) khác với bị bộ vi 韛 là túi da, ống bễ (> cái bị).
丘 林 切 khâu lâm thiết (NT, TTTH) – NT /TTTH ghi là đại bị dã cũng như CV /TVi.
去 音 反 khứ âm phản (LKTG) – LKTG chỉ ghi là 被 也 bị dã (cái mền /khăn).
去 金 切 khứ kim thiết (ĐV, QV)
袪 音 切,音 欽 khư âm thiết, âm khâm (TV, LT, VH, LTCN 六 書 正 譌)
TNAV ghi thanh mẫu khê 溪, vận mẫu xâm tầm 侵 尋 (dương bình).
CV ghi cùng vần /bình thanh 欽 衾 嶔 顉 (khâm).
驅 音 切 khu âm thiết (CV, TVi).
渠 京 切, 音 欽 (CTT) cừ kinh /nguyên thiết, âm khâm – vào thời CTT, phụ âm cuối -m đã biến đổi thành -n cũng như âm khâm bộ kim đọc gần như giọng BK bây giờ qīn (theo pinyin hiện đại).
Giọng BK bây giờ là qīn (theo pinyin hiện đại) so với giọng Quảng Đông kam1 và các giọng Mân Nam [台 湾 四 县 腔] kim1 [客 英 字 典] kim1 [海 陆 腔] kim1 [梅 县 腔] kim1 [客 语 拼 音 字 汇] kim1 [宝 安 腔] kim1, tiếng Nhật (kan-on) kin và tiếng Hàn geum hay kum.
1.9.2 Liệm
Chữ liệm 斂 殮 (thanh mẫu lại 來 vận mẫu diễm /diêm 鹽 khai khẩu tam đẳng, khứ /thượng thanh) có các cách đọc theo phiên thiết :
良 冉 切 lương nhiễm thiết (TVGT, ĐV) TVGT ghi thu dã 收 也. Thu hàm ý giữ lại, cất giữ (td. chi thu), mở rộng nghĩa để chỉ hành động đặt thi thể vào quan tài.
力 冉 切 lực nhiễm thiết (NT, QV, TV, LT, VH, TTTH, TG 字 鑑, LTCN 六 書 正 譌, CV, TVi, CTT) QV /TV /CV /TVi ghi thượng thanh.
力 驗 切 lực nghiệm thiết (QV, CV, TVi) QV /CV /TVi ghi khứ thanh.
離 鹽 切 li diêm thiết (TV, LT) TV ghi bình thanh.
力 鹽 切 lực diêm thiết (NT, TTTH, CV) CV ghi bình thanh.
TNAV ghi vận bộ liêm tiêm 廉 纖 (thượng thanh và khứ thanh).
CV ghi cùng vần /bình thanh 廉 鎌 鐮 濂 熑 磏 簾 匳 奩 獫 蘞 斂 帘 (liêm *hiếm).
CV ghi cùng vần /thượng thanh 斂 羷 瀲 蘞 溓 (liễm).
CV ghi cùng vần /khứ thanh 斂 瀲 獫 蘞 (liễm).
Giọng BK bây giờ là liǎn, liàn (theo pinyin hiện đại) so với giọng Qiủang Đông lim5, lim6 và các giọng Mân Nam [台 湾 四 县 腔] liam3 [客 英 字 典] liam1 liam3 [沙 头 角 腔] liam3 [东 莞 腔] liam3 [海 陆 腔] liam3 [客 语 拼 音 字 汇] liam1 liam4 [宝 安 腔] liam3 liam1, 潮 州 话 娜 奄 2 [潮 州 ] 罗 奄 2 ,niam2 [潮 州] liam2 [澄 海] niang2, tiếng Nhật (Kan-on) ren và tiếng Hàn yeom.
VBL ghi cách dùng liệm cửa là khép /che cửa lại để người ta không thấy hay tránh ánh nắng từ mặt trời. Cách dùng này cho thấy động từ liệm HV không chỉ dùng cho tang chế (bọc xác và đặt vào quan tài). Một biến âm của liệm là lượm như lượm tay (VBL – khuynh hướng mở rộng nguyên âm như điểm – đốm, hiềm – hờm) hàm ý gom (thâu) hai bàn tay lại và giơ lên (~ chắp tay lên VBL). Sau đó BESHAINE (1772 /1773) chỉ giải thích lượm tay là chắp tay lại, ghi thêm các cách dùng lượm lặt, lượm lưới, lượm chài. Lượm còn mở rộng nghĩa như lượm lúa là một mớ nhỏ gồm sáu tay chứa đầy lúa (VBL).
1.10 Chiêu hồn, phục hồn, gọi hồn, giuống hồn, keo hồn
VBL ghi nhận năm cách dùng tưong đương là chiêu hồn, phục hồn, gọi hồn, keo (kêu /NCT ?) hồn, giuống hồn cho thấy mức độ phổ thông của tục lệ này vào TK 17.
chiêu hồn: chamar as almas dos que são mortos ſem ſepultura: vocare animas defunctorum qui ſepultura caruerunt, ſolent enim ſtatuam fictilem facere, vel aliquot terræ fruſta in ſarcophagum mittere, exiſtimantes illius defuncti animam illuc voca (VBL trang 106).
Để ý phần tiếng Bồ giải thích chiêu hồn là gọi hồn những người chết không có mồ mả, nhưng phần tiếng La Tinh còn thêm vào tục lệ làm tượng giả bằng đất sét, hay để những mảnh đất vụn vào quan tài, và tin rằng hồn người chết sẽ về đó. Cách giải thích khác nhau giữa phần tiếng Bồ và tiếng La Tinh cho thấy LM DE RHODES có thể dùng tài liệu tiếng Bồ (khác tác giả), rồi cập nhật thêm chi tiết trong phần La Tinh. Đây là trường hợp thường gặp trong VBL, phản ánh một tài liệu do nhiều người biên soạn. Điều này cũng phù hợp với lời giới thiệu của DE RHODESS về lịch sử hình thành cuốn từ điển VBL: từ các cuốn tự điển của LM AMARRAL và BARBOSA (nay đã không còn nữa, các vị này mất sớm), sau đó thêm vào phần La Tinh theo lệnh của bề trên (đức Hồng Y từ Tòa Thánh La Mã); thành ra phần La Tinh thêm vào thường đậm sắc tôn giáo và tín ngưỡng theo đúng ý của tổ chức Công giáo truyền thống vào TK 17.
1.11 Của mã
mã, của mã: couſas de papel que ſe fazem pera ſe queimar aos defuntos: res papyraceæ quæ fiunt ad comburendum pro defunctis Ethnicis (VBL trang 443).
Của mã là đồ bằng giấy làm để cúng cho người chết, phần La Tinh thêm là người chết không theo đạo Ki Tô (kẻ ngoại đạo ~ Ethnicis /L). Tiếng Việt hiện đại dùng đồ mã thay vì của mã (TK 17), cũng như đồ ăn thay vì của ăn (TK 17). Các loại đồ mã thường dùng là xe cộ, nhà cửa, các loại tiền và vàng bạc (của giả /VBL), các vật dụng cá nhân như quần áo giấy, giày dép, mũ nón hay hình người (thế mạng) thay đổi tùy địa phương và truyền thống gia đình …
1.11.1 Biến hóa – hóa đi
biến hŏá: transformarſe em couſa melhor: immutari in melius vt Ethnici ſuperſtitiosè putant de rebus fictis quas pro defunctis comburunt, vt in veras immutentur, aut conuertantur. hŏá đi: queimar per a eſſe fim como os corpo dos lazaros: comburere vt in melius tranſformetur, ſic corpora elephantiacorum comburunt Ethnici, vt in meliora tranſmutentur in aliâ vitâ. (VBL trang 329).
Mục biến hóa phần tiếng Bồ giải thích là biến đổi để tốt hơn, phần La Tinh cũng lặp lại ý này nhưng thêm vào nhận xét là kẻ ngoại đạo tin một cách mê tín là khi đốt các đồ/vật giả (đồ mã/NCT) thì chúng sẽ trở thành đồ vật ‘thật’ cho người đã chết sử dụng ở thế giới của họ. Mục hóa đi phần tiếng Bồ giải thích là đốt xác người cùi, phần La Tinh cũng lặp lại nghĩa này nhưng thêm nhận xét là khi đốt xác người cùi, kẻ ngoại đạo tin rằng những người này sẽ có đời sống tốt hơn (hay kiếp sau sẽ tốt hơn theo niềm tin vào luân hồi – NCT).
Có lẽ nên ghi lại ở đây nhận xét rất tiêu cực về tục đốt vàng mã của LM DE RHODES, phản ánh trong các mục của mã, biến hóa trong VBL, lặp lại và chi tiết hơn trong “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” – trong tài liệu này, DE RHODES ghi nhận ” … chúng tôi đã công khai công kích dị đoan và chế giễu tập quán kỳ dị này rằng: họ dám gởi cho cha mẹ những áo giấy mà kẻ nghèo hèn nhất cũng chẳng thèm mặc …“. Đặc biệt trong PGTN có 3 trang 121, 122 và 123 bàn luận chi tiết về tục đốt đồ mã trong tang lễ của cha mẹ – phần sau chụp lại trang 121 của PGTN. Trang này cũng đề cập đến tục cúng đồ chay cho cha mẹ, theo LM DE RHODES là trái ý của cha mẹ (hàm ý cha mẹ thường ăn thịt /NCT) và giống các loài cầm thú. Thật ra các loài cầm thú cũng có loài ăn thịt (gọi là carnivores) hay ăn tạp như con người (gọi là omnivores), hay có loài vật ăn thực vật như cỏ, lá cây, hoa, quả và rễ cây để sinh sống (gọi là herbivores). Do đó, nhận xét của DE RHODES có vì ‘quá nhiệt tình’ trong quá trình giảng đạo Ki Tô và trở nên hơi chủ quan chăng? Ngoài ra, DE RHODES cũng viết về tục đốt vàng mã trong “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” (sđd) rằng “… Họ (kẻ ngoại đạo) nói rằng những đồ vàng mã đốt sẽ hóa trong lửa, một phần ra tro và một phần ra lửa. (de Rhodes hỏi) các người muốn gởi phần nào? Nếu tro thì cha mẹ sẽ bị rét run, nếu là lửa thì cha mẹ bị thiêu trong áo nóng hổi … Tốt hơn hết là nên rộng rãi phát áo (đồ mã/NCT) cho kẻ cùng khổ để họ che thân …“. Vấn đề không nên đốt vàng mã còn phù hợp với khuynh hướng cận đại trong Phật giáo vì các hậu quả nguy hiểm như dễ gây hỏa hoạn, ô nhiễm môi trường và hậu quả tiêu cực cho sức khỏe cá nhân cũng như cộng đồng vì khói và tro bụi, lãng phí tài chánh cũng như tài nguyên thiên nhiên …v.v…

1.11.2 Cái bội
bội, cái bội: cazas ſuperſtitioſas pera os mortos: domus fictæ pro mortuis. (VBL trang 52).
Cái bội là nhà giả làm cho người chết. Bội còn có nghĩa là lễ cúng đốt mã vào ngày rằm tháng bảy: tục ngữ có câu “Trong tháng bảy chẳng bội thì chay” (Việt Nam Tự Điển /Hội Khai Trí Tiến Đức); bội còn có nghĩa là đám giỗ cho người đã mất: td. bội bữa (GUSTAVE HUE /1937). Cái bội hay nhà bội tương ứng với nhà táng, nhà xe [i] trong VBL (xem phần dưới 1.12.1), có khi mở rộng nghĩa để chỉ gian nhà tạm thời (dựng bội) che trước sân để gia đình quàn linh cữu …v.v… THEUREL (Đàng Ngoài /1877, sđd), GUSTAVE HUE (1937, sđd) còn ghi cách dùng bội bữa là bữa ăn (đám giỗ /NCT) cho bạn bè hay láng giềng sau khi cha mẹ qua đời. Bội liên hệ đến đám giỗ hay tang lễ được GÉNIBREL ghi rõ là ở Tonkin (Đàng Ngoài /Đông Kinh) khác với nghĩa (Phường, Người) hát của Đàng Trong (ĐNQATV).
1.12 Để tang để tóc
tang, để tang để tăọc: porſe de dò por morte do pay ou may não rapando a moleira &c: luctum inſtituere pro morte Patris aut Matris, quo tempore viri pregma, ſeu partem capitis anteriorem non radunt, mulieres autem partem capillorum abſcindunt, præcipüè pro pro morte mariti. (VBL trang 721)
Mục tang VBL không giải thích nghĩa của chữ tang mà lại ghi ba cách dùng để tang để tóc, trùng tang và chữa trùng tang liên táng. Phần giải thích bằng tiếng Bồ của để tang để tóc cho thấy tục để tóc (~ không cắt tóc) trên đầu khi có tang, tuy nhiên phần tiếng La Tinh giải thích chi tiết hơn: khi cha hay mẹ chết thì con trai không cắt tóc ở trên đầu phía trước, con gái thì cắt một phần tóc – đặc biệt là khi chồng qua đời. Sự khác biệt giữa hai phần giải thích như trên đáng được tìm hiểu sâu xa hơn – xem thêm chi tiết trong mục chiêu hồn 1.10. Chính cách nói để tang để tóc đã giải thích được cách dùng tang tóc trong tiếng Việt hiện đại, cũng như trong truyện Kiều câu 538 :
Nỗi nhà tang tóc, nỗi mình xa xôi.
Vào Đàng Trong, có lẽ do khí hậu – cũng như văn hóa các sắc dân địa phương cùng giao lưu với các dân tộc ở đây lâu đời hơn – cho thấy tục lệ để tóc dài trong tang lễ không được thích hợp và do đó không thấy ghi trong Tự điển Béhaine (1772 /1773), Taberd (1838).
1.12.1 Nhà táng – nhà xe
táng, nhà táng: cazinha ſobre a ſepultura ou de madeira ou de papel : domuncula quædam ſupra ſepulchrum erecta, ſiue lignea illa ſit ſiue papyracea. (VBL trang 722-723)
Nhà táng là nhà bằng gỗ hay giấy đặt trên mồ người chết. Để ý cách dùng nhà xe bây giờ có nghĩa là nhà chứa xe (garage) hay công ty chuyên chở bằng xe (khách), khác hẳn với nét nghĩa của TK 17. Nhà táng hiện diện trong Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa 45b (và Đại Nam Quốc Ngữ trang 250) :
Nhà táng hiệu là “liễu xa”.
Cấu trúc ‘hoa lệ’ của nhà táng là một điểm nổi bật trong một đám tang, do đó cũng từng được vẽ lại khá chi tiết trong tài liệu “A Description of the kingdom of Tonqueen” của tác giả SAMUEL BARON (xuất bản vào khoảng 1685) như chụp lại ở bên dưới; tựa đề của hình vẽ là The manner of their Funeral pomp: tạm dịch /NCT Nghi lễ long trọng của đám đưa tang.
[i] BÉHAINE (1772 /1773 – Đàng Trong) còn ghi nhà triệu linh để chỉ nhà bằng giấy làm để tế người quá cố: điều này cho thấy các cách gọi khác nhau từ các địa phương như nhà xe, nhà táng, cái bội, nhà bội và nhà triệu linh …
Số 6 trong hình là nhà táng, đây là cấu trúc nổi bật nhất trong hình vẽ đoàn đưa tang bên trên. Có lẽ các người đưa tang sau phương dư (phương duy) không có gì đặc biệt nên BARON chỉ minh họa đến phần phương du (phương dư ~ phương duy 方 帷). Phần sau sẽ đi vào chi tiết về phường bát nhã, minh tinh, đô tì … Để ý ghi chú số 6 tiếng Anh – bên góc trái phía trên hình vẽ – SAMUEL BARON viết là The Mansoleũ wherein the Corps lies chỉ cấu trúc (lăng mộ) để chứa quan tài. Mausoleũ là cách viết vào TK 17 của chữ Mausoleum (kiến trúc chứa quan tài người chết – một hình thức lăng mộ), cách viết này (um > ũ) cũng thường gặp trong VBL tương ứng với –ung, hay trong Tự điển Bồ Hán do các Linh mục Dòng Tên MICHELE RUGGIERI và MATTEO RICCI soạn thảo vào khoảng năm 1583–1588 tại Trung Quốc. Tự điển Bồ Hán ở trên cần được khai thác thêm để hiểu rõ hơn về sự ra đời của VBL sau đó 7 thập niên ở An Nam, tuy nhiên không nằm trong phạm vi bài viết này.
1.12.2 Trùng tang
tru᷃ tang (trùng tang /NCT): tres annos de dò pollo pay e pollo marido, no qual tempo não he licito cazar e fazem outras ſuperſtiçcẽs aos taes mortos: luctus anni tres pro patre aut marito, in quibus non licet ipſis celebrare nuptias, alias etiam ſuperſtitiones pro illis defunctis exequuntur. (VBL trang 721)
Phần tiếng Bồ giải thích là trong vòng ba năm để tang cha hay chồng, không được ‘săn bắn’ (cazar), so với phần tiếng La Tinh là không được phép cưới hỏi (nuptias /L) và các việc dị đoan khác (hàm ý tránh vui chơi giải trí, tiệc tùng, ăn mặc quá mức /NCT) trong vòng ba năm. Có lẽ tiếng Bồ cazar nên viết là casar (cưới) cho rõ nghĩa hơn [i], hai động từ này đọc giống nhau vào TK 17 nên dễ gây lầm lẫn như trên. Trùng tang 重 喪 hàm ý gia đình có nhiều hơn một đám tang trong một khoảng thời gian ngắn (truyền thống Trung Hoa là trong vòng 100 ngày hay 1 năm), và theo tín ngưỡng dân gian là vì người chết vào giờ xấu (kỵ tuổi, ngày hung) thì sẽ kéo theo các thành viên khác của gia đình, thành ra sinh ra những điều cấm kỵ trong ba năm như đã ghi bên trên. Để tránh trùng tang, thầy địa lí hay pháp sư xem giờ, ngày, tháng để làm tang lễ cho được tốt (hạnh thông). Trùng tang có thể là kết quả tự nhiên từ một cộng đồng ở chung đụng (td. tam đại đồng đường 三 代 同 堂: nhà ba đời sống chung, truyền thống Á Đông), các chứng bệnh dễ lây lan cũng như xác suất ngẫu nhiên trùng hợp của ngày mất (cũng như ngày sinh) không là nhỏ [ii]; đây là không kể đến vấn đề y tế/môi trường, sự suy sụp tâm lí khi người thân qua đời dẫn đến rủi ro sức khỏe …v.v… Ngoài ra, sự kiện tiêu cực /xấu xa thường dễ nhớ hơn, đây là thiên kiến tiêu cực (negativity bias /A) – một khuynh hướng tâm lí thường gặp.
1.12.3 Chữa trùng tang liên táng
chữa tru᷃ tang liên táng: fazer certas feiticeiras, peraque nos tres annos do dò os que morrerão não leuem outros apos sỳ de ſua caſa, e ſe dentro daquelle tempo morre outro deſenterrão o primeiro, e não enterrão o ſegundo nem lhe fazem os conuites acostumados pera não morrerem outros: veneficia quædam tempore luctus fieri ſolita, ne defuncti alios ſecum trahant ad mortem. quod ſi quis ex cõſanguineis eo luctus tempore moriatur corpus defuncti effodiunt, & mortuum de nouo ſepulturæ non mandant nec ſolitis conuiuijs illius mortem celebrant ne fortè alius item conſanguineus moriatur. (VBL trang 721-722)
chữa trùng tang liên táng là phương pháp hóa giải tai họa hay rủi ro khi có trùng tang, phải chôn cất liền nhau (liên táng 連 喪). VBL ghi pháp sư dùng bùa phép trong thời kỳ để tang ba năm. Nếu có ai khác trong huyết tộc qua đời trong lúc để tang, thì người ta khai quật xác người chết trước và không chôn cất cả hai người; không tổ chức đình đám /cúng kiến theo truyền thống cho cho cả hai. Phần tiếng La Tinh giải thích hơi khác (thêm chi tiết) so với phần tiếng Bồ: không tổ chức đình đám /cúng kiến cho người chết sau để tránh cho một người thân khác sẽ bị chết theo nữa.
1.12.4 Tang – táng
Cả hai dạng chữ tang và táng đều hiện diện trong VBL. Tang HV chỉ nghi lễ chôn cất người chết, hay xác chết so với táng (thanh sắc) là chết (td. táng gia bại sản, táng đảm kinh hồn) … Hãy xem lại chữ tang táng 喪 𡂤𡴧𡂧𦦦𡚏 (thanh mẫu tâm 心 vận mẫu đàng 唐 khai khẩu nhất đẳng, khứ /bình thanh) có các cách đọc theo phiên thiết :
蘇 浪 切 tô lãng thiết (QV, CV, TG 字 鑑, TVi, CTT).
蘇 浪 反 tô lãng phản (LKTG).
四 浪 切,桑 去 聲 tứ lãng thiết, tang khứ thanh (TV, LT, VH).
息 郞 切 tức lang thiết (TVGT, QV, LT, LTCN 六 書 正 譌) TVGT ghi 从 哭 从 亾。會 意 tùng khốc tùng vong, hội ý ( 亾 là một dạng cổ của vong 亡). Các ý chính của tang là sự mất đi, vắng bóng (> qua đời) và khốc lóc …v.v… So sánh vong và vắng (một dạng cổ là *maŋ, âm cổ của vong) cũng cho thấy một hàm ý trong cấu trúc chữ tang.
息 浪 息 唐 二 切 tức lãng tức đàng nhị thiết (NT, TTTH).
蘇 郎 蘇 浪 二 乀 tô lang tô lãng nhị phật (TNTTĐTA 精 嚴 新 集 大 藏 音)
蘇 郎 切,音 桑 tô lang thiết, âm tang (TV, VH, CV, TVi).
TNAV ghi vận bộ 江 陽 giang dương (dương bình).
TNAV cũng ghi vận bộ 江 陽 giang dương (khứ thanh).
CV ghi cùng vần/bình thanh 桑 顙 倉 喪 (tang thương *tảng).
CV cũng ghi cùng vần/khứ thanh 喪 (táng).
Giọng BK bây giờ là sāng sàng (theo pinyin hiện đại) so với giọng Quảng Đông song1 song3 và các giọng Mân Nam [宝 安 腔] song3 | song1 [沙 头 角 腔] song3 [陆 丰 腔] song1 song6 [海陆 腔] song5 song3 song1 [梅 县 腔] song1 song3 [台 湾 四 县 腔] song5 song3 song1 [客 英 字 典] song1 song3 song5 [客 语 拼 音 字 汇] song1 song4 [梅 县 腔] song5, seng1(sng) sang3(sàng), tiếng Nhật (Kan-on) sō và tiếng Hàn sang.
VBL ghi cách dùng để tang, so với các cách dùng tương đương sau này như có tang, có chế, chịu tang, thọ tang, cư tang (ĐNQATV), mang tang, đeo tang, thủ tang, giữ tang, có bụi [iii]; so với các cách dùng mãn tang, hết tang, kết tang, đoạn tang, xong tang, hết bụi (Gustave Hue /1937) …v.v… Các cách nói này – 11 cách diễn đạt có tang trong tiếng Việt như trên – phản ánh mức độ phổ thông và truyền thống lâu đời (văn hóa) của tang chế. Tiếng Anh và Pháp không có từ tương đương với để tang /có tang mà dùng một cách tổng quát, chỉ sự thương tiếc /đau buồn như: (to) go to the mourning, (to be) in mourning (A) hay prendre le deuil, porter le deuil, (être) en deuil (P). Ngoài ra người Tây phương có truyền thống thường mặc quần áo đen khi tham dự đám tang – khác hẳn với quần áo trắng ở phương Đông, td. Hàn quốc /Trung quốc, Việt Nam … Tây phương cũng thường tránh ồn ào náo nhiệt trong tang lễ, nhất là khi đưa quan tài – rất khác biệt với tang lễ cổ truyền của người Việt.

1.13 Quàn
quàn: deixar o corpo do defunto por enterrar: inhumatum cadauer relinquere. (VBL trang 620)
Quàn là tạm đặt xác người chết ở một chỗ trước khi đem chôn. Tự điển Béhaine (1772 /1773), Taberd (1838), Theurel (1877) đều ghi thêm nhà quàn, quàn chữ Nôm dùng quyền HV 權.
Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa 46a ghi :
茹 權 固 号 殯 宫
Nhà quàn có hiệu “thấn/tấn cung”.
Truyền Kỳ Mạn Lục Tân Biên II, ĐÀO THỊ 37b ghi :
妾 㐌 謹 權 於 園 南 除 撞 衛 仕 塟 丕
Thiếp đã ghín quàn ở vườn Nam, chờ chàng về sẽ táng vậy.
Đại Nam Quốc Ngữ 60a ghi ‘Tấn cung nhà quàn’, thấn /tấn HV 殯 chỉ quan tài đã liệm nhưng chưa chôn. So với tương quan tuyền – toàn vào TK 17 (BBC, tiền ~ tuyền 泉 kị húy vợ quan Trấn Thủ), phàn (nàn) – phiền 煩, vãn – miên 娩, an – yên 安 … Thành ra quàn có khả năng cao là dạng âm cổ hơn của quyền HV: xem lại chữ quyền 權 (thanh mẫu quần 羣 vận mẫu tiên 仙 bình thanh, hợp khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết :
巨 員 切 cự viên thiết (TVGT, ĐV, QV, NT).
巨 員 翻 cự viên phiên (BH 佩 觿).
逵 員 切, 音 拳 quỳ viên thiết (TV, TVKC 集 韻 考 正, VH, LT, CV, TVi) âm quyền
古 玩 切,音 貫 cổ ngoạn thiết, âm quán (TV, LT, CTT) – để ý vần -an đã được ghi trong Tập Vận (năm 1037 /1067).
音 㩲 âm quyền (LKTG) 㩲 là chữ hiếm dùng như 拳 .
其 員 切 kì viên thiết (TTTH).
TNAV ghi vận bộ 先 天 tiên thiên (dương bình).
CV ghi cùng vần /bình thanh 權 拳 惓 卷 顴 鬈 婘 蜷 捲 (quyền).
區 員 切, 音 拳 khu viên thiết, âm quyền (CTT).
Giọng BK bây giờ là quán (theo pinyin hiện đại) so với giọng Quảng Đông kyun4 kun3 (Taishan) và các giọng Mân Nam [客 语 拼 音 字 汇] kian2 [宝 安 腔] ken2 [东 莞 腔] ken2 [台 湾 四 县 腔] kien2 [客 英 字 典] ken2 kien2 [陆 丰 腔] kian3 [梅 县 腔] kian2 [沙 头 角 腔] kien2 [海 陆 腔] kien2, tiếng Nhật (Kan-on) ken (Go-on) gon và tiếng Hàn là [kwʌ̹n]. Một dạng âm trung cổ phục nguyên của quyền là *gwan mà tiếng Việt bảo lưu qua dạng quàn.
Trong các nghĩa của quyền như loại cây màu vàng, hoa màu vàng, cái cân, quả cân, sức mạnh, tạm thời, xương gò má, mưu lược: nét nghĩa tạm thời còn duy trì trong cách dùng quàn (nhà quàn) hàm ý tạm thời đặt xác người chết ở một nơi nào đó, hay mở rộng nghĩa để chỉ sự dời lại chuyện gì đó mà chưa làm vội (Việt Nam Tự Điển /Hội KTTĐ), td. ‘công việc phải quàn cả lại’. Đàng Trong vẫn bảo lưu nguyên âm mở rộng hơn qua vần -ơn so với -iên hay -an của Đàng Ngoài: quờn (Béhaine/1772/1773, Taberd/1838) thay vì quyền (quièn – quàn VBL, quyền Theurel /1877). Cụ HUỲNH TỊNH CỦA (1895, ĐNQATV) ghi lại một tục lệ thú vị: phá quàn là để quan cữu lâu ngày, sợ sinh yếu khí, phải làm phép trừ yếu khí.
1.14 Hài cốt
cốt, hài cốt: os oſſos de morto que não tem ià carne: oſſa mortuorum conſumptis iam carnibus. (VBL trang 133 mục cốt)
hài cốt: corpo morto: cadauer, eris. (VBL trang 307 mục hài).
Hài cốt là từ HV 骸 骨: trang 133 cả hai phần tiếng Bồ và La Tinh đều giải thích là xương người khi thịt đã rã (không còn nữa), nhưng VBL trang 307 lại giải thích hài cốt là xác chết. Tự điển chép tay Việt Bồ – Bồ Việt của PHILIPHÊ BỈNH (sđd) ghi corpo morto là hài cốt, ma, thây xác, thây.
1.15 Cái tiểu
cái tiểu: caixão piqueno em que ſe tresladão os oſſos dos defuntos depois de tres annos: ſarcophagus exiguus in quem poſt triennium oſſa defuncti transferuntur. (VBL trang 797-798)
Cái tiểu là cái hòm nhỏ mà xương người chết được chuyển qua sau ba năm. Đàng Trong lại dùng tiểu để chỉ cái hòm nhỏ cho con nít (loculus defuncti infantuli /L – Béhaine /1772 /1773, Taberd /1838, ĐNQATV /1895) so với Đàng Ngoài vẫn dùng nét nghĩa từ thời VBL; td. Tự điển Theurel /1877 giải thích cái tiểu giống như VBL dù rằng dựa vào các tài liệu của BÉHAINE và TABERD từ Đàng Trong. Miền Nam bây giờ vẫn chỉ chôn cất một lần, hay nhất táng sao cho mồ yên mả đẹp: đơn giản hơn nhiều so với tang lễ cổ truyền đến từ Đàng Ngoài.
Cải táng 改 喪 còn gọi là sang cát hay bóc mộ – trích từ hình vẽ trong cuốn “Technique du peuple annamite” HENRI OGER /sđd.
Một nhận xét nên ghi lại ở đây: tuy VBL không có mục cải táng, nhưng quá trình chuyển hài cốt vào một hòm nhỏ sau ba năm (~ cái tiểu/VBL) chính là tục cải táng theo đúng truyền thống. Có lẽ thời gian sau ba năm vì thể hiện sự báo hiếu (so với bú mớm ba năm khi còn bé) và thân xác cũng đã phân hủy để có thể đem xương cốt qua hòm nhỏ cho thuận lợi hơn.
1.16 Minh tinh
minh tinh: bandeira grande no enterramento na qual ſe poem o nome do defunto: vexillum quod in iuſtis defuncto ſoluendis defertur, & in quo defuncti nomen maiuſculis literis deſcribitur. (VBL trang 467-468)
Minh tinh là lá cờ lớn trong tang lễ một người đáng kính (phần La Tinh thêm tính từ này), trên lá cờ viết tên người quá cố bằng chữ lớn (phần La Tinh thêm chi tiết này). Để ý minh tinh HV viết là 明 旌 hoặc 銘 旌 với chữ tinh bộ phương chỉ một loại cờ – có lúc viết là 靈 旌 linh tinh – khác với minh tinh 明 星 (chữ tinh bộ nhật nghĩa là ngôi sao) hàm ý sao sáng, TUỆ TINH, diễn viên điện ảnh nổi tiếng … Tục mang cờ /minh tinh trong tang lễ đã có từ thời nhà Chu 周 (TK 11 TCN – 221 TCN): Lễ Kí – Đàn Cung Thương ghi 銘, 明 旌 也,以 死 者 為 不 可 別 已,故 以 其 旗 識 之 minh, minh tinh dã, dĩ tử giả vi bất khả biệt dĩ, cố dĩ kì kì thức chi – tạm dịch /NCT: minh, hay cờ /minh tinh để cho người chết phân biệt với người sống, do đó dùng cờ /minh tinh để nhận biết được”. Trong hình vẽ của SAMUEL BARON bên trên, minh tinh đi sau phường bát nhã với 16 người khiêng dàn đòn. Số người khiêng minh tinh cho thấy đẳng cấp của người quá cố cũng như gia tộc: td. 4, 16, 32 người. Cụ PHAN KẾ BÍNH (trang 31 – Việt Nam Phong Tục, sđd) ghi chi tiết rằng ” … Minh tinh làm bằng lụa hoặc bằng vóc nhiễu đỏ, dài độ 7, 8 thước, lấy phấn trắng đề chức tước, họ tên thụy-hiệu người đã mất, treo vào một cành tre hoặc làm như hình cái trụ, để vào bàn độc cho người khiêng. Đề lòng minh tinh thường tình theo bốn chữ « quỉ, khốc, linh, thính », viết dài ngắn thế nào mặc lòng, nhưng chữ cuối cùng, không được chạm vào chữ quỉ, chữ khốc, e chạm phải hai chữ đó thì độc chăng.” (hết trích). Minh tinh [i] còn gọi là hồng la 紅 羅 (Đại Nam Quốc Ngữ, Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa sđd); hay lá triệu (BÉHAINE /1772-1773, TABERD /1838 ghi là giá triệu 架 兆) thường ca ngợi đạo lí con người như viết trung tín cho người nam, trinh thuận cho người nữ.
1.17 Đô tì – đô tay – đồ tùy
tì, đô tì: os que acarretão o corpo morto: defuncti corpus aſportantes. đô tay, idem. alij đô trụi. tì lô, vide lô. (VBL trang 789)
tuì, đồ tuì: gente que carreta mortos: aſportantes ſeu qui adſportant mortuos. alij tì. (VBL trang 844)
Đô tì hay đô tay là người khiêng xác chết (hàm ý khiêng quan tài trong đám tang đến chỗ chôn cất /NCT). Để ý một cách nói khác là đô trụi (VBL). Tự điển Béhaine (1772 /1773), Taberd (1838) ở Đàng Trong thì ghi là đô tùy 都 隨; dựa vào các tài liệu này, THEUREL ở Đàng Ngoài cũng ghi là đô tùy (1877). Cụ HUỲNH TỊNH CỦA (ĐNQATV /1895) ghi đô tùy là đạo hò, quân giang quan. Có khả năng liên hệ đô tì /đồ tùy (VBL) và đạo tùy 道 隨 HV: td. đậu còn đọc là đỗ (VBL) cũng như 甌 âu – ô, 剖 phẫu – bổ (mổ) … Do đó đạo có âm đô /đồ là khả thi. Vào thời VBL, thủy 始 còn đọc là thĩ, tủy 髓 còn đọc là tỉ, tuyệt 絕 còn đọc là tiệt … Thành ra ta có cơ sở liên hệ đạo tùy HV đến đô tì, đồ tùy (VBL). Đạo tùy HV thường chỉ các người dẫn đường, phụ giúp đưa đám kể luôn những người khiêng quan tài chẳng hạn.
Xem hình vẽ đám tang của chúa Đàng Ngoài bên trên, ta thấy có một đội ngũ đô tì gồm 32 người ở trần, hình dáng khỏe mạnh cởi trần (có lẽ cần thiết cho nhiệm vụ khiên linh cữu).
1.18 Thiêu ma
thiêu ma: queimar o corpo morto; cadauer igne conſumere. (VBL trang 765).
Thiêu ma là đốt xác chết (hỏa thiêu, hỏa táng /NCT). Danh từ ma hàm ý xác người chết vào TK 17, không phải theo nghĩa ma theo cách hiểu thông thường trong tiếng Việt hiện đại. Vào TK 17, hỏa táng không phổ thông so với địa táng. Hỏa táng chủ yếu gắn liền với đời sống tâm linh Phật giáo, thường là sự thiêu các vị cao tăng để lấy xá lợi nhập tháp và nghi thức tôn giáo của người Khmer, Chăm – phản ánh tập tục của Đàng Trong khi Việt Nam phát triển về phương Nam – đồng thời tiếp cận với nhiều phong tục mới trong một không gian mới. Hỏa táng hoàn toàn bị cấm theo đạo Ki Tô vào thời trung cổ vì nhiều lý do: a) niềm tin về sự phục sinh, hay con người có thể sống lại được sau khi qua đời (td. đức Chúa Giê Su chẳng hạn – niềm tin của bổn đạo Ki Tô); b) không chấp nhận tục lệ ngoại đạo như trong các tôn giáo thời cổ Hi lạp, La Mã … Ở An Nam vào thời này, chỉ có các bậc cao tăng mới sử dụng hình thức hỏa táng sau khi viên tịch, do đó sự xuất hiện của cách dùng thiêu ma (~ thiêu xác, đốt xác) trong VBL đáng chú ý và cần tìm tòi sâu xa hơn nữa.
1.19 Huyệt – lỗ chôn mồ
huiệt: coua da ſepultura: fouea ſepulchri. lố chôn mồ, idem. (VBL trang 343)
Huyệt HV 穴 chỉ hang, hốc, lỗ. Huyệt mả là lỗ đào chôn kẻ chết (ĐNQATV). VBL ghi lố (thanh sắc) so với lỗ (in nhầm? thanh hỏi lúc này ở vị trí cao hơn bây giờ – NCT).
1.20 Thần vì
thần vì: certa taboa em que ſe eſcreue o nome do defunto pera lhe fazerem zumbaya: tabula in qua conſcribitur nomen defuncti vt illi ſolita reuerentia demiſſo in terram capite fiat. (mục thần – VBL trang 741)
uì, thần uì: taboinha em que ſe poem o nome do morto pera lhe fazerẽ zumbaya: tabella in qua apponitur nomen defuncti, ad reuerentiam illi exhibendam (mục vì – VBL trang 866).
Thần vì là tấm bảng hay ván có ghi tên người chết và các người khác cuối đầu xuống đất tỏ lòng tôn kính, thần vì xuất hiện 2 lần trong VBL trong mục thần và mục vì. Để ý cách viết trong VBL là thần vì chứ không phải là thần vị, hai cách đọc tương đương [ii] cho danh từ HV 神 位, TABERD (1838, tự điển La Tinh – Việt) ghi tabella defunctorum là bài vị, linh vị, thần vì. Các cách gọi khác là bài vị hay linh vị thường làm bằng gỗ, đá hay đồng. Cụ HUỲNH TỊNH CỦA (ĐNQATV) đưa ra một cách giải thích hơi khác về thần vì hay thần thi ‘người đứng thế cho người đã chết rồi cũng gọi là thi chủ (nay dùng thần chủ)‘ và thần chủ hay mộc chủ là ‘bài vị đề tên họ người chết để mà thờ‘. LM Dòng Tên MARINI (1663, sđd) thì giải thích như sau ‘khi nhận được tin con mình qua đời mà không thể đem thì thể về nhà được, thì cha mẹ viết tên người chết trên một bảng nhỏ gọi là Than Vy (người viết giữ nguyên cách viết chữ quốc ngữ của Marini), và cử hành các nghi thức tang ma như là khi người chết ở trong nhà …”.
1.21 Bà bóng – bóng cốt
cốt, báo᷃ cốt: feiticeira em que entra o diabo, tomando nome de peſſoas mortas: venefica ſeu pythoniſſa in quam dæmon aſſumens mortuorum nomina ingreditur. (VBL trang 133)
báo᷃ cốt, bà báo᷃: feiticeira: venifica, æ. (VBL trang 26)
Bóng cốt hay bà bóng là người đàn bà (~ bà phù thủy) mà ma quỷ nhập vào dùng tên của người chết – xem thêm chi tiết trong mục chiêu hồn 1.10. Một dữ kiện liên hệ được LM BORRI ghi lại (sđd /1631) là ” … Một số ông sãi (BORRI viết là onsaij – NCT) đi đến cung điện của quan Trấn Thủ để làm lễ chiêu hồn (bản dịch tiếng Pháp ghi là négromancie [iii] – NCT), điều này dẫn đến việc thực hiện một buổi lễ mê tín khác, theo phong tục xứ này. Thân nhân xem như là một đặc ân lớn nếu có ai đó có thể nói ra những sự việc ẩn tàng liên quan đến linh hồn của người quá cố … Những người chiêu hồn này vẽ vòng tròn, chăm chú làm lễ cầu ma quỷ bằng dấu hiệu và lời niệm chú cho đến khi ma quỷ nhập vào xác của một người nào đó của quan Trấn Thủ, họ đang đứng đó trong thái độ cầu khẩn, nhưng tất cả đều vô vọng. Cuối cùng một em gái của quan Trấn Thủ trình diện, người mà quan yêu thương nhất trong các anh chị em, bà cũng cầu xin đặc ân này cho ông, và đột nhiên cho thấy các dấu hiệu rõ ràng đã được ma quỷ nhập vào. Vốn đã lọm khọm vì tuổi già và khó có thể bước đi mà không chống gậy, bà gây kinh ngạc cho mọi người hiện diện khi bắt đầu nhảy múa, cũng nhanh và nhẹ như một cô gái trẻ …” (hết trích).
[i] THEUREL (1877 /sđd) ghi minh tinh là minh sinh ở Đàng Ngoài so với HUỲNH TỊNH CỦA (ĐNQATV) ghi là minh sanh ở Đàng Trong. Điều này cho thấy quá trình biến âm s -t vẫn chưa hoàn tất trong tiếng Việt vào TK 19.
[ii] Tương quan vị HV và vì cũng giống như ngoại – ngoài, cận – gần, loại – loài, sự – thờ …v.v…
[iii] Nécromancie tiếng Pháp nghĩa là phép triệu hồn kẻ chết (TRƯƠNG VĨNH KÝ /1885, VALLOT /1898); chữ này có gốc la tiếng cổ Hi Lạp νεκρομαντεία (nekromanteía), νεκρός (nekrós nghĩa là chết) + μαντεία (manteía, đoán xem tương lai /bói). Các tài liệu Tây phương trước đây thường nhầm lẫn nécromancie với négromancie vì gốc Hi Lạp nekros là chết dễ lộn với gốc La Tinh nigro là đen (hàm ý phép thuật hắc ám, ma thuật).
[i] Động từ cazar có gốc Bồ Đào Nha cổ caçar nghĩa là săn bắn, còn casar cũng có gốc Bồ Đào Nha cổ và ngữ căn là casa (cái nhà) hợp với hậu tố –ar để tạo ra động từ: làm nhà nghĩa đen hay thành lập gia đình (~ cưới) là nghĩa bóng. Các động từ đồng nghĩa với cưới thường dựa vao khái niệm sư kết hợp hay sống chung của hai người như kết hôn, lấy (làm thành một cặp), có bạn chưa? (VBL trang 23, mục bạn) … Tiếng Anh to unite (kết hợp > kết hôn, tiếng Pháp s’unir), to tie the knot (kết nút > kết hôn), tiếng Pháp fonder un foyer nghĩa đen là tạo dựng bếp nhà (nơi làm và cung cấp thức ăn, chỗ ấm cúng) dẫn đến nghĩa bóng là thành lập gia đình …v.v…
[ii] Tỷ lệ tử vong thô (crude death rate) ở Việt Nam trung bình khoảng 6.5 /1000 người/năm – theo trang Macrotrends https://www.macrotrends.net/global-metrics/countries/vnm/vietnam/death-rate . Xác suất một người bất kỳ qua đời trong vòng 49 ngày trong 1 năm là p = (6.5 /1000) x (49 /365) ~ 0.0008726. Trong một tập hợp gia đình với 3 đời, khoảng 30 người chẳng hạn, nếu có 1 người qua đời trong vòng 49 ngày thì ít nhất 1 người nữa sẽ qua đời là Pr (X ≥1) = 1 – (1 – p)29 ~ 0.025 hay 2.5%. Nói cách khác, cứ 100 gia đình (có 30 thành viên) và có 1 người qua đời thì trong vòng 49 ngày sẽ có trung bình 2 đến 3 gia đình có người thân cũng qua đời, hoàn toàn do xác suất ngẫu nhiên chứ không có ảnh hưởng tâm linh nào khác! Nếu mở rộng thời gian để tang lên 100 ngày hay 1 năm thì xác suất trùng tang sẽ tăng hơn nữa. So sánh với xác suất trùng ngày sinh trong một tập hợp /nhóm có 30 người là vào khoảng 0.706 hay 70.6 % hay là khá cao.
[iii] ĐÀO DUY ANH trong Tự điển Pháp Việt (1936 /19520) ghi être en deuil là có tang, có chế, có bụi; GUSTAVE HUE trong Tự điển Việt Pháp (1937) cũng ghi có bụi là en deuil; Việt Nam Tự Điển (Hội Khai Trí Tiến Đức/1931/1954) cũng ghi bụi có nghĩa bóng là có tang, không được quang quẻ … Không thấy các tài liệu trong Nam (từ thời Béhaine /1772 /1773, Taberd, Huỳnh Tịnh Của) ghi cách dùng có bụi, hết bụi – phản ánh sự phân ly ngôn ngữ từ thời Đàng Ngoài và Đàng Trong (TK 17).
◊ Các chữ viết tắt khác là :
| Viết tắt | Chữ đầy đủ | Viết tắt | Chữ đầy đủ | Viết tắt | Chữ đầy đủ |
| NCT | Nguyễn Cung Thông | PG | Phật Giáo | NKV | Ngũ Kinh Văn Tự /776 |
| HV | Hán Việt | TVGT | Thuyết Văn Giải Tự /khoảng 100 SCN | LKTG | Long Kham Thủ Giám /997 |
| VN | Việt Nam | NT | Ngọc Thiên /543 | QV | Quảng Vận /1008 |
| CG | Công Giáo | ĐV | Đường Vận /751 | TNAV | Trung Nguyên Âm Vận /1324 |
| CV | Chính Vận /1375 | TVi | Tự Vị /1615 | VB | Vận Bổ /1100 /1154 |
| VH | Vận Hội /1297 | LT | Loại Thiên /1039 /1066 | CTT | Chính Tự Thông /1670 |
| TViB | Tự Vị Bổ /1666 | TTTH | Tứ Thanh Thiên Hải | KH | Khang Hi /1716 |
| P | tiếng Pháp | A | tiếng Anh | L | tiếng La Tinh |
| VNTĐ | Việt Nam Tự Điển /Hội Khai Trí Tiến Đức 1931 /1954 | TNNL | Thiên Nam Ngữ Lục | TV | Tập Vận /1037 /1067 |
| ĐNA | Đông Nam Á | PGTN | Phép Giảng Tám Ngày | . . . |
[i] NGUYỄN CUNG THÔNG: Nhà Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email : nguyencungthong@gmail.com.
◊ Phần này bàn về các tục lệ tang chế truyền thống ở Việt Nam từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh /Bồ (Chữ Quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn cùng với chữ Nôm, cũng như một số tục lệ không còn hiện diện nữa.
◊ Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là các tài liệu chép tay của LM PHILIPHÊ BỈNH (sđd) và bốn tác phẩm của LM DE RHODES soạn: (a) cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” (viết tắt là PGTN), (b) “Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh” (viết tắt là BBC), (c) “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646″ và (d) “Tự điển Annam-Lusitan-Latinh” (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra Tự điển này trên mạng, như trang: https://tinyurl.com/booksgooglefr.
… CÒN TIẾP …
GHI CHÚ :
◊ Nguồn: Tác giả NGUYÊN CUNG THÔNG gửi bài trực tiếp đến Ban Tu Thư thandiavietnamhoc.com qua email.
◊ Các chữ in, chữ nghiêng, chữ màu, xử lý hình ảnh và biên tập ‘nhẹ’ do Ban Tu Thư thực hiện để phù hợp với phong cách trình bày của trang web.
MỜI XEM :
◊ TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ- Phần 1.
◊ TIẾNG VIỆT từ TK 17: Các TRUYỀN THỐNG TANG CHẾ- Phần 3.
BAN TU THƯ
bantuthu1965@gmail.com
10 /2026