Xứ Nghệ với văn hoá Nguyễn
Tác giả bài viết: Phó Giáo sư NINH VIẾT GIAO
(Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An)
Nghệ An là cố hương của vua Quang Trung. Trong tâm tư sâu sắc của nhân dân Nghệ An, hình ảnh Bắc Bình vương Nguyễn Huệ – vua Quang Trung vẫn lừng lững oai hùng trong lần từ Huế ra lấy thành Nghệ An không gẫy một cán giáo, mất một mũi tên, vẫn uy nghi dõng dạc trong cuộc duyệt binh dưới chân núi Lam Thành và vô cùng cao đẹp khi đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, kéo đoàn quân chiến thắng qua Nghệ An về Phú Xuân. Bên cạnh đó, trong ký ức nhân dân Nghệ An vẫn đậm đà những cuộc trả thù đẫm máu của nhà Nguyễn Gia Long như giết thân nhân Nguyễn Huệ ở Thái Xá (Hưng Nguyên) mà huyền thoại còn lại là Cầu Ma (thị trấn Hưng Nguyên), đào mả tổ tiên Nguyễn Huệ ở Trãng Vương tại núi Thai Phong, di một bộ phận dân làng Thái Xá đến cư trú trong một trang trại tại chân núi Vạc ở Nam Đàn, đặt tên là Hữu Biệt (có phân biệt đối xử).
Nhân dân xứ Nghệ ít nghĩ hoặc có nghĩ nhưng ít nói ra hoặc không nói ra về văn hoá Nguyễn Gia Long trên đất Lam Hồng.
Lên ngôi vua, Gia Long cùng triều đình nhà Nguyễn tiến hành hàng loạt chủ trương biện pháp để ổn định tình hình đất nước, ban thưởng các tướng sĩ có công, lập bộ máy quan lại từ Triều đình đến địa phương, định lại binh chế, đặt lại các ngạch thuế khoá, ra dụ trọng nông, định lại phép quân cấp ruộng đất công theo khẩu phần, đề cao nho học, dùng chế độ khoa cử để đào tạo nhân tài…
Công bình mà nói, các vua đầu nhà Nguyễn từ Gia Long cho đến Tự Đức, đều có trách nhiệm với đất n-ớc, cố gắng làm cho đất n-ớc phát triển. Dấu ấn văn hoá nổi bật mà nhà Nguyễn Gia Long để lại trên đất Nghệ có các nét sau.
1. Chuyển trấn lỵ về Yên Trường (Vinh)
Lên ngôi Hoàng đế năm 1802 thì năm 1804, Gia Long đã cho chuyển trấn lỵ Nghệ An từ xã Dũng Quyết đến xã Yên Trường ở huyện Chân Lộc (sau đổi Nghi Lộc) tức vùng thị xã Vinh trước Cách mạng tháng Tám. Cái điều trong thư Nguyễn Huệ gửi Nguyễn Thiếp ngày 3/9 năm Thái Đức 11 tức 1/10/1788 không làm được thì Gia Long đã làm được. Ấy là: “Nhớ lại buổi hồi loan kỳ trước, lúc qua Hoành Sơn quả cung đã từng mở xem địa đồ. Thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng. Có thể chọn để xây dựng kinh đô mới. Thực là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy”1. Trấn lỵ Nghệ An ở xã Yên Trường tồn tại mãi nay, ngày một phát triển và mở rộng xuống tới Dũng Quyết.
2. Nho học được đề cao:
Như đã nói trên, đời Lê Nho giáo mới ảnh hưởng tới xứ Nghệ, ảnh hưởng nhanh, mạnh mẽ và rộng khắp. Đến đời Nguyễn, Nho giáo ảnh hưởng mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn, rộng khắp hơn. Điều đó thể hiện ở chỗ nhiều làng có hội Tư văn, có đền Văn thánh, có Văn điền, Học điền… Nhiều làng có hương ước, hương ước làng nào cũng có những điều ước cổ vũ việc học, tôn vinh người đỗ đạt. Nhiều làng dựng bia ghi tên những người đỗ đạt (Võ Liệt, Xuân Liễu, Liên Trì…).
Điều quan trọng hơn là đạo lý của Nho giáo với tam cương ngũ thường, với trung, hiếu, tiết, nghĩa, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm,với nội dung các mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, thầy trò, anh em, xóm giềng, làng nước… đi vào tâm thức của người dân. Người dân tiếp thu đạo lý ấy qua cha, chồng, anh, con… qua học lỏm, nghe lỏm… Vốn là những người lao động, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của quê hương đã bao đời thấm nhuần sâu sắc trong họ, nên dù lễ giáo, đạo đức của Nho giáo có những nét cứng nhắc, khô khan, gò bó, họ vẫn chắt lọc những nét tốt đẹp để quyện với đạo lý dân gian đã mang trong hơi thở trong máu rồi lung linh những ý vị tươi xanh trong tâm hồn người dân xứ Nghệ và cả trong đời sống xã hội, để tạo nên những rường mối trong quan hệ thân tộc và ngoài thân tộc một cách bền vững và ổn định lâu dài.
Đời Lê điều đó đã rõ, nhưng với những cơ chế được phổ biến, được truyền đạt, được giáo dục trong nhân dân, nó càng rõ hơn.
3. Vấn đề đào tạo nhân tài
Đời Lê, Nghệ An và Thanh Hoá có một trường thi, trước đặt ở Lam Thành Sơn, năm thứ 3 (1843) đời vua Thiệu Trị chuyển về Vinh. Trước đó, năm 1807, đã đặt thêm một trường ở Thanh Hoá. Trong đời Nguyễn từ khoa năm 1807 đến 1918, trường thi Hương ở Nghệ An qua 33 khoa thi, lấy đỗ cử nhân 705 người trên 5.226 người trong cả nước, kể cả Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng tôi chưa rõ đời Lê, mấy khoa thi và bao nhiêu người đỗ Hư-ơng cống.
Còn về hàng đại khoa, theo “Liệt huyện đăng khoa bị khảo” của Phan Huy Ôn, tổng kê Nghệ An có 145 vị trúng bảng, trong đó trạng nguyên 2, bảng nhãn 2, thám hoa 3, hoàng giáp 32, đồng tiến sĩ 94, chế khoa 11, đăng đệ 1. Các triều: Trần 3, Lê sơ 51, Lê trung hưng 87, Mạc 41.
Đến đời Nguyễn, từ khoa Nhâm Ngọ, năm Minh Mệnh 3 (1822) cho đến khoa Kỷ Mùi năm Khải Định 4 (1919), qua 36 khoa thi, xứ Nghệ số người đỗ đại khoa 136 vị, trong đó Thám hoa 6, Hoàng giáp 24, còn lại là Tiến sĩ và phó bảng.
Như vậy trong 100 năm, qua các kỳ thi Hội, thi Đình ở đời Nguyễn, số người đỗ đại khoa ở xứ Nghệ gần bằng số người đỗ đại khoa từ đời Trần cho đến hết đời Hậu Lê, gần 500 năm.
Ngoài các họ nói tới vào đời Lê, thêm nhiều họ văn hoá nổi tiếng về khoa bảng. Tại Nghệ An thêm các họ: Đặng (Nho Lâm), Cao (Thịnh Mỹ), Nguyễn Xuân (Quần Phương)… ở Diễn Châu; Vương (Vân Sơn), Nguyễn Đức (Hoành Sơn), Nguyễn Văn (Trung Cần)… ở Nam Đàn; Đinh (Kim Khê), Nguyễn Đức (Cẩm Trường), Nguyễn Thức (Đông Chử), Hoàng (Đông Hải)… ở Nghi Lộc, v.v… Tại Hà Tĩnh có thêm các họ: Phan Đình, Phan Trọng (Đông Thái), Lê (Trung Lễ)… ở Đức Thọ; Nguyễn Công (Uy Viễn), Ngụy (Xuân Viên), Trần (Đan Phổ)… ở Nghi Xuân; Ngô (Trảo Nha), Nguyễn (Ích Hậu)… Nguyễn Văn (Kiệt Thạch)… ở Can Lộc; Phan Huy (Thạch Hà), v.v…
4. Xuất hiện nhiều danh sĩ
Đây là điều đáng nói hơn cả. Con số 276 người đỗ đại khoa ở cả xứ Nghệ, so với xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nam và cả xứ Thanh thì thua xa. Song, các nhà nho xứ Nghệ, phần lớn là những nhà thơ, nhà văn. Trong cái buổi cuối Lê đầu Nguyễn, xứ Nghệ đã có những tác gia làm sáng rực lâu đài văn học dân tộc. Thi hào Nguyễn Du (1864 – 1920), danh nhân văn hoá thế giới với tập đại thành về thơ lục bát: Đoạn trường tân thanh tức truyện Kim Vân Kiều. Bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương (1722 – 1822) với những vần thơ lục bát táo bạo, chống sự thằng thúc của con người, đứng bậc nhất về nghệ thuật dân tộc hoá, dân gian hoá thơ Đường. Rồi Nguyễn Huy Hổ (1793 – 1841) với Mai đình mộng ký, một giấc mơ đẹp ở đình Mai, tác giả nằm mộng thấy thơ của giai nhân mời đề mà không thấy người, như có ý gửi gắm, hứa hẹn một mối duyên lành.
Sang triều đại nhà Nguyễn, danh sĩ xứ Nghệ nở như hoa xuân. Ta gặp Đinh Nhật Thận (179? – 1867) với Thu dạ lữ hoài ngâm; Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) hào phóng trong những vần thơ lưu loát, ông hoàng tài ba về sáng tác những bài hát ca trù, đi chơi hát ca trù và nổi loạn trong vấn đề đòi giải phóng cá nhân.
Rồi bao người nữa, Phan Sĩ Thục (1822 – 1891) với Câu trình thuật phú, Câu trình thi tập… Phan Đình Thực (thế kỷ XIX) với Văn uyển thư, Tam Thanh thi văn tập, Nguyễn Trung Mậu (thế kỷ XIX) với Đạm hiên thi văn tập, Nguyễn Năng Tĩnh (1795 – 1876) với Tây Khê thi tập, Nguyễn Khắc Tuần (1799 – ?) với Xuân Viên thi tập, Ngô Phùng (1804 – 1863) với Vịnh sử phú, Hồ Trọng Dĩnh với Công hạ thi thảo, Phan Huân (1814 – 1862) với Thiệu Trị văn quy, Lê Tuấn (1817 – 1874) với Như Thanh nhật ký, Ngụy Khắc Đản (1817 – ?) với Như Tây ký, Nguyễn Văn Lập (1817 – ?) với Sứ trình loại biên, Đặng Văn Kiều (1824 – 1884) với Thi tập, Dương Thúc Hạp (1835 – 1920) với An Tĩnh sơn thuỷ vịnh… Hồ Sĩ Tạo (1841 – 1907) với Đề tam trung từ… Nguyễn Thức Tự với Đông Khê thi tập, Đặng Văn Thụy (1857 – 1936) với Nho sĩ cuồng ngâm, Mã sơn văn thảo, Lê Văn Diễn với Nghi Xuân huyện chí, Lưu Công Đạo với Can Lộc huyện chí, Phan Thúc Trực (1807 – 1852) với Cẩm Đình thi văn tập, Diễn Châu phu chí… Phạm Đình Toái (1813 – 1903) với Đại Nam quốc sử diễn ca (nhuận sắc), v.v…
Chúng ta còn có thể kể ra hàng chục danh sĩ nữa, thơ văn của họ được người đời ca tụng như: Phan Huy Thực (1779 – 1846), Phan Huy Vịnh (1800 – 1876), Đoàn Tử Quang (1818 – 1915), Hoàng Kiêm (1870 – 1939), v.v… Song nổi bật hơn cả là:
– Cao Xuân Dục (1842 – 1923) với 18 trước tác, mà Quốc triều hương khoa lục được nhiều người lưu ý.
– Nguyễn Đức Đạt (1825 – 1887) với hơn 10 trước tác, mà Nam Sơn tùng thoại được nhiều người ngợi ca.
– Nguyễn Văn Giao (1811 – ?) cũng hơn chục trước tác, mà Quất lâm thi thảo được đồng liêu hâm mộ.
– Trương Quốc Dụng (1797 – 1864) với 4 tác phẩm mà Thối thực ký văn được lưu hành rộng rãi, v.v…
Pháp sang xâm lược nước ta, chúng dùng chính sách tằm ăn lá dâu. Năm 1885, kinh thành thất thủ, Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu Cần Vương. Khắp xứ Nghệ từ khe Nước Lạnh đến Đèo Ngang chỗ nào cũng rầm rập, cũng hừng hực khí thế bình Tây phục quốc của các danh sĩ mà lúc này là nghĩa sĩ, là sĩ phu yêu nước như Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Đinh Văn Chất, Nguyễn Nguyên Thành, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Thái Khai, Vương Thúc Mậu… Họ được nhân dân ngợi ca là anh hùng:
Triều đình văn võ công hầu
Một bề khiếp nhược cúi đầu thờ Tây
Hãi hùng ai dám hở hơi,
Đình nguyên Tiễn sĩ rõ tay anh hùng1
Rồi ông Tiến sĩ huyện Đông2
Cùng ông Phó bảng anh hùng một khi3
Ông nghè Đinh, người Kim Khê4,
Ông Hoàng giáp Chính một bề Cần Vương5.
Ông Tiến sĩ huyện Đô Lương6
Nam Đàn ông Đỉnh, Văn Trường ông Khai1
Cương thường gánh nặng hai vai,
Trung quân ái quốc ai ai một lòng.
Tay khoa giáp, mặt anh hùng.
Ấy là chưa kể: Lê Doãn Nhã, Đinh Nhật Tân, Trần Quang Diệm, Hồ Duy Cương, Hồ Phi Tự, v.v…
Các danh sĩ, nghĩa sĩ, sĩ phu ấy cắp giáo non sông, họ chiến đấu ở cả hai lãnh vực: vũ khí và bút mực. Trong mục đích chiến đấu của họ, cái chủ yếu vẫn là vì nhân dân, là sự toàn vẹn của lãnh thổ đất nước, là vinh nhục của giống nòi, song không phải không có vương triều nhà Nguyễn.
Mở đầu bài “Nghệ Tĩnh nghĩa dũng di văn” là những câu:
“Sĩ dân ta:
Đứng giữa trời Nam;
Ngồi trông sao Bắc.
Mấy mươi năm trước, móc mưa từng đầm thấm Nghiêu nhân;
Trải bốn triều nay, nước lửa chẳng lầm than Kiệt ngược.
Đức Thế Tổ năm xưa giáo dục, đạo Tây dương từng đã gác ngoài;
Cõi An Nam ngày một văn minh, mối chính thống lại càng hơn trước.
Vả cửa Hạ tự mà sâu Thương hiệu, ơn tác thành tai mắt còn treo;
Phương chi dân Phần Dương mà lũ Hà Phồn, niềm trung ái ruột gan vốn sẵn.
Trăm kiếp hãy còn nhớ Nguyễn;
Một ngày nào biết có Tây”2.
Thời kỳ sau nổi lên bao danh sĩ nữa như Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Nguyễn Sinh Sắc… mà người nổi bật là Phan Bội Châu.
Rõ ràng đến đời Nguyễn, cái “Xứ Nghệ” mới thật xứng đáng với những lời nhân dân các địa phương khác tôn sùng là đất khoa bảng, đất văn vật. Mà tính cách sĩ tử xứ Nghệ cũng phải đời Nguyễn mới thể hiện đậm đà những nét: hiếu học, khổ học, thông minh, hay chữ, yêu nước, ghét quan trường độc ác bất nhân, mang nhiều chính nghĩa cảm, dám xả thân vi đại.
Trong số các danh sĩ đời Nguyễn ở thế kỷ XIX nổi lên một nhân vật kỳ tài, đó là Nguyễn Trường Tộ. Sinh ra trong một gia đình theo đạo công giáo ở làng Bùi Chu, lúc nhỏ học chữ Hán, được đưa vào Tiểu chủng viện Xã Đoài dạy chữ Hán. Ở đây, ông học chữ Pháp và nghiên cứu các sách nói về khoa học. Hơn 2 năm ở Paris, Nguyễn Trường Tộ đã tiếp cận sâu sắc nhiều mặt của văn hoá phương Tây. Vốn là người có lòng yêu nước, ông đã vượt lên những mặc cảm của người đời về mình, viết hàng loạt kiến nghị, điều trần có giá trị, đề cập đến các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục… gửi lên Triều đình Huế, lên vua Tự Đức nhằm canh tân đất nước. Điều trần nào cũng chứng tỏ ông có một trí tuệ lớn lao, mang tính chiến lược, vượt hẳn lên trên thời đại.
Tiếc thay, trí tuệ lỗi lạc của ông bị lãng quên như một luồng ánh sáng dọi vào đám sương mù dày đặc. Ông chết âm thầm ở làng quê Bùi Chu. Song tư tưởng Nguyễn Trường Tộ đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của tư tưởng Việt Nam, từ phạm trù tư duy tiểu nông chuyển sang phạm trù tư duy công nghiệp. Nguyễn Trường Tộ là một trí thức lớn, một nhân cách văn hoá lớn mà nhân dân xứ Nghệ, nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào.
5. Văn hoá vật thể
Qua những kiến trúc nhỏ to còn lại ở xứ Nghệ, chúng tôi thấy phần lớn được xây dựng vào đời Nguyễn.
Lên ngôi vua năm 1802, vua Gia Long cho trùng tu một cách quy mô đền Cờn ở Quỳnh Lưu, nhất là toà ca vũ. Đền Công thờ An Dương Vương cũng được sửa chữa và làm thêm cho khang trang hơn vào năm Giáp Tý (1864) đời vua Tự Đức. Các đền khác, hoặc làm mới hoặc trùng tu cũng vậy, như đền Quỳnh Tụ ở xã Quỳnh Xuân thờ Bố Cái Đại Vương được xây dựng vào năm 1828, đền Xuân Hoà cũng ở xã Quỳnh Xuân được xây dựng vào năm 1829, đền Xuân Úc ở Quỳnh Liên: 1880, đình Quỳnh Đôi: 1827, nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi: 1873, đền Bùng ở Diễn Châu: 1864, đình Xuân Ái: 1879, đình Võ Liệt: 1859, v.v… Tôi có thể kể ra hàng trăm đền, đình, chùa khác đều được trùng tu hoặc mới xây dựng vào đời Nguyễn. Nhiều nhất vẫn là các nhà văn thánh hàng huyện, hàng tổng, hàng xã. Riêng thành phố Vinh, các đền Khải thánh, đền Hội đồng, miếu Thành hoàng, đền Quan phu tử… được xây dựng vào đầu đời Nguyễn thì cố nhiên rồi.
Kiến trúc các toà nhà tại các đền đình ở đời Nguyễn đều theo kiểu tứ trụ, dù 3 gian hay 5 gian, hai đầu bít đốc. Cột, xà, kẻ truyền… thanh thoát hơn, ít theo kiểu nhà hạ chạn, nhà chữ đinh hay ba lòng, xóc nách.
Nhà dân cũng vậy. Theo tôi biết, vào thế kỷ XVII, XVIII, nhà ở của nhân dân xứ Nghệ hầu hết đều theo kiểu hạ chạn hay chữ đinh, cột to, kèo đôi, đường hoành xuyên suốt, nhà nào cũng chia làm 2 ngăn, ngăn ngoài là nơi thờ cúng tổ tiên, tiếp khách, ngăn trong có chạn gác, là nơi sinh hoạt của gia đình. Nhà nào cũng bè và thấp, có hai hồi. Nó thích hợp với một vùng gió bão, úng lụt thường xuyên. Nhưng sang thế kỷ XIX, nhất là thế kỷ XX, phần lớn các kiểu nhà hạ chạn, chữ đinh… đều thay bằng kiểu nhà tứ trụ. Làm nhà theo kiểu tứ trụ nhiều nhất, phổ biến nhất vẫn là dân ở vùng Quỳnh Lưu, Diễn Châu.
Nhân dân xứ Nghệ còn thể hiện một số nét văn hoá nữa trong trang phục, ẩm thực và tín ngưỡng tâm linh.
Những nét nói về văn hoá đời Nguyễn trên ở xứ Nghệ, không phải đến đời Nguyễn mới có, mới xuất hiện. Nó là một quá trình, đã tiềm ẩn lâu dài, có điều đến đời Nguyễn nó được thể hiện rõ rệt mà thôi, thể hiện ở văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Mà nói văn hoá Nguyễn cũng là nói văn hoá Việt Nam ở một đoạn đường phát triển trong quá trình lịch sử.
Nhân dân bao giờ cũng là nguồn tài năng vô tận của sáng tạo văn hoá và lưu truyền văn hoá, nhưng dưới mỗi triều đại của chế độ phong kiến, vì hoàn cảnh lịch sử có khác nhau, sự ban hành, cổ vũ và chăm lo các chính sách kinh tế, xã hội, giáo dục… có khác nhau… mà sắc thái văn hoá có khác nhau. Sắc thái văn hoá mỗi triều đại có khác nhau, chỉ làm phong phú thêm, đa dạng thêm bản sắc văn hoá của cả dân tộc Việt Nam.
Như con rồng trang trí trong phù điêu, các khung nhẫn tại các đền đình chẳng hạn. Nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam cho rằng, con rồng đời Lý Trần, mình tròn trặn nhẵn nhụi, vây rất mờ, thoăn thoắt uốn lượn, khúc cong thắt múi cong dần về phía đuôi, trông thanh thú, duyên dáng, mềm mại, nếu không để ý đến chân ta không phân biệt được đâu là thân, đâu là đuôi. Thời Lý Trần, Phật giáo là quốc giáo, các nghệ nhân dân gian sáng tạo con rồng, mang đầy đủ sắc thái của dân tộc Việt Nam. Dù con rồng nằm trong tứ linh, một hình tượng trang trí, cảm hứng sáng tạo của nghệ nhân vẫn là vật thiêng, song thể hiện thoải mái với ước mơ mưa thuận gió hoà, người dân yên ổn làm ăn. Sang đời Lê, nhất là đến đời Nguyễn, dáng hình rồng trông trùng trục, khoẻ hơn, uốn lượn không uyển chuyển mềm mại. Đầu rồng to hơn, vây vảy, vuốt lộ rõ, thân không uốn lượn theo hình chữ S. Bờm, tóc, râu không thanh thoát. Nói chung, rồng đời Nguyễn trông uy nghi, dữ dội, chân rồng móng vuốt như muốn xông lên cào cấu, nó tượng trưng cho sức mạnh, cho vai vế của nhà vua, bởi nhà Nguyễn Nho giáo độc tôn.
Tóm lại, dù hình tượng con rồng được sáng tạo, được trang trí như thế nào, nó vẫn là con rồng trong huyền thoại, trong tưởng tượng, cái sâu xa vẫn là biểu hiện cội nguồn của dân tộc: “Con Rồng cháu Tiên”. Ở xứ Nghệ, trừ số ít đình, đền chùa làm từ đời Trần Lê thì có những hình rồng mềm mại, thoải mái, còn tất cả các đền, đình, chùa, hình tượng con rồng ở xứ Nghệ thường cứng đờ, dữ dội, nó biểu hiện thần quyền, thần lý, sức mạnh của vua quan nhà Nguyễn.
__________
1 Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Phu tử, NXB Hà Nội, 1945, tr.125.
1 Theo một số nguồn tư liệu khác, số đại khoa trên 180, trong đó có tới 6 trạng nguyên.
1 Đình nguyên Tiến sĩ: chỉ Phan Đình Phùng, ông đỗ Đình nguyên Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1877) đời Tự Đức.
2 Tiến sĩ huyện Đông: chỉ Nguyễn Xuân Ôn ở huyện Đông Thành, nay là huyện Diễn Châu, đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1871).
3 Ông Phó bảng: chỉ Lê Doãn Nhã, người làng Trường Sơn, huyện Yên Thành, đỗ Phó bảng cũng khoa Đinh Mùi (1871).
4 Ông Nghè Đinh: chỉ Đinh Văn Chất, người làng Kim Khê, nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, đỗ Tiến sĩ khoa Ất Hợi (1875).
5 Hoàng giáp Chính: chỉ Nguyễn Hữu Chính, người xã Đông Hải, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, đỗ Hoàng giáp khoa Ất Hợi (1875).
6 Tiến sĩ huyện Đô Lương: chỉ Nguyễn Nguyên Thành, người xã Đô Lương, nay là xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thân (1848).
1 Ông Đỉnh, tức Cử nhân Nguyễn Văn Đỉnh, đậu thủ khoa trường Nghệ khoa thi năm 1870, người xã Nộn Hồ, nay là xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn. Ông Khai: tức Nguyễn Thái Khai, người xã Văn Trường, nay là xã Văn Sơn, huyện Đô Lương, đỗ Phó bảng khoa Canh Thìn (1880).
2 Tổng tập văn học Việt Nam, tập 17, NXB KHXH Hà Nội, 1993, tr.941, 942, 943, nguyên văn chữ Hán, bản dịch của Chu Thiên.
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Xứ Nghệ với văn hoá Nguyễn (Tác giả: PGS. Ninh Viết Giao) |