Đôi nét về tín ngưỡng thần linh ở làng xã Thừa Thiên Huế (Phần 2)

Tác giả bài viết: LÊ NGUYỄN LƯU

    3.12. Khai canh Khai khẩn,

là nhân thần. Khai canh gồm những vị có công lao lập nên nền móng ban đầu của làng, chọn vùng đất, đốc suất những người đi theo cùng nhau vỡ ruộng dựng nhà, ổn định đời sống, dần dà hình thành làng xóm. Có khi khai canh là cả một nhóm, thủy tổ nhiều họ, nhưng người ta vẫn nhất trí suy tôn một vị có uy tín nhất, hoặc có chức tước cao nhất làm khai canh. Khai khẩn là những ai có công về sau, hoặc tạo thêm đất mới cho làng, hoặc giúp làng về mặt nào đó, và được nhân dân tôn vinh để nhớ ơn. Khai canh vùng Huế thường là một vị quan do triều đình cử vào hay tự nguyện đi mở đất, như Hồ đại tướng ở Thế Lại Thượng, Niêm Long hầu Phan Niêm ở Thanh Phước, hay một vài vị thủy tổ các họ tộc, như ba vị ở An Truyền, tám vị ở Mỹ Lợi. Lúc đầu, các ngài được con cháu, nhân dân lập miếu thờ phụng trong tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, về sau, vào nửa cuối thế kỷ XIX làng mới làm đơn xin triều đình nhà Nguyễn ban sắc phong, cấp bậc “chi thần” hay cao hơn một chút là “tôn thần”, ít trường hợp “trung đẳng”. Hậu khai khẩn và hậu khẩn không mấy vị được sắc phong, mà do nội bộ làng nhất trí với nhau. Chẳng hạn ở ấp Bình An, cuối thế kỷ XIX, tri hương Trương Văn Đạo có công được nhân dân tôn vinh bằng một văn bản gọi là Di yết từ. Nhiều làng dựng miếu thờ Khai canh Khai khẩn, thậm chí có làng chỉ dựng miếu thờ Khai canh Khai khẩn mà không có đình thờ thần như Mỹ Lợi, Thanh Phước, và hàng năm tổ chức lễ tế các ngài là một việc làm rất có ý nghĩa, phản ánh tinh thần “uống nước nhớ nguồn” trong truyền thống lâu đời của dân tộc ta. Việc tôn các vị Khai canh Khai khẩn làm thần Thành Hoàng làng cũng là một đặc điểm của xứ Huế, khác với ngoài Bắc, nơi đã có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, không còn biết ai là người mở đất dựng nền, cho nên không có các vị Khai canh Khai khẩn mà chỉ thờ Thành Hoàng biểu trưng. “Trong lúc ấy, xứ Thuận Hóa bắt đầu hình thành có quy củ từ đầu thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XX thì cơ bản hoàn tất. Qua thời gian, từng bước các quy mô làng thời Trần, Hồ, Hậu Lê, chúa Nguyễn, triều Nguyễn được xác lập. Quá trình ấy là một chuỗi đấu tranh cực kỳ gian khổ nhằm khắc phục những khó khăn của thiên nhiên khắc nghiệt, của những mối quan hệ chồng chéo, phức tạp về quyền sử dụng nguồn lợi đất đai v.v… Họ là những người thực sự có công lao, là một tấng lớp xứng đáng được tôn vinh”.(1)

     3.13. Thiên Hậu nương nương

Buổi đầu Thiên Hậu đơn thuần là Mẫu của tín ngưỡng dân gian Trung Hoa, dần dà chịu ảnh hưởng Phật giáo nên ngài còn được xem như vị Phật Bà ở miền Biển Đông, thường ra tay cứu nạn dân đi biển, nên cung Thiên Hậu mới được gọi là Chùa Bà, và hàng tháng vào ngày sóc ngày vọng (mồng một và rằm âm lịch), hương dân tự nguyện đến làm lễ cầu an trước điện Mẫu. Dần dà, những sinh hoạt ở đây không chỉ dành riêng cho người Hoa kiều cư, mà còn thu hút nhân dân các địa phương trong vùng đến tham gia các buổi cầu cúng Thiên Hậu. Việc tổ chức lễ mừng Mẫu Thiên Hậu giáng sinh vào tháng Ba và tiễn Mẫu thăng thiên vào tháng Chín trùng hợp với vụ gió mùa Tây Nam trong năm; đây là thời gian thuận lợi nhất của sự giao thông đường biển bằng các loại thuyền buồm ngày trước. Biển cả vốn bình yên, song mỗi khi biển động thì tai họa ập đến không ngờ và hậu quả thì không thể lường trước được. Vì vậy, với phương tiện vận chuyển thô sơ, lại đứng trước thiên nhiên biển cả bao la hay “giở chứng” bất thường, con người rất cần có một niềm tin, một cột mốc, một chiếc phao để “ký gởi phần xác”, hy vọng, tin tưởng rằng mình đang được chở che, cứu rỗi cho tai qua nạn khỏi. Mẫu Thiên Hậu đã đáp ứng niềm tin đó, cùng với ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội, Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát cũng có hành trạng cứu nhân độ thế tương đồng, nên cả hai đã hội nhập làm một vậy, cũng như Mẫu Liễu Hạnh của Thiên Tiên Thánh Giáo.

     3.14. Liễu Hạnh công chúa,

tức là Bà Chúa Liễu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, mãi đến gần cuối thế kỷ XIX mới được cư dân Huế tiếp thu. Vua Đồng Khánh rất chuộng đạo Mẫu, tương truyền vì khi còn ở tiềm để, ông được Thánh Mẫu báo cho biết là sẽ làm vua, nên sau khi lên ngôi, ông cho xây lại ngôi đền ở núi Hòn Chén một cách khang trang và đổi tên là Huệ Nam Điện. Các mệnh phụ, phu nhân cũng nhân đó sùng tín theo, hàng tháng tổ chức lên đồng nhiều nơi, rước Mẫu Liễu thờ cùng Mẫu Ngọc. Riêng Mẫu Liễu, qua thế kỷ XX, một ngôi đền cũng được tín đồ dựng riêng ở đường Bùi Thị Xuân (Huế), gọi là Phổ Hóa Cung.

     3.15. Tứ đầu già cầm Tam vị đàn nương,

không rõ gốc tích, được triều đình Nguyễn phong tặng đến thượng đẳng thần. Theo Huỳnh Đình Kết, Tam vị đàn nương “được thờ phụng khá rộng khắp trên địa bàn vùng Huế như làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, làng Lai Thành, xã Hương Vân, huyện Hương Trà, làng Thuận An, xã Thuận An, huyện Phú Vang, làng Hòa Bình, xã Lộc Trì huyện Phú Lộc…”. (2) Danh vị được sắc phong cuối cùng là: Tứ đầu già cầm Tam vị đàn nương trứ phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Trang huy thượng đẳng thần.

     3.16. Linh Thục phu nhân,

theo Huỳnh Đình Kết, vị nữ thần này là Đẩu nương. Bà không rõ họ tên thật, chỉ gọi là Đẩu nương, sống và hành nghề ở An Cựu. Thủa bé, bà học đàn Nam cầm với người thiếp của Luân quốc công Nguyễn Phúc Tứ (con của chúa Nguyễn Phúc Khoát, giỏi thơ ca, tự chế ra cây đàn Nam cầm). Lớn lên, bà nổi danh tài sắc, có ngón đàn tuyệt kỹ không ai sánh kịp. Bà kết duyên với ông Tham tán (không rõ họ tên), cũng giỏi đàn, vợ chồng rất tương đắc. Chẳng may ông mất, bà gác đàn, quyết thủ tiết. Năm 1850, Tuy Lý Vương mở tiệc trên thuyền giữa đêm trăng để tiễn Phương Đình Nguyễn Văn Siêu về Bắc, khẩn khoản mời bà đến giúp vui. Nể lời Vương, bà đến thi triển ngón đàn tuyệt diệu lần cuối cùng. Vương vô cùng cảm kích, làm ngay bài Nam cầm khúc để tặng. Không rõ bà mất năm nào. Tuy nhiên chúng tôi không tin chắc bà là Linh Thục phu nhân. Vì danh hiệu được phong dài quá (đến 15 mỹ hiệu), không phù hợp với một người chết vào khoảng cuối thế kỷ XIX: Thanh xướng Nghệ trạch Huệ tế Phổ hóa Linh ứng Nhân triêm Phúc nhuận Đức trạch Phu dương Mỹ uyên Lưu cảo Dụ khiết Chân thục Tiết thanh dụ Linh Thục phu nhân.

     3.17. Lồi Chúa phu nhân:

Bà Chúa Lồi, tức bà chúa Champa (Chiêm Thành), không rõ sự tích. Có thể là Mỵ Ê, vợ của quốc vương Sạ Đẩu. Năm 1044, vì quốc vương Sạ Đẩu “trái mệnh” không chịu thần phục, vua Lý Thái Tông thân chinh, tướng Quách Gia Di chém được Sạ Đẩu. Vua vào thành Phật Thệ, bắt hết phi tần của Sạ Đẩu và các cung nữ hát được khúc Tây thiên (?), rồi khải hoàn. Khi về đến hành điện Lỵ Nhân, nghe nói vương phi Mỵ Ê là người đẹp nhất trong số cung tần của Sạ Đẩu, vua sai trung sứ gọi sang long thuyền. Mỵ Ê phẫn uất, nói: “Thiếp là người man, y phục xốc xếch, nói năng thô lậu, không như phi tần quý quốc. Nay nước tan chồng mất, chỉ còn một chết mà thôi; nếu bị ép hợp hoan, e rằng nhơ bẩn đến long thể”. Rồi quấn chiếc chăn chiên trắng, lăn xuống sông tự trầm, cứu không kịp. Vua lấy làm kinh dị, ân hận. Về sau, dân vùng ấy thường nghe tiếng khóc than thảm thiết trong những đêm trăng sáng sao thưa, nên xin lập đền thờ cúng, từ đó mới yên. Lịch triều sắc phong Hiệp chính Hựu thiện Trinh liệt Chân mãnh phu nhân.

     3.18. Nam Hải Cự Tộc Đức Ngư,

là thần Cá Voi, ở Mỹ Lợi thì gọi là Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân. Cư dân các làng ven biển thường thờ vị thần này như một phúc thần. “Cá voi (balénoptère), ngư dân thường gọi là cá ông hay cá ngài và phân biệt theo hình dáng đầu: ngài chuông – cá voi có hình đầu tròn, ngài kim – cá voi có hình đầu dài, mỏ dài như cá kìm và ngài phướn – cá voi trên lưng có kỳ cao, trông như cây phướn. Cá voi có tập tính thường chạy theo thuyền của ngư dân, nhất là khi có sóng to gió lớn, khi vào gần bờ thì cá voi bơi ngược lại ra biển khơi. Do tập tính đó mà ngư dân cho rằng cá voi đã cứu người, là ân nhân của ngư dân, gọi là cá ngài. Cá voi đôi khi cũng theo cửa sông, cửa lạch vào đầm phá và thường là những cá voi đã đuối sức, hoặc đã chết rồi trôi dạt vào”.(1) Khi gặp cá voi chết dạt vào bờ biển, gọi là Ông lụy Bà lụy, ngư dân tâu lên triều đình, được cấp lụa điều, tổ chức đám tang rất trang trọng, người bắt gặp được làm trưởng nam, để tang ba năm; sau khi chôn cất xong, họ đóng góp lập miếu thờ, rồi khi mãn tang, cũng làm lễ, rước bộ xương cho vào hòm tôn trí trên bàn thờ trong miếu. Làng Mỹ Lợi có ngôi miếu đề 南海玉鳞祠 Nam Hải Ngọc Lân Từ, tọa lạc gần bờ biển, dựng vào thời Thiệu Trị (1841-1847), trước kia còn giữ được bốn cái hòm sơn đỏ chứa bộ xương, nay chỉ còn một cái; bài vị đề 南海巨族玉鳞敕贈慈濟彰靈澄湛之神 Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân sắc tặng Từ tế Chương linh Trừng trạm chi thần. “Hàng năm, vào ngày rằm tháng Ba âm lịch, dân làng tổ chức lễ cúng tại miếu, có hát bả trạo, diễn trò tập chèo, dựng phan… Đây là dấu ấn của quá trình rèn tập ‘ra khơi vào lộng’ bằng mái chèo của cư dân. Mỗi lần làm xong ghe mới, hàng năm vào dịp ‘xuống mùa’ mở đầu vụ nam ra khơi đánh cá, ngư dân đều có lễ cáo tại miếu”.(2) Theo Nguyễn Thanh Lợi, tục thờ cá voi của ta bắt nguồn từ tục thờ thần Biển Pô Riyak của Champa, vì có chuyện Eh Wa kết bạn với sóng về thăm quê nhà, bị cá mập nuốt, vong hồn nhập vào cá voi để cứu ngư dân khi bị nạn.(3) Nhưng chẳng qua đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên chứ không phải là ảnh hưởng lẫn nhau. Cư dân đi biển gặp nạn, may được cá voi đẩy bào bờ, ở đâu mà chẳng có, cứ gì phải ở Champa. Không chỉ vùng nam Đèo Ngang, mà từ Nghệ An trở ra, các nơi ven biển đều có đền thờ cá voi.

     3.19. Lang Thát nhị đại tướng quân:

Tương truyền năm 1802, sau khi hạ được đồn phòng thủ của Tây Sơn trên núi Linh Thái, binh thuyền Nguyễn Ánh vào cửa Tư Dung (Tư Hiền) nhưng nhiều luồng lạch mắc cạn không tiến được, bỗng có hai con rái cá (lang thát) nổi lên bơi phía trước. Nguyễn vương liền ra lệnh các thuyền cứ theo chúng mà đi, quả nhiên thông suốt. Sau khi lên ngôi, ông bèn phong làm Đông Sát Hải Nam Sát Hải Lang Thát nhị đại tướng quân, cho làng Vinh Hòa thờ, rồi đời sau phong thần. Ý ông muốn cho dân thấy rằng mình chính là “con trời” (Thiên tử), nên trời sai sứ giả xuống giúp. Về sau, theo lệnh của triều đình, nhiều nơi cũng thờ thần này, danh vị cao nhất được phong là Đông Sát Hải Nam Sát Hải Lang Thát nhị đại tướng quân trứ phong Dũng mẫn Nghiêm dực Hoàn nghị Trừng trạm Dực bảo Trung hưng chi thần, trứ gia tặng Uông nhuận trung đẳng thần.

     3.20. Thổ Công Thổ Địa,

theo Huỳnh Đình Kết, có hai ông Thổ Công và Thổ Địa khác nhau. Thổ Địa là thần cai quan lãnh thổ của từng làng, từng xóm, từng nhà, thường được sắc phong Tư Thổ Thổ Địa Phúc Đức Tĩnh hậu Dực bảo Trung hưng Linh phù trung đẳng thần. Thổ Công là thần trông coi năm phương đông, tây, nam, bắc và trung ương, ứng với ngũ hành, tức là không gian sinh sống của gia đình, làng xóm, khẳng định địa bàn cư trú của một cộng đồng người. Sắc phong thường là Ngũ phương Thổ Công trứ phong Túy mục Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần.

     3.21. Đông Hải Long Vương,

là Long thần ở Biển Đông, mỗi nơi có một vị làm chủ mang nhiều danh hiệu khác nhau. Dân làng Vinh Hòa chuyên nghề đánh cá, hai mặt giáp biển, một mặt giáp đầm (Cầu Hai), nên thờ nhiều thủy thần, ngoài Long Vương còn có Hà Bá. Các ngài “cai quản việc vận tải lưu thông trên vùng sông nước, đầm phá, ven biển, đồng thời mang đến điều tốt lành bình an cho những người làm ăn sinh sống, cư trú trên mặt nước… Tôn thờ vị thần này nhằm tăng thêm niềm tin, sức mạnh cho con người ứng xử linh hoạt, có hiệu quả ở vùng đất khắc nghiệt chưa mưa đã lụt, chưa gió đã bão ở đây. Nhiều làng lập miếu thờ hoặc phối thờ tại đình”.(1) Văn chúc của làng Vinh Hòa ghi đến sáu danh hiệu Long Vương.

     3.22. Thủy Phủ Hà Bá,

là thần mặt nước ở các sông. Người sống ở vùng sông, biển, đầm, phá khó tránh khỏi nạn chết đuối, hoặc do làm nghề, hoặc do tắm giặt mà bị rủi ro, họ cho rằng đó là bị “Ma Rà” bắt. “Nhằm trấn an mình, bù đắp khoảng trống tinh thần trước cơn sóng dữ, lạch nước sâu… nên họ đã tôn vinh thần Hà Bá, lập miếu thờ nhiều nơi, chủ yếu là cư dân thủy diện và một bộ phận ở ven sông, ven đầm phá. Trong một công trình công bố trên tạp chí B.A.V.H., các tác giả A. Sallet và Nguyễn Đình Hòe đã thống kê được 8 miếu thờ trên sông Hương, sông Đông Ba, khu vực trung tâm thành phố. Nhiều nơi có sắc phong thần”.(2)

     3.23. Quan Thánh Đế Quân,

thật ra một nhân vật lịch sử Trung Quốc họ Quan, tên Vũ, tự Vân Trường, một trong ba anh em kết nghĩa vườn đào thời cuối Hán: Lưu Bị tự Huyền Đức, Quan Vũ tự Vân Trường, Trương Phi tự Dực Đức hay Ích Đức; đời sau tôn làm thánh vì cảm phục tấm lòng trung nghĩa của ông. Tương truyền trước khi bị chém, ông mới chịu quy y cửa Phật, nên về sau được phụ thờ trong điện Phật, và cũng vì thế mà miếu thờ ông cũng được gọi là chùa (Chùa Ông). Không phải làng xã nào cũng thờ đủ các thần, mà tùy tập quán, sinh hoạt, địa lý… Ví dụ thần Cao Các Quảng Độ (tức Tản Viên Sơn Thần) chỉ được thờ ở những làng thấp trũng ven sông để cầu mong tránh khỏi lũ lụt; thần Thai Dương phu nhân và Nam Hải Ngọc Lân chỉ được thờ ở những làng chài ven biển, ven đầm để cầu mong đánh bắt nhiều tôm cá. Các thần tổ nghề nghiệp hay chủ về nghề nghiệp cũng được thờ trong phạm vi hẹp… Hưng Đạo Đại Vương và Quan Thánh Đế Quân lại gắn với việc xin xăm đoán quẻ. Thiên Y A Na và Liễu Hạnh công chúa thì không tách rời khỏi việc hát chầu văn nhảy đồng, tức là tục thờ Mẫu, rất phát triển vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX ở Huế, lấy điện Hòn Chén làm trung tâm….

II. Tôn vinh thần linh

     1. Nghi thức tế lễ

     1.1. Nghinh thần

     Để chuẩn bị, hội đồng bô lão của làng nhóm họp vạch kế hoạch. Một là kiểm soát lại tình hình tài chính, ngân quỹ, tùy khả năng hiện có và huy động thêm như thế nào mà dự kiến quy mô, xác định lễ vật hiến tế, hoặc bông ba quả phẩm, hoặc sử dụng tam sinh, đồng thời thống nhất về số lượng khách mời một cách tổng quát. Hai là phân công phân nhiệm, bố trí công việc, thành lập một số ban bệ phụ trách riêng như đầu bếp, dựng rạp, trần thiết, âm nhạc, chia nhau làm tướng lễ (viết và đọc chúc văn), chánh bái (cúng ở án giữa), phó bái (hai người cúng ở hai án tả hữu), bồi tế, dẫn lễ, thông tán (xướng)… Trước một ngày, nếu làng nào có những miếu lẻ tẻ thờ thần, thì buổi sáng làm lễ Nghinh thần, rước thần vị từ những miếu riêng ấy tập trung về đình. Lễ cử hành tuy đơn giản, nhưng cũng có: hương đèn trầm trà, bông ba quả phẩm, người chủ lễ đọc bài “chúc văn” khấn, rồi thỉnh bài vị, đặt lên kiệu bốn người khiêng, hay đặt lên mâm, che lọng rước về đình an vị tại án thờ “khách”.

     1.2. Túc yết

     Rước thần vị về đình, tôn trí vào bàn định sẵn dành cho “khách”, vị đại diện của làng đốt hương bái yết, rồi cáo tất. Thần nghỉ ngơi tại đó, chờ đến buổi chiều, lúc xế bóng, làng đã sắm sửa đơm dọn xong bông ba quả phẩm, các chức sắc, hương lão tề tựu làm lễ Túc yết (đúng ra, chữ túc yết phải viết 夙謁 nghĩa là tế cáo với thần linh hôm trước để các ngài hôm sau về dự lễ tế, nhưng người ta đã quen viết 肅謁, nghĩa là cáo yết một cách nghiêm túc). Trong lễ Túc yết, vị đại diện chỉ đọc bài văn khấn chư thần (gồm các phần: 1. Địa chỉ và nhật kỳ. 2. Danh hiệu chư thần. 3. Chính văn xưng tụng và mời thần. 4. Mời chư vị phối hưởng).

     1.3. Chính tế

     Lễ Chính tế cử hành sáng sớm hôm sau, khi cỗ bàn đã tươm tất. Ba hồi chiêng trống vang vọng như kêu gọi bà con trong làng, những người nam giới còn lại không phụ trách công việc gì, kéo nhau ra đình, trước nữa quan chiêm, sau là dự cuộc hương ẩm khi lễ tất (phụ nữ không được dự, cũng không được bén mảng đến đình làng, chỉ một số ít lo bếp núc, nhưng cũng chỉ ở dưới bếp, người ta cho rằng phụ nữ “ô uế” vì những việc thai sản. Đó là một quan niệm lạc hậu, rất “phi nhân bản”, ngày nay cần phải bài trừ). Cuộc lễ tiến hành từng khâu theo nghi thức đã được ghi chép trong Lễ bạ (rất ít làng còn giữ), có một hay hai viên thông tán đọc lớn tiếng để hướng dẫn (xướng lễ), trải qua ba bước: 1. Khai lễ (chuẩn bị hành lễ), 2. Chính lễ: có ba đoạn: Sơ hiến (dâng trà rượu lần đầu), Á hiến (dâng trà rượu lần thứ hai), Chung hiến (dâng trà rượu lần cuối), 3. Lễ tất (cuộc lễ chấm dứt, hương ẩm). Theo Lễ bạ của làng An Cựu (Huỳnh Đình Kết dẫn), cuộc thu tế của làng diễn ra như sau:

     Khai lễ

     Viên thông tán xướng: Chấp sự giả các tư kỳ sự (Các viên giữ việc gì lo vào việc nấy). Tế viên dữ chấp sự viên các nghệ quán tẩy sở (Người đứng tế và các viên giữ việc đến chỗ lau rửa). Quán tẩy. Thuế cân. (Rửa tay. Sửa khăn). Khi các viên chấp sự đã lau rửa sạch sẽ (phần nhiều chỉ rửa “làm phép” vì đã lo vệ sinh thân thể trước rồi, để khỏi lỗi với thần minh), thông tán xướng tiếp công việc: Củ soát tế vật (các viên chấp sự đi xem xét các cỗ bàn, xem có gì còn thiếu để nhà bếp bổ sung, có gì chưa tốt để thay đổi). Khởi chinh cổ hay Khởi chung cổ (Nổi chiêng trống hay nổi chuông trống, ba hồi chín tiếng, cứ một tiếng chiêng thì tiếp liền một tiếng trống). Nhạc sinh khởi nhạc (ban tiểu nhạc bắt đầu nổi với kèn, tiêu, sáo, đàn, trống…). Tiếng nhạc dứt, thông tán lại xướng: Ế mao huyết (hai chấp sự trình vật tế). Bồi tế viên tựu vị. Tế viên tựu vị. Nghệ hương án tiền (Lần lượt hai vị tả hữu bồi tế và một vị chủ tế đến đứng vào vị trí, trước ba hương án theo quy định). Quỵ (cả ba quỳ xuống, giữ yên tư thế ấy). Phần hương. Thướng hương (người phụ trách đốt hương, cắm vào các bát hương). Phủ phục. Hưng. Bình thân (ba viên phục xuống chiếu rồi đứng dậy). Nghênh thần, cúc cung bái – tứ bái – Hưng, bình thân (ba viên khom lưng vái rồi lạy bốn lạy, xong đứng thẳng). Thế là xong màn khai lễ. Ban nhạc lại trình tấu bài Tam luân cửu chuyển, chiêng trống điểm nhịp theo (chiêng 1 tiếng rời 2 tiếng kép, tiếp hai tiếng trống dứt nhịp).

     Chính lễ

     Mỗi đoạn sơ hiến, á hiến và chung hiến cử hành giống nhau, chỉ khác ở chỗ lễ sơ hiến có phần đọc chúc (văn tế), trình tự như sau: Thông tán xướng: Nghệ tửu tôn sở. Tư tôn giả cử mịch. Chước tửu (Các viên chấp sự tiến đến chỗ đặt bình rượu, rót rượu ra chén, chỉ lưng lửng chừng một phần ba, không rót đầy). Nghệ đại vương thần vị tiền, quỵ, tiến tước, hiến tước (các viên chấp sự đến chỗ đặt các thần vị, quỳ, rồi dâng chén rượu, đặt chén lên bàn thờ). Phủ phục (nhị phiên). Hưng. Bình thân. Phục vị (các viên chấp sự phục lạy hai lần, rồi đứng lên, đứng yên thẳng người. Lui lại chỗ cũ).

     Phân hiến nghệ phân hiến vị, quỵ. Chước tửu. Phủ phục. Hưng. Bình thân. Nghệ độc chúc vị, giai quỵ. Độc chúc (Viên phân hiến tiến đến chỗ phân hiến, quỳ xuống. Viên chấp sự rót rượu. Xong, viên phân hiến phủ phục lạy hai lạy rồi đứng dậy, đứng yên tại chỗ. Lại tiến đến chỗ đọc chúc văn, tất cả đều quỳ xuống. Đọc chúc văn). Chúc văn tức là bài văn tế. Bấy giờ, từ nội điện đến ngoại vi đều yên lặng, hình như ai nấy đều tập trung vào tiếng ngân nga của viên xướng lễ, dù rất ít người nghe và hiểu được những lời du dương trầm bổng ấy là gì, vì toàn bằng Hán văn. Sau khi hai tiếng “Thượng hưởng” vang lên, viên thông tán xướng tiếp: Phủ phục. Hưng. Bình thân. Phục vị (theo đó, viên đọc chúc phủ phục lạy hai lần, đứng dậy, đứng yên một chốc, rồi trở về chỗ cũ). Phần sơ hiến lễ xong, âm nhạc lại trỗi. Đến phần á hiến, chung hiến cũng vậy, trừ mục “độc chúc”.

     Cuối lễ

     Đoạn đầu tiến hành như phần á hiến lễ, thêm đoạn cuối. Thông tán xướng: Nghệ ẩm phúc vị. Quỵ. Hỗ từ (Chấp sự đến chỗ bàn đặt nước trà, quỳ xuống, đọc lời cầu khấn). Lời cầu khấn là một bài tứ ngôn như loại vè bình dân, nội dung xin thần ban phúc cho hết thảy con dân trong làng. Không phải tế thu làng nào cũng có đoạn đọc lời cầu khấn này. Tiếp đó, thông tán xướng: Ẩm phúc. Thụ tộ (Mời uống nước, nhận phần thịt biếu). Phủ phục. Hưng. Bình thân. Phục vị (các viên bồi tế và chánh tế phủ phục lạy hai lạy. Đoạn đứng lên. Đứng yên tại chỗ). Lễ tạ thần cúc cung bái tứ bái. Hưng. Bình thân. Phân ban, phục vị (Lễ cám ơn thần, bồi tế và chánh tế lại khom lưng vái bốn vái, xong đứng yên rồi rời chiếu trở về chỗ cũ). Chấp sự giả cử chúc tịnh kim ngân nghệ vu liệu sở. Phần chúc (Các viên chấp sự lấy giấy vàng bạc và tờ văn tế đem đến chỗ đốt, châm lửa đốt đi). Tống thần. Lễ tống thần cúc cung bái tứ bái. Hưng. Bình thân (Tiễn đưa thần. Làm lễ tiễn đưa thần khom lưng vái bốn vái. Đứng dậy. Đứng yên tại chỗ). Phục vị. Lễ tất (Ai nấy trở về chỗ của mình. Lễ xong).

     2. Chúc văn

     Khâu quan trọng nhất, trung tâm của một cuộc tế lễ, là đọc bài văn tôn vinh thần kỳ, âm linh. Bài văn ấy, chính xác gọi là chúc văn, cũng quen gọi là tế văn, hoặc ngắn hoặc dài. Phần đầu ghi danh sách tế chủ (hay hội chủ) và những người đứng tế, kế đó, sau ba chữ “Cảm cáo vu” (Dám xin báo cáo với…) là phần liệt kê vị hiệu các thần kỳ hay âm linh. Phần kê vị hiệu chư thần của làng An Cựu rất phong phú, cả nhiên thần lẫn nhân thần, rất khớp với số bài vị hiện còn tại đình, chứng tỏ đây là một làng vào loại cổ trên đất Huế, có thể ra đời vào thời Trần – Hồ, lớp khai canh đầu tiên đã thất truyền, thay thế bằng lớp khai canh thứ hai. Chúng tôi xin ghi lại đầy đủ nhằm cung cấp tư liệu cho những nhà nghiên cứu dân tộc học. Chúng tôi không theo thứ tự trong bài văn Túc yết và Chánh tế, mà sắp xếp lại thành hai mục nhân thần và nhiên thần:

     Nhân thần làng An Cựu

     (1) 大乾國家南海四位贈含弘光大至德溥博顯化莊徽翊保中興上等神 Đại càn Quốc gia Nam Hải tứ vị tặng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần.

     (2) 高閣贈弘謨偉略敦厚孚佑濯洋卓偉翊保中興上等神 Cao Các tặng Hoằng mô Vĩ lược Đôn ngưng Phu hữu Trạc dương Trác vĩ Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần.

     (3) 己未科進士飛運將軍贈顯文昭節芳猷俊望光懿翊保中興中等神著加贈卓偉上等神 Kỷ Mùi khoa Tiến sĩ Phi Vận tướng quân tặng Hiển văn Chiêu tiết Phương du Tuấn vọng Quang ý Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần, trứ gia tặng Trác vĩ thượng đẳng thần.

     (4) 福德神皇察海蘇僚星明孚胡大將 Phúc Đức Thần Hoàng Sát Hải Tô Liêu Tinh Minh Phu Hồ đại tướng.

     (5) 四頭笳琴三位彈娘著封翊保中興靈扶之神加贈莊徽上等神 Tứ đầu già cầm Tam vị đàn nương trứ phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Trang huy thượng đẳng thần.

     (6) 錦衣衛都指揮使本衛大將軍通化敷感威靈佐治匡政扶運調元陳貴公靈應之神 Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ bản vệ Đại tướng quân Thông hóa Phu cảm Uy linh Tá trị Khuông chính Phù vận Điều nguyên Trần quý công linh ứng chi thần.

     (7) 迪毅枚貴府仁惠善美明聰保佑弘毅直誠靈敏捷應克勤曜感遠通協助威靈之神 Địch Nghị Mai quý phủ Nhân huệ Thiện mỹ Minh thông Bảo hữu Hoằng nghị Trực thành Linh mẫn Tiệp ứng Khắc cần Diệu cảm Viễn thông Hiệp trợ Uy linh chi thần.

     (8) 清唱藝澤惠濟溥化靈應仁霑福潤德澤敷揚美淵流鎬裕潔真淑節清裕靈淑夫人 Thanh xướng Nghệ trạch Huệ tế Phổ hóa Linh ứng Nhân triêm Phúc nhuận Đức trạch Phu dương Mỹ uyên Lưu cảo Dụ khiết Chân thục Tiết thanh dụ Linh Thục phu nhân.

     (9) 先師正神 Tiên Sư chính thần.

     (10) 本土開耕貴公宗神 Bổn thổ Khai canh quý công tôn thần.(1)

     (11) 本土開拓先賢尊神 Bổn thổ Khai thác(2) tiên hiền tôn thần:

     (12) 本土開拓始祖黎大郎著封翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Lê đại lang trứ phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (13) 本土開拓始祖榜科侯穎川郡陳祿大郎著封翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Bảng Khoa hầu Dĩnh Xuyên quận Trần Lộc đại lang trứ phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (14) 本土開拓始祖阮大大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Nguyễn Đại đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (15) 本土開拓始祖張玉見大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Trương Ngọc Kiến đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (16) 本土開拓始祖紀祿武盧和大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Kỷ Lộc Võ Lư Hòa đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (17) 本土開拓始祖朱文大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Châu Văn đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (18) 本土開拓始祖胡大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Hồ đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (19) 本土開拓始祖潘朝大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Phan Triều đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (20) 本土開拓始祖丁大郎翊保中興靈扶之神加贈端肅尊神 Bổn thổ Khai thác thủy tổ Đinh đại lang Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     (21) 先祖參政正斷事榜中侯阮科占相公尊神著封翊保中興靈扶尊神加贈端肅尊神 Tiên tổ Tham chính Chánh đoán sự Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm tướng công tôn thần, trứ phong Dực bảo Trung hưng Linh phù tôn thần, gia tặng Đoan túc tôn thần.

     Nhiên thần làng An Cựu

     (1) 金德昭顯效應和義利物靈邃翊保中興中等神著加贈莊徽上等神 Kim Đức Chiêu hiển Hiệu ứng Hòa nghĩa Lợi vật Linh thúy Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần, trứ gia tặng Trang huy thượng đẳng thần.

     (2) 木德清秀堅直榮茂廣蔭靈邃翊保中興中等尊神 Mộc Đức Thanh tú Kiên trực Vinh mậu Quảng ấm Linh thúy Dực bảo Trung hưng trung đẳng tôn thần.

     (3) 水德洋澤顯靈弘霑博潤靈邃翊保中興中等尊神 Thủy Đức Dương trạch Hiển linh Hoằng triêm Bác nhuận Linh thúy Dực bảo Trung hưng trung đẳng tôn thần.

     (4) 火德溫厚光應昭感麗明靈邃翊保中興中等尊神 Hỏa Đức Ôn hậu Quang ứng Chiêu cảm Lệ minh Linh thúy Dực bảo Trung hưng trung đẳng tôn thần.

     (5) 土德弘大厚慶重厚含育靈邃翊保中興中等尊神 Thổ Đức Hoằng đại Hậu khánh Trọng hậu Hàm dục Linh thúy Dực bảo Trung hưng trung đẳng tôn thần.

     (6) 本土城隍贈保安正直佑善敦凝翊保中興尊神著加贈靜厚中等神 Bổn thổ Thành Hoàng tặng Bảo an Chính trực Hữu thiện Đôn ngưng Dực bảo Trung hưng tôn thần, trứ gia tặng Tĩnh hậu trung đẳng thần.

     (7) 東察海南察海狼獺二大將軍著封勇敏嚴翼桓毅澄湛翊保中興之神著加贈汪潤中等神 Đông Sát Hải Nam Sát Hải Lang Thát nhị đại tướng quân trứ phong Dũng mẫn Nghiêm dực Hoàn nghị Trừng trạm Dực bảo Trung hưng chi thần, trứ gia tặng Uông nhuận trung đẳng thần.

     (8) 土公土地正神著封厚濟廣施溥惠敦凝翊保中興之神著加贈靜厚中等神 Thổ Công Thổ Địa chính thần trứ phong Hậu tế Quảng thi Phổ huệ Đôn ngưng Dực bảo Trung hưng chi thần, trứ gia tặng Tĩnh hậu trung đẳng thần.

     (9) 水府河伯靈神著封弘恩廣澤弘博靈靜汪潤翊保中興中等神著加贈沈洽上等神 Thủy Phủ Hà Bá linh thần trứ phong Hoằng ân Quảng trạch Hoằng bác Linh tĩnh Uông nhuận Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần, trứ gia tặng Trầm hiệp thượng đẳng thần.

     (10) 威靈顯赫大老爺爺老榕尊神 Uy linh Hiển hách Đại lão gia gia Lão Dung tôn thần.(1)

     Danh mục thần vị của làng Vinh Hòa cũng khá dài, trong đó thần sông biển, núi đồi chiếm phần quan trọng, khác với danh mục thần nội địa như làng An Cựu, nhưng nhiều vị gốc tích không rõ ràng, ngay chính cư dân địa phương cũng không biết; danh sách cũng không theo một thứ tự nào cả. Chúng tôi xin liệt kê sau đây để tham khảo (những thần vị đã có ở làng An Cựu chỉ ghi vắn tắt):(2)

     (1) Đại càn Quốc gia Nam Hải…

     (2) Phục Hy Thần Nông Đại Đế…

     (3) Cao Các tôn thần…

     (4) 泗陽成府君尊神蒙贈昭靈感應宏謨匡佑光懿加贈翊保中興中等神

     Tứ Dương Thành phủ quân tôn thần mông tặng Chiêu linh Cảm ứng Hoành mô Khuông hữu Quang ý, gia tặng Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần.

     (5) 顯國公尊神蒙贈威靈勇烈助政蜚英光懿顯府君加贈翊保中興中等神 Hiển quốc công tôn thần mông tặng Uy linh Dũng liệt Trợ chính Phi anh Quang ý hiển phủ quân, gia tặng Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần.

     (6) Quan Thánh Đế Quân gia tặng Dực bảo Trung hưng tôn thần.

     (7) Kỷ Mùi khoa Tiến sĩ Phi Vận tướng quân…

     (8) 本土誠隍大王尊神著封靜厚中等神 Bổn thổ Thành Hoàng Đại Vương tôn thần, trứ phong Tĩnh hậu trung đẳng thần.

     (9) 天火尊神 Thiên Hỏa tôn thần.

     (10) 太監白馬尊神敕封揚威禦侮保障健順和柔含光翊保中興上等神 Thái Giám Bạch Mã tôn thần sắc phong Dương uy Ngự vũ Bảo chướng Kiện thuận Hòa nhu Hàm quang Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần.

     (11) 國舅尊神蒙贈義烈忠懿國佐敦順端肅加贈翊保中興之神 Quốc cữu tôn thần mông tặng Nghĩa liệt Trung ý Quốc tá Đôn thuận Đoan túc, gia tặng Dực bảo Trung hưng chi thần.

     (12) 國丈尊神蒙贈輔德翊佐國輔昭中端肅加贈翊保中興之神 Quốc trượng tôn thần mông tặng Phụ đức Dực tá Quốc phụ Chiêu trung Đoan túc, gia tặng Dực bảo Trung hưng chi thần.

     (13) 黃龍尊神蒙贈佐順中正純粹澄湛加贈翊保中興之神 Hoàng Long tôn thần mông tặng Tá thuận Trung chính Thuần túy Trừng trạm, gia tặng Dực bảo Trung hưng chi thần.

     (14) 英靈赫濯弘利普德龍王 Anh linh Hách trạc Hoằng lợi Phổ đức Long Vương.

     (15) 龐鴻和穆普潤洽德龍王 Bàng hồng Hòa mục Phổ nhuận Hiệp đức Long Vương.

     (16) 惠霑恩洽弘浮博澤龍王 Huệ triêm Ân hiệp Hoằng phù Bác trạch Long Vương.

     (17) 廣淵宏濟博澤潤澤龍王 Quảng uyên Hoành tế Bác trạch Nhuận trạch Long Vương.

     (18) 洪恩峻澤潤濟弘洽龍王 Hồng ân Tuấn trạch Nhuận tế Hoằng hiệp Long Vương.

     (19) 飛馬赤麟尊神 Phi Mã Xích Lân tôn thần.(1)

     (20) 天依阿那演玉妃蒙贈洪惠普濟靈感妙通默相莊徽加贈翊保中興上等神

     Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi mông tặng Hồng huệ Phổ tế Linh cảm Diệu thông Mặc tướng Trang huy, gia tặng Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần.(2)

     (21) 博葩𠄩舅顯應尊神 Bác Ba Hai Cậu hiển ứng tôn thần.

     (22) 茶婆郡夫人加贈就義貞節靈潔芳烈齋淑加贈翊保中興中等神 Trà Bà quận phu nhân gia tặng Tựu nghĩa Trinh tiết Linh khiết Phương liệt Trai thục, gia tặng Dực bảo Trung hưng trung đẳng thần.(3)

     (23) 耒主夫人蒙贈淑善芳儀雅度嫻婉之神 Lồi Chúa phu nhân mông tặng Thục thiện Phương nghi Nhã độ Nhàn uyển chi thần.

     (24) 紅德僊娘 Hồng Đức tiên nương.

     (25) 龍德僊娘 Long Đức tiên nương.

     (26) 晡晡娘娘 Bô Bô nương nương.

     (27) 婆𩵽娘娘 Bà Tôm nương nương.

     (28) 婆𣔥娘娘 Bà Chanh nương nương.

     (29) 婆私娘娘 Bà Tư nương nương.

     (30) 火德尊婆 Hỏa Đức tôn bà.

     (31) 水德德尊婆 Thủy Đức tôn bà.

     (32) 金德尊婆 Kim Đức tôn bà.

     (33) 木德尊婆 Mộc Đức tôn bà.

     (34) 土德尊婆 Thổ Đức tôn bà.

     (35) 列位僊婆楊夫人 Liệt vị Tiên bà Dương phu nhân.(4)

     (36) 無名神位 Vô danh thần vị.

     (37) 南海巨族德魚之神 Nam Hải Cự Tộc Đức Ngư chi thần.

     (38) 東南察海狼獺二大將軍 Đông Nam Sát Hải Lang Thát nhị đại tướng quân.

     (39) 蘇大僚 Tô đại liêu.

     (40) 胡大將 Hồ đại tướng.

     (41) 黃明嗣 Hoàng minh tự.

     (42) 四頭笳琴 Tứ đầu già cầm.

     (43) 三位彈娘 Tam vị đàn nương.

     (44) 三教道師 Tam giáo Đạo sư.

     (45) 五方土公土主八卦神祇 Ngũ phương Thổ Công, Thổ Chủ, Bát quái thần kỳ:

     (46) 本土開基張貴公敕封翊保中興靈扶之神 Bổn thổ Khai cơ Trương quý công sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần.

     (47) 本土開基裴貴公敕封翊保中興靈扶之神 Bổn thổ Khai cơ Bùi quý công sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần.

     (48) 本土開基枚貴公敕封翊保中興靈扶之神 Bổn thổ Khai cơ Mai quý công sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần.

     (49) 本土開基阮貴公敕封翊保中興靈扶之神 Bổn thổ Khai cơ Nguyễn quý công sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần.

     (50) 本土開基陳貴公敕封翊保中興靈扶之神 Bổn thổ Khai cơ Trần quý công sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần.

     (51) 本土開基吳貴公敕封翊保中興靈扶之神 Bổn thổ Khai cơ Ngô quý công sắc phong Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần.

     (52) 前代知府鄉正英揚靈應之神 Tiền đại Tri phủ hương chính Anh dương Linh ứng chi thần.

     (53) 開科秀才虔侍修職郎阮光府君之神 Khai khoa tú tài Kiền Thị tu chức lang Nguyễn Quang phủ quân chi thần.

     (54) 黎尊郎 Lê tôn lang.

     (55) 阮尊郎 Nguyễn tôn lang.

     (56) 文尊郎 Văn tôn lang.

     (57) 劉尊郎 Lưu tôn lang.

     (58) 武尊郎 Võ tôn lang.

     (59) 黃尊郎 Hoàng tôn lang

     (60) 何宗郎 Hà tôn lang.

     (61) 翁奇婆楊前官古職十二尊派列位尊靈同來配享 Ông Cả, Bà Dàng, tiền quan cổ chức, thập nhị tôn phái liệt vị tôn linh đồng lai phối hưởng.

     Thế giới thần linh của nhân dân ta quả là phong phú, khả năng thần hóa của con người thật vô cùng. Đất nước Hy Lạp thường được cho là lãnh thổ của các vị thần, nhưng so lại còn thua xa xứ Huế ngày xưa…

     Lòng văn tế

     Phần chính của chúc văn, thường gọi là “lòng văn tế”, viết theo loại văn biền ngẫu, mang tính bác học cao, thuộc một trong hai thể tứ lục và luật phú. Toàn bài gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn gồm vài câu, mỗi câu gồm hai vế cấu tạo ngữ pháp giống nhau theo một cách mà người ta gọi là đối.

     Bài văn chánh tế thần kỳ thì sau khi kê danh sách hội thủ (hay hội chủ) cùng những người đứng tế và “cảm cáo” liệt kê danh hiệu các thần kỳ, thì đoạn mở đầu “Cung duy tôn thần” (Kính nghĩ tôn thần) có vài câu xưng tụng phẩm chất cao cả, nhiệm mầu và công đức của thần, qua đoạn “Tư nhân” (Nay nhân dịp) nói gặp dịp nào (xuân, thu, đông…), dọn bày lễ phẩm dâng lên mời thần quang lâm chiếu cố, xin ngài phù hộ cho dân.

     Văn tế không chỉ là một thể tài bác học, cao cấp, mà còn phổ biến trong dân gian bằng nhiều hình thức khác nhau. Các làng xã luôn luôn có những buổi lễ cúng tiến hàng năm tại đình thờ thần, miếu khai canh khai khẩn, lễ cúng âm linh, cúng cô hồn. Theo tục lệ, lễ nào cũng cần đọc một bài văn tế, không “chữ” thì Nôm. Đó là phần trung tâm, quan trọng nhất của buổi lễ. Tuy nhiên, tác giả những bài văn tế này vẫn là các nhà khoa bảng hay ít nhất là ông đồ “mười năm đèn sách”, làu thông kinh sử, dù có để lại tên tuổi hay không, vì người bình thường, ít học không thể làm được.

___________
(1) Huỳnh Đình Kết (1998), Tục thờ thần ở Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 35.

(2) Huỳnh Đình Kết, Tục thờ thần ở Huế, sđd, tr. 40.

(1) Trần Văn Tuấn, “Tục thờ cá và kiêng kỵ về cá của ngư dân đầm phá Thừa Thiên Huế, Tạp chí Huế xưa & nay”, số 41, năm 2000, tr. 99.

(2) Huỳnh Đình Kết, Tục thờ thần ở Huế, sđd, tr. 126.

(3) Nguyễn Thành Lợi, “Nói thêm về nguồn gốc tục thờ cá voi”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 5, năm 2007, tr. 89-98.

(1) Huỳnh Đình Kết, Tục thờ thần ở Huế, sđd, tr. 39.

(2) Huỳnh Đình Kết, Tục thờ thần ở Huế, sđd, tr. 12.

(1) Đợt khai canh chính thức đầu tiên chắc vào thời Trần, muộn lắm cũng thời Hồ, con cháu họ cũng không còn hay đã chuyển đi nơi khác, không ai biết, nhưng không nỡ quên công lao của họ, nên vẫn đề danh hiệu Khai canh vì tấm lòng “uống nước nhớ nguồn”.

(2) Những vị Khai thác làng An Cựu kê dưới đây có thể là vào khoảng cuối Lê – đầu Mạc. Bài vị này cũng chỉ mang tính biểu trưng.

(1) Lão Dung: Huỳnh Đình Kết cho rằng đây là “một người dân thường cao tuổi”, thật ra, vị “Đại lão gia gia Lão Dung” chính là cây đa lâu năm tại sân đình. Những cây đa già như thế ở các đình không hiếm, đình nào cũng có, những thứ phế thải như “Ông Vôi”, “Ông Núc” (Ông Táo), dĩa sứt, chén vỡ… thường được người ta “phó thác” dưới gốc cho Lão Dung giữ, hóa ra rất thiêng liêng. Xưa trẻ con rất sợ, không dám bén mảng tới. Đây “Lão Dung” được làng tôn làm thần rồi xin triều đình sắc phong.

(2) Trong danh sách này có rất nhiều vị thần mà chúng tôi chưa biết rõ gốc tích, ngay cư dân địa phương cũng mù mờ, đành bổ cứu sau.

(1) Xích Lân tôn thần: có lẽ là con cá gáy vảy đỏ.

(2) Làng Vinh Hòa tôn Thiên Y A Na là thần núi Linh Thái, vì trên núi này có tháp cổ Champa thờ vị nữ thần này, nay còn phế tích.

(3) Trà Bà quận phu nhân: Vợ của Trương Trà, người Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa (nay thuộc xã Vinh Hưng, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế), thời Nguyễn Hoàng, đã đánh giặc báo thù cho chồng.

(4) Có lẽ là Thai Dương phu nhân, có miếu chính ở cửa Thuận An. Dân gian gọi nôm na là Bà Dàng (chú ý chữ Hán “Dương” viết với bộ “mộc” là tên cây, chứ không phải bộ “phụ”).

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 7 (141), năm 2017

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Đôi nét về tín ngưỡng thần linh ở làng xã Thừa Thiên Huế (Tác giả: Lê Nguyễn Lưu)