Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
Không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

Không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang

Tác giả bài viết: Tiến sĩ  MAI THỊ HỒNG HẢI
(Đại học Hồng Đức Thanh Hóa)

     Không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang chính là không gian sinh tồn của dòng họ Nguyễn mà Triệu Tổ là Nguyễn Kim, nó gắn với vùng đất mà dòng họ Nguyễn đã sinh sống. Trong chuỗi thời gian đằng đẵng đã qua, dẫu với bao thăng trầm, Gia Miêu Ngoại trang – vùng đất quý hương – nơi phát tích của nhà Nguyễn và vương triều Nguyễn vẫn tồn tồn tại trong tâm thức nhân dân Thanh Hoá với những dấu ấn văn hoá không phai mờ. Trong xu thế hội nhập và giao lưu văn hoá hiện nay, việc tích hợp văn hoá dân tộc từ nhiều góc độ là hết sức cần thiết, do đó việc giải mã những biểu tượng văn hoá đã được lắng kết, tích tụ tạo thành những không gian văn hoá trên các vùng quê của đất nước rất có ý nghĩa đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc.

     Việc tìm hiểu không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang sẽ góp phần đưa đến những lợi ích có vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn?

     Đó là những vấn đề chúng tôi đặt ra để tìm hiểu về không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang.

Vì sao phải đặt ra vấn đề tìm kiểu không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang?

     Trước hết, chúng ta thấy rằng, cùng với sự xuất hiện của các chúa Nguyễn và sự tồn tại của vương triều Nguyễn – một triều đại lớn trong lịch sử dân tộc, một không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang đã được khẳng định – Gia Miêu Ngoại trang là vùng đất tổ triều Nguyễn. Không gian văn hoá ấy vừa tồn tại như một thực thể khách quan, vừa tồn tại như một thực tại tinh thần trong tâm tưởng, trong cõi sâu của tâm hồn mà mỗi cá nhân hay cộng đồng người dân làng Gia Miêu từ ngàn xưa đến nay thường biểu hiện thành phong tục tín ngưỡng, mà biểu hiện sâu sắc nhất chính là sự thờ cúng Triệu Tổ nhà Nguyễn, vua Nguyễn và các hội làng, hội lễ Đình Gia Miêu ngàn năm.

     So với với một số không gian văn hoá khác trên vùng đất xứ Thanh như không gian văn hoá Lam Sơn, không gian văn hoá Tây Đô… thì nhân tố có vị trí hết sức quan trọng trong việc tạo ra sắc thái riêng cho không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang chính là Chúa Nguyễn, dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu. Người mở đầu cho sự nghiệp đi mở đất phương Nam dưới thời các chúa Nguyễn là Nguyễn Hoàng, ông là con thứ hai của Nguyễn Kim, ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Cho nên, Nguyễn Kim được tôn là Triệu Tổ nhà Nguyễn và Gia Miêu trở thành quê cha đất tổ của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

     Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, thì Gia Miêu thuộc tổng Thượng Bạn. Tổng này có hai hương, mười trang: Gia Miêu Ngoại, Gia Miêu Nội và mười trang là Gia Miêu thượng, Đông Đô, Quảng Đô, Khắc Ninh, Hoàng Vân, Yến Vỹ, Bảo Đối, Mỹ Lưu, Động Tiên, Động Hậu. Tổng Thượng Bạn xưa hầu như thuộc xã Hà Long ngày nay.

      Gia Miêu Ngoại trang thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, nằm ở điểm địa đầu của miền Bắc trung bộ, phía bắc giáp tỉnh Ninh Bình, phía nam giáp xã Hà Giang, phía đông giáp thị xã Bỉm Sơn và phía tây giáp huyện Thạch Thành. Trong kết cấu chung của địa hình cả một vùng, nơi đây núi non trùng điệp, dãy núi đá vôi chạy từ cao nguyên Mộc Châu tầng tầng lớp lớp cao chất chồng kéo tận tới Thần Phù, tạo thành một bức tường thành phân giới Thanh Hoá với các tỉnh Bắc Bộ. Trên địa phận Thanh Hoá, xã Hà Long nằm ở sườn bên nam, đoạn gần cuối dãy núi đá vôi này. Trong tổng thể địa hình huyện Hà Trung thì Gia Miêu là góc khuất nhất.

     Gia Miêu Ngoại trang xưa là một vùng đất cổ. Dấu vết của văn hoá Đông Sơn đã tìm thấy ở hồ Bến Quân. Với đặc điểm địa hình của một vùng bán sơn địa, vùng đất này có nhiều dấu ấn sâu đậm về lịch sử và văn hoá của vùng không gian văn hoá Việt – Mường. Làng Gia Miêu đã có mặt từ rất sớm với những ngôi nhà sàn xinh xắn, cùng với núi Triệu Tường, sông Tống Giang, sông Chiếu Bạch. Cùng với quá trình định cư là sự phát triển của các dòng họ trong suốt chiều dài lịch sử. Đã có nhiều dòng họ đến đây sinh sống lập nghiệp như họ Nguyễn, họ Mai, họ Bùi, họ Phạm, họ Vũ… Trong đó, dòng họ Nguyễn là dòng họ lớn nhất.

     Trải qua các đời khai phá, tổ tiên họ Nguyễn Hữu ở Gia Miêu truyền đến đời cụ Nguyễn Công Duẩn tới đời Nguyễn Đức Trung thì làng Gia Miêu đã là một cộng đồng đông đúc, thịnh vượng. Trong tâm thức dân gian, vùng Gia Miêu là một trong những vùng đất “phát vương” của xứ Thanh. Người xưa giải thích bằng thuyết phong thuỷ cho rằng, do vượng khí núi sông của một miền đất sầm uất, chính địa linh tạo nên nhân kiệt.

     Sách Lịch triều hiến chương loại chí có ghi về Tống Sơn như sau: Kể về núi sông sầm uất, chỉ có huyện Tống Sơn là có nhiều hơn, Gia Miêu Ngoại trang là đất tổ của các vùng triều Nguyễn, từ tiên tổ là Nguyễn Đức Trung là chức Thái uý, có con gái lấy Lê Thánh Tông sinh ra Hiến Tông. Con trai là Nguyễn Văn Lang, giúp nhà Lê lập Tương Dực Đế, được phong làm tước vương, cháu là Hoàng Dụ lập Chiêu Tông. Đến Triệu tổ Nguyễn Kim tôn lập Trang Tông, cơ nghiệp trung hưng của nhà Lê gây dựng từ đó. Tới khi Thái tổ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng về giữ Thuận Hoá, Quảng Nam, truyền được tám đời đến triều Nguyễn bình định được cả đất nước thì Gia Miêu là ấp thang mộc. Vì là đất phát phúc to, khí tốt chung đức còn lâu dài1.

     Ngay sau khi lên ngôi, vào năm Gia Long thứ 2, cùng với việc vinh phong Gia Miêu Ngoại trang là đất quý hương, huyện Tống Sơn là quý huyện, Nguyễn Phúc Ánh đã cho xây dựng trên quê hương mình một khu lăng miếu để thờ tự các vị tiên vương khai mở ra triều đại mình. Đó là lăng Triệu Tường hay còn gọi là lăng Tường Nguyên (Dòng suối vĩnh cửu – tên gọi này do Gia Long đặt). Trong lăng miếu Triệu Tường gồm có Nguyên miếu và Miếu Trừng Quốc Công. Ở nguyện miếu thờ Triệu Tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Kim, gian bên phải của Nguyên miếu thờ Thái tổ Nguyễn Hoàng. Miếu Trừng Quốc Công là nơi thờ Nhân Công tức là Nguyễn Văn Lang – thân phụ Nguyễn Hoàng Dụ1. Hình ảnh “núi sông sầm uất” mà sách Lịch triều hiến chương loại chí viết nói về vùng đất Tống Sơn cũng là nói về đất Gia Miêu Ngoại trang.

     Thứ hai, dẫu qua bao thăng trầm, những tục lệ, tín ngưỡng, lễ hội, những dấu tích lich sử văn hoá trên đất Gia Miêu vẫn “sống”, tức nó vẫn tồn tại trong sinh hoạt cộng đồng của người dân nơi đây và đều biểu hiện một tâm thức chung là hướng sự tưởng niệm về dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu và tôn kính các triều Nguyễn.

     Những ký ức về nơi đất tổ của các vua triều Nguyễn đã được người dân ở nhiều thế hệ gìn giữ rồi trao truyền, mà thiếu vắng điều này thì cả một giai đoạn quật cường hào hùng của dân tộc sẽ chỉ còn là một khoảng trống trong ký ức của hậu thế. Lấp đầy những chỗ thiếu hụt trong ký ức lịch sử về thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, bổ sung những cách đánh giá công bằng, đó là điều tất yếu mà khi muốn làm sáng rõ vai trò và cống hiến của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn phải khởi phát đi từ Gia Miêu Ngoại trang.

     Thứ ba, đối với bất kỳ một vương triều nào, vấn đề quê hương của người mở đầu dựng nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng. Nó không chỉ là vấn đề tình nghĩa uống nước nhớ nguồn mà còn giúp chúng ta hiểu được quá trình dựng nghiệp của họ. Khi lên ngôi vua, giữa ngổn ngang bộn bề công việc của một vương triều, những hình ảnh về một vùng đất cội nguồn gốc rễ – nơi phát tích của triều đại mình là làng Gia Miêu Ngoại trang và huyện Tống Sơn xưa luôn gợi lên trong lòng Gia Long một tình cảm quê hương sâu đậm.

     Sách Địa chí huyện Hà Trung ghi: Vào trấn thủ Thuận Quảng, Nguyễn Hoàng đã đem theo hơn 1000 binh sỹ nhiều chiến thuyền với hơn 500 thân nhân, bộ khác đều là người Thanh Hoá (chủ yếu ở Tống Sơn) vào khai hoang lập ấp từ Hoàng Châu đến Phú Yên, trong đó có 2 dòng họ Tống (Tống Phước Trị) và họ Nguyễn đem theo rất nhiều gia nhân, binh sỹ nhập cư lập thêm nhiều làng mới ở huyện Minh Linh (thuộc tỉnh Quảng Trị ngày nay).

     Trên thực tế, Nguyễn Hoàng tìm đường lánh nạn, tạo thế dung thân, nhưng ông lại được bà con thân thuộc quý mến vì đức độ, tài năng và danh vọng lớn lao của gia đình. Trong giới hiền tài, lắm người dù quyền cao chức trọng vẫn tình nguyện theo ông như Nguyễn (Cửu) Kiều, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến1.

     Những vị vua nhà Nguyễn như Gia Long vào ngày tháng thứ nhất năm thứ 3 (1084) sau khi lên ngôi, Minh Mạng năm 1821, Triệu Trị vào tháng 3 năm 1842, từ Huế ra Thăng Long để thụ phong của vua Tàu, khi đi qua Thanh Hoá đều đến Triệu Tường, bái yết tôn lăng theo đúng các nghi lễ của bộ Lễ đặt ra. Năm thứ 15 và 18 triều Thành Thái (1903 -1906) và năm thứ 3 triều Khải Định khi đi ra Bắc Kỳ, hai vị vua này cũng đến bái yết tôn lăng. Vào những năm các vua nhà Nguyễn không trực tiếp về Triệu Tường được thì các quan đầu đình, đầu triều phải có nhiệm vụ về lăng miếu Triệu Tường để tế cáo. Sử chép năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), tháng 2 “sai đốc trấn Thanh Hoa là Nguyễn Văn Ngoan tế cáo ở Nguyên Miếu”2.

     Vậy nên, việc nuôi dưỡng và bảo tồn không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang là hoàn toàn phù hợp với tâm thức dân tộc, đồng thời cũng là thiết thực biểu hiện sự tôn vinh, ghi nhớ những cống hiến của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đối với quê hương đất nước.

     Thứ tư, có một đặc điểm của xứ Thanh là địa phương gắn rất chặt với lịch sử dân tộc, lịch sử quốc gia Việt Nam từ trước ngày hình thành dân tộc đến ngày nay. Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, Thanh Hoá đã làm nên những sự kiện lịch sử, đánh dấu cho lịch sử Việt Nam những chặng đường nhất định, ghi dấu những hiện tượng lịch sử mà những tỉnh khác không có. Chỉ liệt kê vài nét nổi bật như: Hiện tượng văn hoá Đông Sơn góp vào nền cổ sử, Hiện tượng các triều đại vua chúa xuất hiện ở Thanh Hoá: vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Nguyễn…. Hiện tượng có nhiều nhân vật bước vào cõi siêu trần, hoặc bán thần là những thiên thần, nhiên thần, và những nhân vật có thành tích đặc biệt trở nên người của lịch sử. Vùng đất Gia Miêu đã sinh ra một dòng họ có công lớn trong lịch sử dân tộc, trong đó Nguyễn Hoàng là nhân vật lịch sử tiêu biểu nhất. Dấu ấn văn hoá mà các chúa Nguyễn để lại cùng với không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang có một vị trí nhất định trong tổng thể không gian văn hoá – xã hội xứ Thanh. Nắm được dấu ấn văn hoá họ Nguyễn từ Gia Miêu Ngoại trang, suy cho cùng cũng là để góp phần hiểu đúng hơn và đầy đủ hơn về lịch sử văn hoá Việt Nam.

Một số biểu tượng vững bền về vương triều Nguyễn trong không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang

     Nhìn theo góc độ văn hoá lịch sử, nơi phát tích của các bậc vua chúa không chỉ là miền tụ nghĩa, mà còn là không gian văn hoá lắng kết những trầm tích văn hoá thông qua những biểu tượng được hội tụ từ những di tích lịch sử, đền đài lăng mộ, phong tục nghi lễ, truyền thuyết dân gian, dòng họ gia tộc…1

     Ngoài những nhân vật tiêu biểu trong dòng họ vương triều Nguyễn quê ở Gia Miêu như Nguyễn Công Duẩn, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kính… mà việc thờ cúng sống mãi trong gia tộc dòng họ, trong tâm thức người dân Thanh Hoá truyền từ thế hệ cha ông tới con cháu, thì Gia Miêu còn có một số di tích gắn mãi với núi sông vùng đất Hà Long của xứ Thanh về vương triều Nguyễn.

     * Đình Gia Miêu

     Huyện Hà Trung có niềm tự hào về những kiến trúc của cộng đồng làng xã. Tiếng đồn “Đình huyện Tống, trống huyện Nga” – có nguồn gốc từ thực tế là Hà Trung có nhiều kiến trúc đình làng to lớn. Tiêu biểu nhất cho đình huyện Hà Trung là đình Gia Miêu, được vua Gia Long xây dựng vào năm 1086. Đây là một công trình kiến trúc gỗ trên một mặt bằng rộng lớn, với những hoạ tiết được khắc trạm công phu độc đáo. Đình được dựng để thờ các thành Hoàng và những bậc thánh nhân.

     * Núi Triệu Tường

     Viết về núi Triệu Tường, sách Đại Nam thống nhất chí viết: “Núi Triệu Tường ở cách huyện Tống Sơn 25 dặm về phía Tây Bắc, trong núi có lăng Triệu Tường. Mạch núi từ huyện Thạch Thành như chuỗi ngọc kéo xuống, nổi lên 12 ngọn liền nhau như một chuỗi ngọc châu, cỏ cây xanh tốt trông như gấm vóc; ở phía Đông Bắc có núi Tam Điệp nối với núi Thần Phù chạy dài ở phía tả; ở phía Tây có núi Điều Doanh, núi Trạch Lâm, núi Trang Chư chạy vòng ở phía hữu. Nước khe Rồng xuống Tống Giang lượn vòng ở đằng trước, xưa gọi là núi Am, lại gọi là núi Thiên Tôn, năm Minh Mệnh thứ hai phong tên hiệu này, được thờ vào đàn Nam Giao; năm thứ 17 khắc hình tượng vào Cao Đỉnh; liệt làm danh sơn, chép trong điện thờ”1.

     Sách Thanh Hoá quan phong của Vương Duy Trinh viết “Núi Triệu Tường, ở quý hương, huyện Tống Sơn. Về thế núi là dãy núi trên dưới mấy chục dặm hàng nghìn ngọn cao chót vót chen nhau, hai bên tả hữu có sông nước Cửu Chân muôn ngọn chiều về, thực là nền móng chúng đúc tốt đẹp nghìn vạn năm của bản triều. Núi từ Tây Bắc mà đến liên tiếp mười hai đỉnh cao chạy dài. Cây cối một màu xanh tốt trông xa đẹp như gấm ngọc. Giữa nơi um tùm trũng xuống có vùng đất ruộng, có giếng hình tròn. Bên tả có bia ngự chế. Tên cũ là An Sơn lại còn gọi là núi Thiên Tôn. Đầu đời Minh Mệnh mới có quyết định gọi như ngày nay. Thực ra gọi như thế là nêu được khí thế tốt đẹp phát đạt lâu dài của cảnh sầm uất vậy ”2.

     Khi Nguyễn Kim mất được đưa đến an táng tại núi Thiên Tôn. Tương truyền khi đào huyệt mộ ở núi Thiên Tôn, trúng giữa Hàm Rồng, lúc đặt quan tài Nguyễn Kim xuống thì Rồng ngậm miệng lại, trời bỗng nổi mưa gió to lớn, sấm sét dữ dội, mọi người đều kinh sợ bỏ chạy. Một lát trời quang mây tạnh, người nhà trở ra tìm mộ để đắp, chỉ thấy đồi núi nhấp nhô, đất đá chồng chất, cỏ cây xanh tốt không nhận được mộ táng ở chỗ nào. Cho nên, mỗi khi có việc cúng tế người ta đều phải đặt lễ vật, trải chiếu trên nền đất đắp như cái đàn tế, hướng trông vào núi Thiên Tôn để bái vọng.

     Hai ông bà Nguyễn Kim đều hợp táng ở núi Thiên Tôn. Khu Dương Lăng và khu Mả Hang sau này được khoanh thành khu rừng cấm, cấm đốt cây phát cỏ, cuốc đất, đào đá… trong khu Mả Hang vua Gia Long cho xây một cái nền lát gạch hoa gọi là Phương Cơ để làm nơi tế lễ.

     Miêu tả hình thế núi Triệu Tường, sách Đại Nam nhất thống chí cũng đã ghi: “Núi Triệu Tường ở cách huyện Tống Sơn 25 dặm về phía Tây Bắc, trong núi có lăng Triệu Tường. Mạch núi từ huyện Thạch Thành như chuỗi ngọc kéo xuống, nổi lên 12 ngọn liền nhau như một chuỗi ngọc châu, cỏ cây xanh tốt trông như gấm vóc”.

     Tính thiêng của không gian núi Triệu Tường mang nét nghĩa cụ thể của các nhân vật trong dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu Ngoại trang. Màu sắc huyền thoại của núi được gắn với tổ tiên của một Vương triều, tạo nên một biểu tượng không gian thiêng. Tên gọi thuở ban đầu của núi là kết quả của quá trình kiến tạo vũ trụ, nhưng ở đây nó đã được đặt trong mối quan hệ với sự trường tồn của dòng họ Nguyễn và Vương triều Nguyễn.

     * Khu lăng miếu Triệu Tường

     Khu lăng miếu Triệu Tường nằm ngay cuối chân núi Triệu Tường, được bắt đầu xây dựng năm Gia Long thứ hai. Gian chính giữa miếu chính thờ Triệu tổ Tĩnh Hoàng Đế Nguyễn Kim, gian bên tả thờ Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng, vị chúa mở đầu khai hoá phương Nam – miếu này gọi là Nguyên Miếu – miếu gốc ở quê hương để phân biệt với Thái miếu ở kinh đô Huế. Phía tả Nguyên Miếu, dựng hai toà miếu chính và miếu trước, gian chính giữa miếu chính gian bên tả thờ Nguyễn Văn Lang, thân phụ Nguyễn Hoằng Dụ. Hằng năm, lệ tế lễ đều theo điển lễ như các miếu ở kinh đô.

     Khu mộ táng Nguyễn Kim được Gia Long đặt tên là Lăng Trường Nguyên. Minh Mạng cho dựng ở Lăng Trường Nguyên tấm bia đá khắc ghi ngự chế bài minh:

Đất lớn chúa thiêng sinh ra Triệu tổ
Vun đắp cương thường nêu rạng thánh võ
Nghĩa động quỷ thần công truyền vũ trụ
Cõi trần dời bỏ, lăng ở Bái Trang.
Non nước bao bọc, bóng mát tùng xanh
Khí thiêng nhóm họp, đời đời xưng vinh
Mệnh trời đã giúp con cháu tinh anh
Võ công dựng nước bèn tìm gốc nguồn
Tuy tôn dựng miếu lăng goi Trường Nguyên,
Tân tuy bắc tuần dến đây dựng lại
Trông ngắm non sông nhớ đến gốc cõi
Khắc chữ vào bia lưu ức vạn tài

(Nguyễn Phúc tộc thế phả)

     Từ những vấn đề trên cho chúng ta thấy rằng, việc bảo tồn không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang rất có ý nghĩa. Điều này không chỉ thiết thực giữ gìn các di tích liên quan đến chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, mà còn bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của một vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Vùng Gia Miêu của Tống Sơn xưa, Hà Trung ngày nay tuy có nhiều khó khăn, song lại là nơi có nhiều cảnh đẹp được liệt vào danh sơn. Bên cạnh đó, còn có cảnh đẹp của đồng nội, làng xóm, với một hệ thống đền chùa, đình, nghè, lăng miếu trải suốt cả chiều dài lịch sử.

     Gia Miêu còn được nhắc đến như một miền đất cổ xưa, đậm sắc thái văn hoá cổ truyền với những trang thần thoại, truyền thuyết của người Mường và người Việt, cho đến nay vẫn còn phổ biến trong phong tục thờ cúng tổ tiên, trong hát Xường, hát đúm mùa Xuân. Làng Nghĩa Đụng – nơi đồng bào Mường tụ họp sinh sống vẫn rộn rã tiếng cồng chiêng trong những ngày hội mùa xuân và lễ hội đình Gia Miêu hàng năm. Những đặc sản hương vị đồng quê của vùng đất Gia Miêu như: mía ngọt Đường Trèo (trống ở đồi Ông Phụ , Gia Miêu ), xôi nếp, ốc lồi, củ từ, mắm tép… là những món ăn quê cha đất tổ mà các Vua Nguyễn khi xa quê vẫn không thể nào quên.

     Vấn đề bảo tồn không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang cần hết sức chú ý đến không gian môi cảnh, nếu không những biểu tượng về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang sẽ mất đi phần nào ý nghĩa vốn có của nó. Bởi không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang không chỉ là không gian tự nhiên, không gian xã hội mà còn là không gian tâm linh. Chính điều này sẽ góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể thời kỳ chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn sống trong tâm thức, trong ký ức cộng đồng.

     Là vùng đất quý hương, có lịch sử lâu đời, có vị trí quan trọng trong không gian văn hoá xứ Thanh và trong tổng thể không gian văn hoá – xã hội Việt Nam, Gia Miêu Ngoại trang rất cần được đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá làng, nhằm đưa di sản văn hoá làng Gia Miêu Ngoại trang mà trung tâm là những di sản về chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn hoà nhập cùng toàn bộ đời sống, sinh hoạt văn hoá, phong tục, tập quán của cư dân làng xã. Đó chính là cơ sở tạo lập một bảo tàng “sống” trong dòng chảy lịch sử về Vương triều Nguyễn trong lịch sử văn hoá Việt Nam.

__________
1 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 111.

1 Địa chí Hà Trung, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, tr. 234.

1 Địa chí Hà Trung, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, tr. 225.

2 Địa chí Hà Trung, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, tr. 235.

1 Đại Nam nhất thống chí, tập II, Quốc sử triều Nguyễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1974, tr. 218.

2 Vương Duy Trinh, Thanh Hóa quan phong, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thanh Hoá ấn hành, 1971, tr.21.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Không gian văn hoá Gia Miêu Ngoại trang (Tác giả: TS. Mai Thị Hồng Hải)