Miền Hậu-Giang – Khai-đề của Giáo-Sư NGUYỄN-THIỆU-LÂU

     Giáo-sư NGUYỄN THIỆU LÂU

     Miền Hậu-Giang là miền đồng bằng, đất rộng ở về phía Nam con sông Hậu. Con sông này là chi-nhánh của sông Cửu-Long chảy từ Nam-Vang xuống nước ta, hướng Tây Bắc—Đông Nam. Từ biên-thùy Cam-Bốt đến cửa biển, sông dài độ hai trăm hai mươi cây số. Nếu ta lấy bản đồ mà kẻ hai con đường thẳng thước thợ tới sông Hậu thời con đường ngắn nhất là từ Long-Xuyên đến Rạch-Giá, dài độ sáu mươi cây số và con đường dài nhất đi qua Ba- XuyênAn-Xuyên dài độ một trăm sáu mươi cây số.

x
x x

    Không còn phải đo diện-tích thời miền Hậu-Giang là một phần ba đất Nam. Toàn là đồng bằng rất thấp, trừ mấy ngọn đồi ở An-Giang và Hà-Tiên nổi lên như để làm cảnh. Trừ Ba-XuyênAn-Xuyên, tức là miển Bạc-Liêu và Cà-Mau trước thời một phần ba là bùn lầy, đầy rừng, nhung nhúc những rắn.

     Miền Hậu-Giang là một miền địa-lý quan-trọng của nước Việt-Nam ta. Miền này có nhiều tương-lai, không phải cho một tương-lai gần đây mà còn cho một tương-lai độ vài ba trăm năm nữa.

     Đứng về phương-diện mặt đất, chất đất và tình-trạng canh-tác mà nói thời ta chia miền Hậu-Giang ra làm hai phần. Đại-khái như sau này:

     Phần thứ nhất là hữu ngạn sông Hậu, rộng độ bốn năm mươi cây số.

     Đây là một giải đất phù-sa tốt, đã chắc. Các giồng chạy song song với nhau từ An-Giang tới Khánh-Hưng. Giồng, là những giải đất cát pha, chỉ cao hơn ruộng độ một thước mét. Làng và vườn ở trên giồng. Vườn trồng đủ các thứ nhưng tốt nhất là dừa, cauchuối. Có những đường mương ngang dọc như đường bàn cờ. Từ các mương cái, đã từ hơn một trăm năm nay, các cụ ta đã đào mương con. Có ba con sông đào chính, ấy là sông Vĩnh- Tế ăn từ Châu-Đốc đến Hà-Tiên và sông Thụy-Hà; rồi con sông lấy nước từ sông Cửu-Long tới Rạch-Giá. Ba con sông chính này đã là ba mạch máu chính cho phần địa-lý này để lấy nước ngọt sông Cửu-Long đem vào tận các ruộng xa lánh, các vườn, để rửa đất phèn thời mới có cảnh trù-phú trên vườn dưới ruộng ngày nay. Các sông chính, các mương cái lại còn là đường giao-thông rất thuận-tiện, không những cho các xuồng mà lại còn cho cả các ghe bầu to nữa.

     Miền này là toàn địa-hạt tỉnh An-Giang, Phong-Dinh và phần Bắc tỉnh Kiên-GiangBa-Xuyên.

     Công-trình của tiền-nhân chúng ta nếu ta ngược lên dĩ-vãng, thời có ở miền nói trên từ giữa thế-kỷ thứ mười bảy. Nhưng tuy ruộng vườn bát-ngát, hãy còn nhiều đất bỏ hoang. Phải còn đào nhiều mương nữa và phải có thêm nhiều nhân-công. Nguyễn-Tri-Phương đã tổ-chức đồn-điền, đã lập ấp ở miền này.

     Vào khoảng thu năm Giáp dần (1854), dân mới hồi-phục đã thủ thành cơ-đội, lập thành làng xóm phỏng chừng một trăm làng chia ra đồn khẩn.

     Hai mươi mốt cơ tức là mười ngàn năm trăm quân tự-túc. Nghĩa là phải vỡ lấy ruộng để có gạo mà ăn. Mấy năm đầu nhà nước cấp cho ngưu-canh điền-khí. Thời bình thời là nông-dân. Thời loạn thời một mặt làng ấp nào phải tự-vệ cho làng ấy. Nhà nước lại còn tuyển một số trai-tráng của mỗi làng, tùy theo nhân số, mà cho đi tùng quân, sát với quân-đội chính-quy.

     Ngoài các đồn-điền ấy còn có độ một trăm làng, xã mới thành-lập, tức là số dân, cả nam, phụ, lão, ấu độ hai trăm ngàn người.

     Thật là một công-cuộc lịch-sử vĩ-đại do sự tổ-chức khôn-khéo và mạnh-mẽ của Nguyễn-Tri-Phương. Công cuộc này, bộ sử Chính-Biên ghi rõ.

     Trên đây ta nói về đại cương miền Hậu-Giang và phần thứ nhất của miền ấy, ấy là toàn dẻo đất chắc ở phía Nam sông Hậu, toàn tỉnh An Giang, một phần Phong-Dinh, một phần Kiên-Giang và một phần Ba-Xuyên.

Bây giờ ta nói tới phần thứ hai…

Tức là dẻo bờ biển Kiên-Giang, phần lớn Ba-Xuyên và toàn An-Xuyên. Ba-Xuyên đã có tên là Bạc-Liêu và An- Xuyên là Cà-Mau.

x
x x

     Miền này có mấy điểm chính về địa-lý thiên-nhiên.

     Mặt đất rất thấp. Nhiều nơi, mặt đất thì cao độ và ba thước: ấy là các giồng như ở bất cứ miền phù-sa nào. Còn các nơi đất thấp chen vào giữa các giồng thời chỉ cao độ vài thước hay hơn một thước. Ấy thế mà, ngày ngày tùy theo tuần trăng, tùy theo giờ, nước thủy triều dâng cao dần dần lên tới hơn một thước có khi đến thước rưỡi, làm ngập hết các miền đất thấp nói trên. Các miền này ở rất nhiều nơi còn toàn thứ rừng nước, rừng cây bần, cây vẹt. Rễ ăn sâu xuống bùn và bị nước thủy triều làm ngập.

     Thứ cây đước, cây vẹt (palétuviers) tự-nhiên mọc ở chỗ đồng chua nước mặn, sinh sôi nảy nở một cách dễ-dàng lắm. Thân cây nhỏ và chỉ cao độ mươi thước. Về mùa hoa, các hoa nở, hình một trái còn của trẻ con chơi. Rồi khi hoa chín, mà có gió thổi thời hoa theo làn gió mà bay… rồi rơi đánh phập một cái xuống đất bùn: ấy là mỗi hoa sẽ thành một cây non, mọc dễ lắm.

     Ở ngoài Bắc thuộc bờ biển tình Quảng-Yên cũng có thứ cây này mà tên địa-phương gọi là cây vỏ già.

Các rừng cây này có một tác-dụng quan-trọng, ấy là sự giữ các phù-sa của sông Hậu do một luồng nuớc biển đưa vào.

     Nguyên là con sông Hậu có luồng nước mạnh và chở nhiều phù-sa hơn con sông Tiền. Ra tới cửa sông, nước và phù-sa bị một luồng nước biển hướng Đông-Bắc— Tây-Nam đánh tạt vào bờ nên dần dần đọng lại theo các rừng cây đước. Rồi đến giờ nước thủy triều dâng lên thì bị đánh vào bên trong. Vì vậy nên miền đồng chua nước mặn này nới rộng và mũi Cà-Mau mới có hình cái mỏ vịt.

     Rồi bờ biển ăn thẳng về phía Chính-Bắc tới vĩ-tuyến đảo Phú-Quốc.

     Nói tóm lọi, rõ ràng nhất là ở miền An-Xuyên, miền biển không định rõ được; thế nào là đất, thế nào là biển, cũng không định rõ được, các giồng đất cát pha không có, chỉ là giồng đất thịt, rất khác các giồng ở miền Thanh-Nghệ.

     NÓI TÓM LẠI, miền Ba-Xuyên, An-Xuyên có rất nhiều rừng cây đước khai-thác khó, chỉ để dùng làm than. Còn giồng thời xấu. Ruộng lại xấu nữa. Sông thiên tạo thời chỉ là các rạch ngóc-nga ngóc-ngách vào các rừng, vào các đống cỏ lau rậm-rạp, nhung-nhúc những rắn nước, những rắn độc, những cá sấu con. Ruộng vườn so với miền An-Giang, Phong-Dinh, Kiên-Giang kém xa. Có nhiều miền không có thể canh-tác được, với điều kiện kỹ-thuật và số lượng nhân công của ta bấy giờ. Có bệnh sốt rét.

     Trong hồi toàn quốc kháng-chiến chống Pháp, miền Cà- Mau đã là một chiến-khu quan-trọng vì Pháp khó lòng vào tảo-thanh ở miền bùn lầy này, còn bom ném thời nhiều khi không nổ vì rơi xuống bùn.

Nguồn: TÌM HIỂU ĐẤT HẬU-GIANG.
Khai-đề của Giáo-Sư NGUYỄN-THIỆU-LÂU
In lần thứ Nhứt, Phù Sa, MCMLIX
Ảnh: Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com) thiết lập ảnh tone màu sepia.

     Mời xem 

1. Miền Hậu-Giang – Khai-đề của Giáo-Sư NGUYỄN-THIỆU-LÂU

2. Sơ-lược về địa-lý Miền HẬU-GiANG (Phần 1: KHUNG CẢNH)

3. Miền HẬU-GIANG (Phần 2: Từ MẠC-CỬU đến NGUYỄN- TRI-PHƯƠNG)