Sơ-lược về địa-lý Miền HẬU-GIANG (Phần 1: KHUNG CẢNH)

SƠN NAM

     Miền Hậu-Giang (1) ăn từ hữu-ngạn sông Hậu- Giang (sông Cái, sông Sau, sông Ba-Thắc) qua phía Tây-Nam theo duyên hải biển Nam- Hải và vịnh Xiêm-La, bao gồm các hải đảo.

     Nhờ ba mặt biên-giới — quan-trọng nhứt là phần duyên hải vịnh Xiêm-La — nên miền nầy đứng vào một vị-trí đặc-biệt, có thể thông-thương trực-tiếp và mau chóng bằng đường biển với các nước Cam-Bốt, Thái-Lan, Mã-Lai, Nam-Dương. Trong địa-phận của Địa-Trung-Hải nhỏ bé ấy (2), miền Hậu-Giang có vài điểm tương-đồng với các nước lân-cận thí-dụ như kỹ-thuật xây nò bắt cá, những kiểu thuyền bè, những loại cây ăn trái, những tập-tục tín-ngưỡng. Và là nơi đón nhận những làn sóng xuất-ngoại cùa người Trung-Hoa…

     Dân số ước chừng một triệu người; diện-tích 20.000 cây số vuông, nhằm 1/3 diện-tích Nam-phần Việt-Nam, 4/3 diện-tích Trung-châu Bắc-phần, 3 lần lớn hơn diện-tích vùng đồng bằng Thanh-Nghệ-Tỉnh.

     Giữa dãy núi Cardamomes và mũi Vũng-Tàu xưa kia là một vịnh rộng lớn hình bầu dục dài 500 kí-lô-mét, rộng 200 kí-lô-mét. Hồi đầu đệ tứ kỳ (ère quaternaire), đất phù-sa của sông Cửu-Long bồi vào lần hồi từ Siêm-Réap đến Cà-Mau.

     Đồi núi khá nhiều; dãy Thất-sơn (cao nhứt là đỉnh núi Cấm, 716 mét tại Vổ Bò-Hong) ăn mãi đến tận núi Ba-Thê, núi Sập. Sát bờ biển, dãy Hòn Chông nhô ra biển (mũi Công-Chúa). Về phía Nam, Hòn Me, Hòn Sóc, Hòn Đất tuy còn gọi là hòn nhưng đã dính vào đất liền.

      Đồi núi miền duyên hài nầy “mọc dội lên” (3) bằng chứng là ở vùng Hòn Chông còn vết sóng biển ăn lở vào vách đồi ngay chớn cao 1 mét 50 ; trên sườn các hải đảo đối diện Hà-Tiên, sò ốc đóng thành khối.

     Các hải đảo tập-trung về phía Bắc, rải rác ở phía Nam (tất cả chừng 100), quan-trọng nhứt là Phú-Quốc, Sơn Rái…

     Vùng Hậu-Giang đã thay đổi hình dáng, sông Cửu-Long đã dời đổi phương hướng như thế nào ? Mãi đến nay, các nhà chuyên môn chưa giải đáp rõ. V. Delahaye phỏng đoán vàm sông Cửu- Long xưa kia đổ ra ngay phía mũi Cà-Mau (4). L. Malleret chủ-trương rằng từ hồi đầu kỷ nguyên đến giờ, vùng Trung-châu sông Cửu-Long (phía đất Hậu-Giang) không thay đổi rõ-rệt về hình thái (5).

     Ý kiến sau e quá táo bạo. Trong thực-tế ngày nay, sông Cửu- Long mang ra biển hằng năm từ 400 đến 12OO triệu thước khối phù-sa, bồi ngay mũi Cà-Mau lấn ra biển trung bình từ 60 đến 80 mét (6). Hiện-tượng ấy diễn-biến khá phức-tạp : nơi nầy lờ, nơi kia bồi. Và nơi bồi không phải là được bồi tuần-tự. Nhiều nơi đang bồi nhanh chóng bỗng nhiên ngưng bặt 5, 10 năm hoặc vĩnh viễn.

     Ngay ở chót mũi Cà-Mau về phía Nam thỉnh-thoáng đất lở có lẽ vì ảnh-hưởng của hải-lưu (7). Từ mũi Cà-Mau trở lên phía Bắc đến vàm sông Cái-Lớn (Rạch-Giá) bãi biển lan ra tuy chậm nhưng rõ-rệt, đáng kể (8). Chúng tôi thử đặt giả-thuyết : Hồi đầu kỷ nguyên Tây-lịch, nếu vùng Hậu-Giang có hình-thái như ngày nay thì ít ra diện-tích cũng nhỏ bé hơn nhiều; bờ biển phía vịnh Xiêm-La ở sâu trong nội-địa ngày nay từ 5 đến 7 kí lô mét. Vàm sông Cái Lớn, Cái Bé có thể ăn đến chân núi Sập, chân núi Ba-Thê. Như vậy chúng ta mới không ngạc-nhiên khi nghe những lời đồn đãi nhiều khi có thật : thí dụ như những chiếc ghe lớn có cột buồm nằm sâu dưới đất ở phía Tây U-Minh thượng, những dãy vỏ sò, vỏ ốc nằm lộ thiên hàng ngàn thước ở Giồng Đá (Làng Bàn-Tân-Định, Rạch-Giá), và ở giữa khoảng núi Sập và núi Ba-Thê (9). Song song với vịnh Xiêm-La, mấy con kinh Cái-Lớn — Cán- Gáo, Rạch-Giá — Hà-Tiên về sau nầy xáng đào rất khó nhọc, tốn nhân công để đóng cừ giữ bờ kinh vì đất thường lở sụp…

__________
(1) Người Pháp thường gọi là l’Extrême – Ouest, 1’Ouest, Cochinchine occidentale, Transbassac. Theo ranh giới cũ, miền Hậu-Giang chỉ gồm một phần diện-tích sau dãy phía hữu-ngạn sông Ba-Thắc của các tỉnh Long-Xuyên : 960 km2, Châu-Đốc : 3.225 km2, Sóc-Trăng: 1.469 km2.

(2) Các nhà địa-lý thường nói đến vùng Địa-Trung-Hải lớn ở Đông-Nam-Á gồm biển Nam-Hải, vịnh Xiêm-La, biển Java.

(3) J. BOUAULT, La Cochinchine, IDEO, 1930 trang 2. nguyên văn : “Un mouvement positif d‘émersion”. Ngoài những bằng-chứng trong tài-liệu ấy, ta có thể kể thêm Thạch Động. Đồng-bào ở đấy mãi thắc mắc về mấy vỏ sò vỏ ốc và cái bánh lái ghe bằng cây trên chót động (?). J. Bouault dẫn theo R. CASTEX, Les rivages indochinois… nên đưa ra con số quá đáng (cao 50 mét). J. GUBLER nêu rõ hơn, từ lm5 đến 2 mét.

(4) VICTOR DELAHAYE, La plaine des Jones et sa mise en valeur, Rennes, 1928.

(5) MALLERET, Antiquité du della da Mékong, Université de Hà-nội, 1954.

(6) Các nhà nghiên-cứu nêu ra những con số quá xê xích nhau. Mallcret: 1.500 triệu thước khối và 150 mét. (Cochinchine, terrc inconnue, BSEI, 3è trimestre, 1943).

(7) Đáng kể nhứt là tai-nạn sụp lở khu vườn dừa của ông hương quản Săng, đối diện hòn Khoai cách đây không lâu.

(8) Thời Pháp thuộc, những giao kèo bán đất thường qui-định rõ quyền sở-hữu về phần “lan bồi”… trong tương lai đối với những phần đất giáp ranh với bãi biển. Ở Xẻo-Bần, cứ 7 hoặc 10 năm, các chủ đất thường dời bờ đê lấn ra phía biển để khai-thác đất “lan bồi”.

(9) Hai vùng sò ốc nầy chưa được nghiên-cứu hoặc khai-quật kỹ-lưỡng — nhứt là vùng thứ nhì mà dân chúng gọi tắt là SÒ ở gần Óc-Eo.

     Mưa khá nhiều dọc theo duyên hải (1500 đến 2000 mm) vì gió mùa từ hướng Tây-Nam thổi tạt vào vịnh Xiêm-La. So với các vùng khác ở Nam-phần, chợ Rạch-Giá là nơi mưa nhiều nhứt (2060mm) chợ Châu-Đốc là nơi mưa ít nhứt (1125mm) (1). Mùa nắng rất “độc” ; ở những nơi thiếu bóng cây, nước mặn đắng chảy lờ đờ giữa lòng rạch khô cạn, hơi bùn lầy bốc lên nóng hổi. Mùa Nam (tháng 6 — tháng 9 dương lịch) thường xảy ra bão nhỏ bất lợi cho ghe biển đi ra hòn.

     Biển không sâu : ngoài khơi ngang chợ Rạch-Giá, cách bờ 15 hải-lý, nước sâu 2 mét (2). Khoảng vời giữa Cà-Mau và Mã-Lai (400 kí lô mét), nơi sâu nhứt là 65 mét. Thủy triều yếu nhưng vì địa-thế bằng phẳng nên “nước rằm chảy thấu Nam- Vang”. Ngày 30 âm-lịch, nước lớn hồi 14 giờ tại Vũng-Tàu, 14 giờ 30 đến mũi Cà-Mau. Vì ảnh-hường phía Ần-Độ dương nên sông Bảy Háp (bên vịnh Xiêm-La) nước lớn rất trễ, sau cửa Bồ-Đề (phía Nam-Hải) từ 1 đến 2 tiếng đồng hồ.

     Các sông rạch, kinh xáng ăn thông từ Hậu-Giang qua vịnh Xiêm-La chịu ảnh-hưởng tương-phản của hai phía nước lớn gặp nhau tại “giáp nước”. Người dụng đường thủy cần khéo tính toán, tùy theo tốc-lực của thuyền mà chọn giờ khởi hành để có thể gặp nước xuôi trên một khúc sông ngắn.

     Nơi chót mũi Cà-Mau, nước lớn phía Nam Hải dâng lên 3m, phía vịnh Xiêm-La dâng lên 0m50. Mấy con rạch nhỏ bị nước bên Nam-Hải chảy lấn từ Đông sang Tây.

     Qua mùa mưa, sông rạch cứ đứng lình-bình, nước xáo trộn tại chỗ gọi là nước “pha chè”. Dưới đáy rạch, nước lớn từ biển chảy về rừng trong lúc nước mưa tràn rừng đổ xuống rạch, đòi chảy ra biển… Nước xanh của biển, nước đen của rừng tràm tạo nên một bức tranh độc-đáo, rối-rắm màu sắc.

__________
(1) Theo J. Bouault, sách đã dẫn trang 7, thì vùng rừng miền Đông Nam-phần, mưa nhiều hơn ở Rạch Giá : Lộc-Ninh 2.330mm.

(2) Nơi mũi Varella cách bờ 3 hải lý, biển sâu đến 1.000 mét, xem M. DUFEIL, Manuel de Géoyraphie du Việt-Nam, trang 54.

    Mùa nước nổi, vùng Bảy Núi như dãy cù-lao ở giữa biển lúa sạ : (1) núi Cô-Tô, (2) núi Tà-Pạ, (3) núi Nam-Vi, (4) núi Cấm, (5) núi Xà-Lon, (6) núi Dài.

Ngoài Bảy Núi: (7) núi Còm.

Ở duyên hải vịnh Xiêm-La : (8) Ba Hòn, (9) Hòn Chông, (10) hải đảo phía Rạch-Giá.

(11) Chạ Xà-Tón (Tri-tôn) và (12) chợ Cây Me ở sát lộ xe hơi.

(13) Xóm Nam-Vi, chuyên nắn cà-ràn và nồi đất từ bao thế-kỷ…

Từ Bắc chí Nam chúng tôi thử chia đất Hậu-Giang ra từng vùng (1) :

— KHU TỨ GIÁC GIỮA KINH VĨNH-TẾ VÀ KINH NÚI SẬP: Đất thấp, hoang-vu, dãy Thất-Sơn chiếm phần trung-tâm. Qua mùa lụt của sông Cửu-Long, “Bảy núi mây liền chim nhíp cánh, ba dòng nước chảy cá vênh râu”. Chợ Châu-Đốc và chợ Long-Xuyên tuy ở nơi cao nhưng thường bị ngập (năm 1904, ở chợ Long-Xuyên, nước ngập đường phố từ 6 đến 8 tấc) (2). Đồng ruộng quá sâu thích-hợp với loại ruộng sạ. Qua mùa nắng, nước giựt xuống, đất khô-khan, cỏ vàng cháy như sa-mạc, lốm-đốm từng đoàn trâu bò tìm bóng mát bên mấy cây gáo xơ-rơ. Sồng rạch và kinh đào rất ít; trừ phía Nam, vùng Cái Sắn.

— KHU TAM GIÁC RẠCH-GIÁ, THỒT-NỒT, KẾ-SÁCH : Kinh rạch khá nhiều, dẫn nước ngọt đến Rạch Sỏi gần vịnh Xiêm-La.

__________
(1) P. GOUROU, (L’utilisation du sol en Indochine francaise) phân vùng căn cứ vào mật-độ dân số.

Chúng tôi căn cứ vào hoàn cành sông ngòi, thảo-mộc.

(2) Xem thêm Monographie Long-Xuyên, Publications SEI, 1930.

BẢO-VỆ CỔ-THỤ

     Bên sườn núi Cấm, vì thiếu đất làm ruộng, dân chúng san bằng mấy gò nổng (A). Mặt đất trở nên thấp, tuy nhiên mấy cây cổ-thụ được bảo-vệ, chỉ bị xắn đất chung quanh (B) ; gốc cây đứng cao nghệu, ghi dấu mặt gò nổng ngày xưa.

     Rạch Bình-Thủy, rạch Ô-Môn, rạch Cần-Thơ (Ba-Láng — Phong- Điền) có lẽ là nơi phì-nhiêu nhứt nhì của Nam-phần. Vườn cam quít xum-xuê, mùa nước son, mỗi ngày đất phù-sa bồi lên bãi sông một lớp rõ-rệt (trên cầu ao ngập nước, đi không khéo thì trợt chân). Gốc quít ở vùng Kế-Sách lớn như gốc khế, sống hằng 15 năm mà chưa cỗi.

— VÙNG BA-XUYÊN : Đất trên giồng và chung quanh giồng đã khai-thác hết. Giồng cát ở bờ biển Vĩnh-Châu nổi danh về vườn nhãn, rẫy, bên cạnh những ruộng muối.

— U-MINH THƯỢNG, U-MINH HẠ, MŨI CÀ-MAU : Rừng tràm mọc thưa, ước chừng 100.000 mẫu tây, choại bò lan, phủ lớp đất mật-cật, dưới đất mật-cật là đất sét (1).

__________
(1) CONSIGNY, Les torets à bois de feu, Indochine, no 227, / đá nghiên-cứu kỹ-lưỡng vùng nầy.

     U-Minh hạ gồm hữu ngạn sông Ông Đốc và rạch Cái-Tàu ăn trổ ra biển. Giữa rừng tràm âm-u tư bề nước mặn, vùng đất phước Cái-Tàu hiện lên như một ốc-đảo phì-nhiêu không kém vùng nước ngọt (vườn trầu, dâu, cam, măng-cụt, dừa…).

     Vùng than bùn (tourbière) gọi là đất cháy, đất mật-cật.

     (1) đất sét — (2) tràm chồi — (3) mật-cật rụng lá xuống thành than bùn — (4) than bùn rút nước, móc lên có nước ngọt chảy ra — (5) kinh đào — (6) khoai mì.

Bề dày lớp than bùn từ 8 tấc đến 2 mét.

     U-MINH THƯỢNG, chung-quanh là xóm Cái Nước, Thầy Quơn, Chắc- Băng (địa-điểm Sân Chim ngày xưa), kế đến Tân-Bằng, Ngả Bát. Vùng thau bùn Chắc-Băng (rẫy khoai mì).

     U-MINH HẠ chung-quanh là bờ biển, sông ông Đốc, Rạch Cái Tàu nối qua Rạch Tiểu-Dừa (đường Gia-Long tẩu quốc).

(1) than bùn (đất mật cật) — (2) rừng chồi, rừng tràm thưa thớt — (3) rừng tràm dày.

Ong mật còn nhiều.

     Mấm, đước nối tiếp nhau từ bãi biển mũi Cà-Mau chiếm non phân nửa diện-tích rừng sác toàn Nam-phần (140.000 trong 300.000 mẫu tây). Đước có thể cao đến 20 mét, trực-kính 80 phân (1), chồi non nhú sẵn chừng 4, 5 ly khi trái đước còn treo lủng-lẳng trên cành. Một khi rụng xuống bãi bùn, lập tức chồi nở ra lá non, rễ mọc dài trong sóng gió, bám giữ đất phù-sa. Thân trái cứ lớn mãi, trở thành gốc cây : hình ảnh ấy tượng- trưng cho sức sống có thừa của người dân Việt luôn luôn không mệt-mỏi. Sông rạch đầy cá tôm như tên sông (Bảy Háp), tên xóm (Năm Căn) (2). Hai bên bờ, dừa nước mọc thẳng, lá như cờ, đọt như gươm dáo. Nước xoáy vào vịnh, khoét những “hói” ăn luồn, sâu thẳm, lạnh ngắt, nơi cư-trú tốt của loài sấu đôi khi hung- hãng. Cọp chỉ còn một hai con bịnh hoạn… phần lớn đều lùi vào giai-thoại xa xưa.

ĐƯỚC và MẤM

     (1) Cây đước có rễ hình chân nôm (gọi là chan đước)

     (2) Cây mấm và “rễ gió” nhô trở lên mặt bùn (như rễ bần) 

__________
(1) CREVOST et PETELOT, Catalogue des produits de 1‘Indochine (tom VI) và bài của  M. Dugros đăng trong tập ấy, trang 39-45.

(2) Bảy Háp tức là mỗi con nước một miệng đáy đổ được 7 háp (háp, 1 đơn vị đo lường), Năm Căn: ngày xưa nơi đó có 5 căn đầy giáng ngang sông.

TRÁI ĐƯỚC

Loại đước xanh ở Cà-Mau, trái dài từ 20 đến 25 phân tây;
khi già trái mọc mộng và rụng ngay nơi có chỉ mũi tên

     Bàn về khung-cảnh Hậu-Giang, chúng ta nên tránh những nhận-xét khái-quát. Cũng như ở những phần đất mới khai-thác khác, nơi đây là sự tập-họp và dung-hòa mâu thuẫn (terre des contrastes). Mấy tiếng “sông rạch chằng chịt” ở mũi Cà-Mau không thể áp-dụng được nơi vùng khá rộng giữa kinh núi Sập và kinh Vĩnh-Tế. Từ chợ Rạch-giá trở xuống phía Nam, trên khoảng bờ biển dài hằng ba bốn mươi kí lô mét không thấy bóng dáng cây đước. Nơi không có muỗi và nơi muỗi nhiều nhứt (Búng-tàu) vẫn nằm trong vùng nước ngọt Cần-thơ. Ở Thất Sơn, Sóc Xoài phần lớn nhà cửa đều lợp bằng dưng, bằng tranh vì thiếu lá dừa mọc tại chỗ. Giữa tư bề nước mặn, nước ngọt sôi lên từ lòng đất U-Minh thượng như mạch suối. Nơi chót mũi Cà-Mau bùn lầy, bãi Viên-An tuy không thơ mộng, tân thời nhưng cũng có cát mịn sạch-sẽ, xứng đáng cho người địa-phương đến nghỉ mát.

     Nói chung, không có gì quá xa lạ. Vùng đồng bằng quá thấp ở chung quanh Thất-Sơn là sự tiếp-tục của Đồng Tháp Mười (đất trấp nhiều phèn). Tỉnh Long-xuyên hơi giống Sa-đéc ; tỉnh Cần-thơ như Vĩnh-Long (đất sét sông, đất phù sa); Sóc-trăng như Trà-vinh (đất sét biển, đất phù sa). Rạch-giá — Cà-Mau như vùng rừng tràm Đức-Hòa hoặc vùng Cần-Giuộc, Cần-Đước (Long-An). Sông Trèm-Trẹm, sông Gành-Hào giống như rạch Bình-Điền, rạch Thị-Nghè, bến Lò-Gốm ở ngoại-ô Saigon (đất phù-sa chịu ảnh- hưởng nước mặn), nhưng ở đấy ô-rô, cóc-kèn, bần, lá dừa nước, vừng… to lớn hơn gấp bội.

Nguồn: TÌM HIỂU ĐẤT HẬU GIANG – Sơn-Nam
In lần thứ Nhứt, Phù Sa, MCMLIX
Ban Tu thư (thanhdiavietnamhoc.com)

     Mời xem 

1. Miền Hậu-Giang – Khai-đề của Giáo-Sư NGUYỄN-THIỆU-LÂU

2. Sơ-lược về địa-lý Miền HẬU-GiANG (Phần 1: KHUNG CẢNH)

3. Miền HẬU-GIANG (Phần 2: Từ MẠC-CỬU đến NGUYỄN- TRI-PHƯƠNG)