Phật giáo ở vùng đất Quảng Bình trước thế kỷ XI (Phần 1)

Tác giả bài viết:  Tiến sĩ  NGUYỄN VĂN QUẢNG
(Đại học Khoa học, Đại học Huế)
Tiến sĩ  ĐINH VĂN VIỄN
(Đại học Hoa Lư, Ninh Bình)

TÓM TẮT

     Trước thế kỷ XI, vùng đất Quảng Bình là một phần của Champa. Bên cạnh Bà la môn giáo, ở Champa còn có Phật giáo và Hồi giáo, trong đó, trong thời kỳ cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X, Phật giáo Champa rất hưng thịnh và thay thế Bà la môn giáo trở thành tôn giáo quan trọng nhất của Champa.

     Việc nghiên cứu về Phật giáo Champa nói chung đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận, nhất là các công trình của L.Finot22, Anne-Valérie Schweyer23, Trần Kỳ Phương và Nguyễn Thị Tú Anh24… Tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu lịch sử Phật giáo ở Quảng Bình trong thời kỳ Champa (trước thế kỷ XI) không nhiều, chủ yếu là đề cập đến một số di tích như Đại Hữu, Mỹ Đức khi đề cập đến Phật giáo Champa nói chung, hay viết về Phật giáo ở thời kỳ Indrapura25.

     Trong bài viết này, trên cở sở những di chỉ khảo cổ học Champa ở vùng đất Quảng Bình như ở Mỹ Đức, ở Đại Hữu, ở động Phong Nha,… chúng tôi trình bày những dấu ấn, diện mạo Phật giáo ở vùng đất Quảng Bình thời kỳ trước thế kỷ XI.

Từ khóa: Quảng Bình, Phật giáo, Chămpa, Đại Hữu, Mỹ Đức, Phong Nha.

1. Vài nét về vùng đất Quảng Bình trước thế kỷ XI

     Quảng Bình là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Việt Nam hiện nay, phía Bắc tiếp giáp tỉnh Hà Tĩnh – vùng đất được coi là thuộc không gian văn hóa Đông Sơn, sau này là Đại Việt, với ranh giới là đèo Ngang/Hoành Sơn, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Đông là biển Đông và phía tây tiếp giáp với nước bạn Lào. Vùng đất Quảng Bình có địa hình kéo dài theo chiều bắc – nam, hẹp chiều đông – tây, là một vùng đất có chiều ngang hẹp nhất miền Trung nước ta26. Quảng Bình có diện tích phần lớn là đồi núi, tập trung ở phía Tây, nơi có vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Vùng này có nhiều hang động kỳ vĩ, không chỉ mang vẻ đẹp thiên nhiên có một không hai trên trên giới, giàu sản vật, mà còn là nơi chứa đựng nhiều tàn tích văn hóa qua các thời kỳ từ tiền sử đến lịch sử.

     Đồng bằng Quảng Bình nhỏ hẹp, nhưng bù lại, Quảng Bình có bờ biển dài27, phía đông có nhiều cảng/cửa biển quan trọng, là tiềm năng lớn để phát triển kinh tế biển như Ròn, Lý Hòa, Nhật Lệ. Vùng này cũng có nhiều con sông lớn, chảy theo hướng tây – đông như sông Ròn, sông Gianh, sông Lý Hòa, sông Long Đại, Kiến Giang, sông Nhật Lệ trong đó hai con sông lớn là sông Gianh (Linh Giang) với hai chi lưu là nguồn Nậy và nguồn Son, sông Nhật Lệ từ hai chi lưu là Kiến Giang (Bình Giang) và Long Đại đã trở thành hai bồn thu nước khổng lồ làm nên sự trù phú của cả vùng đất đồng bằng và là những con đường quan trọng để buôn bán và giao lưu văn hóa.

     Những nghiên cứu về khảo cổ học cho thấy, vùng đất Quảng Bình hiện nay thuộc địa bàn phân bố của văn hóa Hòa Bình (sơ kỳ đá mới, khoảng 1 vạn năm cách ngày nay)28, sau đó là văn hóa Bàu Tró (hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí, khoảng 5000 – 4000 năm cách ngày nay). Đáng chú ý, sự phát hiện nhiều hiện vật mang đặc trưng của văn hóa Đông Sơn ở Quảng Bình, tiêu biểu là trống đồng ở Phù Lưu (Quảng Trạch); rìu đồng, dao găm đồng ở Cổ Giang (Bố Trạch), khuôn đúc đồng ở Hương Hóa (Tuyên Hóa) cho phép khẳng định: Quảng Bình là một trong những địa bàn phân bố của nền Văn hóa Đông Sơn (còn gọi là nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc) và là miền đất phía Nam của nước Văn Lang, rồi Âu Lạc. Trong thời kỳ Sơ sử, Quảng Bình cũng là địa bàn khởi thuỷ một giai đoạn và một không gian văn hoá sơ sử với tổ chức hành chính sơ khai, dạng “tiền nhà nước” là Việt Thường Thị29. Vào giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn (khoảng 2.500 năm cách ngày nay), nhà nước Văn Lang ra đời trên cơ sở hợp nhất các bộ tộc Lạc Việt, mà trung tâm là vùng trung du Bắc Bộ. Lúc này, vùng đất Quảng Bình có thể là địa bàn phía Nam của nước Văn Lang mà những dấu vết văn hóa Đông Sơn phát hiện được ở Quảng Bình đã cho thấy điều đó. Vào cuối thế kỷ III trước công nguyên, nhà nước Văn Lang của các vua Hùng bị Thục Phán, một thủ lĩnh của Âu Việt thôn tính và thành lập nước Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Lúc này, vùng đất Quảng Bình vẫn thuộc phạm vi nước Âu Lạc. Tuy nhiên, do đặc điểm dân cư và quan trọng là đặc điểm về hoạt động sản xuất, đời sống và vị thế địa lý của địa bàn mà hình thái tổ chức cộng đồng và chính quyền sơ khai của địa phương trong khu vực cư dân cổ Quảng Bình không phải lúc nào cũng hoàn toàn đồng nhất với khu vực phía Bắc30. Tuy nhiên, việc tìm thấy khuyên tai hai đầu thú trong Văn hóa Bàu Tró (được xem là tiền thân của văn hóa Sa Huỳnh), khuyên tai ba mấu ở Tam Tòa (Đồng Hới) đã cho thấy, Quảng Bình là vùng đất giao thoa mạnh mẽ giữa văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc và Văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung.

     Năm 179 TCN, Triệu Đà tiêu diệt nước Âu Lạc, sáp nhập nước ta vào nước Nam Việt, lúc này nhà Triệu chia lãnh thổ của nước Văn Lang – Âu Lạc trước đó thành hai quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), vùng đất Quảng Bình ngày nay không thuộc phạm vi cai quản của quận Cửu Chân của nhà Triệu. Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà, sáp nhập toàn bộ lãnh thổ của nước Nam Việt, trong đó, có 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân ở nước ta, vào lãnh thổ của nhà Tây Hán. Bên cạnh việc giữ nguyên hai quận cũ, Hán Vũ Đế còn lấy phần đất từ Hoành Sơn trở vào, có thể đến Phú Yên ngày nay, thành lập ra một quận mới trực thuộc nhà Hán, gọi là quận Nhật Nam. Quận Nhật Nam có 5 huyện là Tây Quyển, Tỷ Cảnh, Chu Ngô, Lô Dung và Tượng Lâm, trong đó, theo Đào Duy Anh, hai huyện Tây Quyển, Tỷ Cảnh/Ảnh về cơ bản nằm trên đất Quảng Bình, Chu Ngô thuộc vùng Quảng Trị, Lô Dung thuộc vùng Thừa Thiên Huế, còn Tượng Lâm ở phía nam đèo Hải Vân31.

     Dưới sự quản lý của nhà Hán, nhân dân quận Nhật Nam bị áp bức bóc lột nặng nề, do đó thường xuyên nổi dậy đấu tranh chống lại ách đô hộ của nhà Hán. Theo sử liệu Trung Hoa, vào năm Sơ Bình thứ ba, đời vua Hiến đế nhà Hán (192), nhân dân quận Nhật Nam dưới sự lãnh đạo của Khu Liên nổi dậy khởi nghĩa ở Xianglin/Tượng Lâm, giết huyện lệnh và tự lập làm vua32. Đó cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của một vương quốc mà mãi đến những năm 220 – 230 chúng ta mới biết được tên của vương quốc đó là Lin – Yi/Lâm Ấp33. Hiện nay, vấn đề kinh đô đầu tiên của Lâm Ấp về cơ bản chưa thống nhất và vùng đất bắc Hải Vân ngay từ đầu có phải là địa bàn phát tích cuộc khởi nghĩa của Khu Liên hay không vẫn còn những ý kiến trái chiều nhưng qua sử liệu Trung Hoa, chúng ta biết rằng, ngay sau khi lập quốc không lâu, năm 248, lợi dụng cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu ở Cửu Chân, Lâm Ấp tấn công miền bắc Nhật Nam và chinh phục Ba Đồn, Quảng Bình hiện nay. Năm 347, vua của Lâm Ấp là Phạm Văn giết Thái thú Hạ Hầu Lãm, bình định huyện thành Tây Quyển, chiếm cứ Nhật Nam và đòi thứ sử Giao Châu lấy đèo Ngang làm ranh giới giữa Lâm Ấp và Giao Châu34. Như vậy, đến năm 347, vùng đất từ đèo Ngang trở vào đã hoàn toàn thuộc phạm vi lãnh thổ của Lâm Ấp.

     Một số ý kiến gần đây cho rằng, Lâm Ấp/Lin – Yi không phải là Champa mà là một tiểu vương quốc tồn tại ở miền Trung Việt Nam cùng với một số tiểu vương quốc khác như Xitu/Tây Đồ, Boliao, Quduqian trước khi xuất hiện thuật ngữ Champa trong các bia ký35. Khoảng đầu thế kỷ VII, vương quốc Lâm Ấp hợp nhất với các tiểu vương quốc khác ở phía nam, cùng với quá trình Ấn Độ hóa mạnh mẽ đã dẫn tới sự hình thành quốc gia Champa (Champa hợp nhất), với tên gọi Champapura (thành phố của Champa) được đề cập trong bia ký Mỹ Sơn năm 658 và bia ký Campuchia năm 66736. Phạm vi của vương quốc Champa (Champa hợp nhất) kéo dài từ dãy Hoành Sơn đến tận sông Dinh (Bình Thuận hiện nay). Từ khi hợp nhất thành vương quốc Champa, vùng đất Quảng Bình trở thành vùng biên viễn của Champa, là nơi tiếp giáp với lãnh thổ của Trung Hoa (thời Bắc thuộc) và sau này là Đại Việt mà Hoành Sơn là ranh giới, chính vì vậy, trãi qua các vương triều Hoàn Vương (thế kỷ VIII – IX), Indrapura (thế kỷ IX – X), Vijaya (thế kỷ XI), các vị vua Champa đều coi trọng vùng đất này, nhất là trong chiến lược quân sự của vương quốc. Vì tính chất quan trọng của vùng đất nên trong suốt thời kỳ Lâm Ấp – Champa, vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế là nơi thường xuyên diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa Lâm Ấp – Champa với các triều đại phong kiến Trung Hoa (thời Bắc thuộc, trước thế kỷ X), sau đó là với Đại Việt (từ thế kỷ X), trong đó vùng đất Quảng Bình là địa đầu của chiến tuyến37.

     Năm 1069, vua Champa là Rudravarman III (Chế Cũ) thất bại trong cuộc chiến với nhà Lý và đã bị bắt về Thăng Long, để chuộc mạng, Rudravarman III đã phải dâng hiến vùng đất 3 châu phía Bắc của Champa cho nhà Lý là Bố Chính, Địa Lý (cơ bản ứng với tỉnh Quảng Bình ngày nay) và Ma Linh (tương ứng với 2 huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, Quảng Trị ngày nay). Từ đó, vùng đất Quảng Bình ngày nay được sáp nhập vào biên giới Đại Việt, kết thúc sự tồn tại của vương quốc Champa trên vùng đất này.

2. Dấu ấn Phật giáo ở vùng đất Quảng Bình trước thế kỷ XI

     Trong thời kỳ Lâm Ấp – Champa (trước năm 1069), nếu như khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế là vùng phía bắc của vương quốc Champa, nơi thường xuyên xảy ra các cuộc giao tranh giữa Champa với Trung Hoa (trước thế kỷ XI) và Đại Việt (từ thế kỷ X trở về sau) thì Quảng Bình là vùng địa đầu của chiến tuyến, do đó sự phát triển về kinh tế sẽ có phần hạn chế, dân cư ít tập trung hơn, vì vậy mà số lượng các di tích Champa ở đây không nhiều bằng các khu vực ở phía Nam. Vả lại, vùng đất này sớm sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt cho nên nhiều di tích nhanh chóng bị mất dấu, trở thành phế tích. Theo thống kê của chúng tôi, hiện nay ở vùng đất Quảng Bình còn dấu vết của 4 thành – lũy và khoảng 8 di tích đền – tháp, đó là chưa kể đến nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá, bằng đồng đã được phát hiện từ đầu thế kỷ XX đến nay38 (Xem bảng 1). Những dấu tích văn hóa này có niên đại kéo dài từ thế kỷ IV đến thế kỷ giữa XI (1069), đã phản ánh sự thật lịch sử vương quốc Champa, đồng thời cho thấy sự phát triển về văn hóa (cả vật chất và tinh thần) của cư dân Champa ở vùng đất biên viễn này. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, với những kết quả nghiên cứu của các học giả người Pháp trước đây và Việt Nam sau này, ở vùng đất Quảng Bình, các di tích, di vật liên quan đến Phật giáo thời kỳ Champa có số lượng khá nhiều so với các vùng miền khác của vương quốc Champa (trừ vùng đất Quảng Nam), loại hình phong phú, đa dạng như di tích đền – tháp, bia ký, các tác phẩm điêu khắc bằng đá, đồng, được phát hiện trên nhiều khu vực ở Quảng Bình.

     Điều này phản ánh sự phát triển của văn hóa Champa ở Quảng Bình nói chung, Phật giáo ở vùng đất này nói riêng.

     2.1. Các di tích đền – tháp

     Ở Quảng Bình hiện nay còn hiện diện khoảng 8 di tích đền – tháp Champa, trong đó, có 2 di tích rất quan trọng liên quan đến Phật giáo, đó là Đại Hữu và Mỹ Đức.

     – Di tích Đại Hữu: tọa lạc tại cụm 3, thôn Đại Hữu, xã An Ninh, huyện Quảng Ninh hiện nay. Vị trí tọa lạc của di tích thuộc vùng bán sơn địa, gần núi Thần Đinh và sông Long Đại.

     Di tích này được linh mục P. Henri de Pirey khai quật trong ba năm 1918, 1922 và 192539, kết quả sơ bộ được L. Finot và V. Golubev công bố trong năm 192540 và sau đó được L. Aurousseau công bố đầy đủ trên BEFEO41. Cuộc khai quật đã làm xuất lộ nền móng của ba tháp chính/Kalan bằng gạch, đứng song song, thẳng trục, cách nhau khoảng 1.0m, mặt bằng đều có dạng hình vuông. Tháp A (tháp nam) có kích thước (5.95 x 5.95)m, lòng tháp rộng (3.0 x 3.0)m, cửa chính rộng 1.95m. Tháp B (tháp giữa) có kích thước nhỏ hơn, (5.50 x 5.50)m, lòng tháp rộng (3.0 x 3.0)m, cửa chính rộng 1.45m. Tháp C (tháp bắc) có kích thước (5.90 x 5.90)m, lòng tháp hẹp hơn hai tháp còn lại (2.90 x 2.90)m, cửa chính rộng 1.76m42. Khi khai quật tháp A (tháp Nam) và C (tháp bắc) đã phát hiện dấu vết của hố thiêng bên trong chứa các vật thiêng, liên quan đến nghi lễ Ấn Độ giáo.

Tượng Prajnaparamita bằng đá Đại Hữu [Nguồn: Finot L., Golubev V. (1925), PL LIV B]

Tượng Lokecvara mạ đồng Đại Hữu [Nguồn: Finot L., Golubev V.(1925) , PL LV A]

Tượng Avalokitesvara Đại Hữu tại BT Lịch sử Tp. HCM [Nguồn:http://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=37E04]

     Đáng chú ý, cuộc khai quật tại di tích này cũng tìm thấy nhiều hiện vật liên quan đến Phật giáo, rất có giá trị, tiêu biểu là: 01 tượng Phật (Budda) bằng đồng, cao 0.445m; 01 tượng Lokesvara bằng đồng, cao 0.335m; 01 tượng Prajnaparamita bằng đá, cao 0.65m; 01 tượng nhỏ của Lokesvara mạ đồng, cao 0.122m; 01 vật thờ cúng bằng kim loại, cao 0.082m; các mảnh vỡ của một bức tượng bằng sành khác và 01 mảnh vỡ Yoni (dài 0.29m, rộng phần trong 0.37m, phần ngoài 0.17m và cao 0.17m) có minh văn 2 mặt ở phần vòi, mỗi mặt 3 dòng. Nội dung minh văn ca ngợi sự thông minh, mạnh mẽ và lòng từ bi của Ratna – Lokesvara, sự giàu có của vua Jaya Sinhavarman, cũng như việc xây dựng một đền – tháp, thờ Ratna – Lokesvara ở vùng đất có tên gọi Vrddha – Ratnapura43.

     Hiện nay, di tích Đại Hữu đã trở thành phế tích, đa phần các hiện vật đã bị thất lạc. Trước đây, BT Điêu khắc Champa Đà Nẵng có lưu giữ một tượng Padmapani (Bồ tát Liên Hoa) bằng sa thạch, cao 0.97m, tạo hình trong tư thế đứng, hai tay cầm búp sen, đặt trên hai trụ đỡ, búi tóc vấn theo kiểu Jata – Mukuta và có thiết trí hình tượng Phật A Di Đà ở phía trước, niên đại thế kỷ IX – X nhưng đã bị mất năm 1988. BT Lịch sử Tp. HCM hiện đang trưng bày một tượng Phật bằng đồng44 và một tượng Quan thế âm Bồ tát (Avalokitesvara) bằng đồng45, niên đại thế kỷ IX – X, có nguồn gốc tại di tích Đại Hữu. Ngoài ra, tại BT Lịch sử Quốc gia cũng đang giữ một tượng Prajnaparamita bằng đá, cao 0.78m, cũng có nguồn gốc tại di tích này46.

     Dựa vào tài liệu bia ký và các tác phẩm điêu khắc, có thể khẳng định, khu đền – tháp Đại Hữu có một niên đại xây dựng dưới thời Jaya Sinhavarman (898 – 908), tức thế kỷ IX – X, nhằm cúng hiến cho Ratna – Lokesvara.

     – Di tích Mỹ Đức: Hiện nay tọa lạc trên một gò đất, cao hơn mặt bằng xung quanh khoảng 0.60 – 0.70m, thuộc đội 2, thôn Mỹ Đức, xã Sơn Thủy, huyện Lệ Thủy, thuộc địa hình đồng bằng, gần sông Cẩm Lý – một nhánh của Kiến Giang.

     Di tích này được P. Henri de Pirey khai quật trong những năm 1921 – 1922 nhưng không có báo cáo nào được công bố ngoài một vài thông tin từ tường thuật của các học giả người Pháp sau đó47. Kết quả khai quật cho thấy, khu đền – tháp Mỹ Đức gồm ba tháp chính/Kalan nằm thẳng hàng, phía trước có một tháp ba cửa (tháp cổng?) và một tháp ở phía nam, trong một vành đai vây quanh một phòng lớn nằm giữa trục của tổng thể. Những cơ sở bố trí như thế này gợi lại cùng một lúc các cơ sở ở Đại Hữu và cả những cơ sở ở Đồng Dương48. Cuộc khai quật cũng đã tìm thấy nhiều hiện vật thể hiện rõ tính chất Phật giáo của khu đền – tháp và thuộc cùng một phong cách với di tích Đại Hữu: 01 mảnh bia ký, không có niên đại, có hai thuật ngữ liên quan đến Phật giáo: Jagađhura và Abhayađa; 01 Garuda lớn bằng đá; 01 tượng Prajnaparamita bằng đá, 02 tượng Avalokitesvara bằng đá (01 tượng nam, 01 tượng nữ), 01 tượng bán thân Padmapani (Bồ tát Liên Hoa), 02 tượng Phật bằng đồng thau ngồi và một Maitreya (Đấng Từ bi) nhỏ bằng đồng, 01 mảnh trang trí hình sư tử bằng đồng49.

Tượng Avalokitesvara Mỹ Đức ở BT Guimet (Pháp) [Nguồn: Boisselier J. (1963)

     Cũng như Đại Hữu, hiện nay, Mỹ Đức đã trở thành phế tích, các hiện vật cũng bị phân tán nhiều nơi: BT Guimet (Pháp) – 01 tượng Lokesvara; BT Điêu khắc Champa Đà Nẵng – 01 tượng Garuda, 01 tượng Lokesvara (đã mất năm 1988); BT. Lịch sử Quốc gia – 01 tượng Maitreya, 01 mảnh trang trí hình sư tử; sưu tập David Weill – 01 tượng Prajnaparamita50, số còn lại không biết ở đâu?.

__________
22. Finot L. (1901), “La Religion des Chams d’après les monuments, étude suivie d’un Inventaire sommaire des monuments Chams de l’Annam”, BEFEO, Tome 1, pp. 25 – 26.

23. Anne-Valérie Schweyer (2009), Buddhism in Čampā, Vietnam: Histoire et perspectives contemporaines, Moussons.

24. Trần Kỳ Phương, Nguyễn Thị Tú Anh (2019), “Nhận thức mới về pho tượng bồ tát bằng đồng của đồng Dương: Laksmindra – Lokesvara, Prajnaparamita hay Tara?”, Tạp chí Phát triển Kinh tế – xã hội Đà Nẵng, Số 119 (2019), tr. 46-51.

25. Nguyễn Hữu Thông (2015), “Phật giáo Chăm – pa và vị trí của vùng đất Quảng Bình dưới triều đại Indrapura (thế kỷ IX – X), Liễu Quán tháng 5-2015”, chuyên đề “Những ngôi cổ tự trên đất Quảng Bình”, tr. 22-27.

26. Nơi hẹp nhất theo chiều chỉ xấp xỉ 50 km.

27. Khoảng 116,04 km.

28. Văn hóa Hòa Bình là nền văn hóa sơ kỳ đá mới ở Việt Nam nhưng công cụ mang kỹ thuật Hòa Bình thì phần bố nhiều quốc gia ở Đông Nam Á (“Phức hợp kỹ thuật Hòa Bình/technocomplex”). Nền văn hóa này có niên đại kéo dài từ khoảng 18.000 năm – 7.500 năm cách ngày nay. Địa bàn phân bố của văn hóa Hòa Bình rất rộng, từ các tỉnh phía bắc kéo dài đến tỉnh Quảng Trị hiện nay. Ở Quảng Bình, dấu vết văn hóa Hòa Bình phát hiện tại các hang Yên Lạc, Kim Bảng, Xóm Thón, Hang Trăn, Khe Tong, Xóm Thâm và Đức Thi.

29. Nguyễn Khắc Thái (2014), Lịch sử Quảng Bình từ Tiền sử đến cuối thế kỷ XIX, Đề tài KHCN cấp tỉnh, Quảng Bình, tr. 64.

30. Nguyễn Khắc Thái (2014), đã dẫn, tr. 73 – 74.

31. Đào Duy Anh (1997), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, Huế, Tr. 68 – 69.

32. Ngô Văn Doanh (2002), Văn hóa cổ Champa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr. 51; Lafont P.B (2014), Kingdom of Champa: Geographic – Population – History, International Office of USA, San Jose, California, USA, pp. 87.

33. Lafont P.B (2014), đã dẫn, pp. 87.

34. Stein R. A (1947), “Le Lin – Yi, sa localisarion, sa con tribution à la formation du Champa et ses liens avec la Chine”, Han – hiue Bullentin du Centre d’Etudes Sinologiques de Pékin, 2.1-3, Pékin, pp. 17 – 18.

35. Schweyer A. (2010), “The Birth of Champa”, Connecting Empires and States, Selected Papers from the 13th International Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists, Volume 2, Edited by Dominik Bonatz, Andreas Reinecke & Mai Lin Tjoa – Bonatz, NUS Press, Singapore, p.105.

36. Lafont P.B (2014), đã dẫn, pp. 90.

37. Trong các cuộc chiến tranh giữa Lâm Ấp và Trung Hoa, đáng chú ý nhất là cuộc chinh phạt Lâm Ấp của Đàn Hòa Chi (năm 446) và Lưu Phương (năm 605). Các cuộc đối đầu năm 605 đã diễn ra tại tỉnh Quảng Bình, không quá xa Ba Đồn. Một vị tướng có tên là Liu Fang/Lưu Phương đã đưa quân của ông ta đến sông Gianh, tiến đến Huế, tiến lên đèo Hải Vân và trong vòng 8 ngày đã đánh chiếm kinh đô của Lâm Ấp (có lẽ tại Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam hiện nay – NVQ) [Schweyer A. (2010), đã dẫn, pp. 111].

38. Nguyễn Văn Quảng (2018), Các di tích đền – tháp, thành – lũy Champa ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

39. Năm 1918, P. Henri de Pirey khai quật tháp A, năm 1922 và 1925 tiếp tục khai quật tháp B và C.

40. Finot L., Golubev V. (1925), “Fouilles de Dai Huu”, BEFEO, Tome 25, pp. 469 – 475.

41. Aurousseau L. (1926b), “Nouvelles fouilles de Đại-hữu (Quảng-bình, Annam)”, BEFEO, Tome 26, pp. 359 – 362.

42. Aurousseau L. (1926b), đã dẫn, pp. 390.

– Trong báo cáo của L. Finot và L.Golubev, kích thước của các nền móng có phần khác biệt so với báo cáo của L. Aurousseau. Theo bản vẽ của L. Finot và L.Golubev, kích thước của các nền móng tháp lần lượt là, A: (6.30 x 4.60)m, B: (5.45 x 5.30)m, C: (5.90 x 5.90)m [Finot L., Golubev V. (1925), đã dẫn, pp. 470].

43. Finot L., Golubev V. (1925), đã dẫn, pp. 471 – 472.

44. Tác phẩm này là một tượng Phật bằng đồng, đứng trên tòa sen, cao 0.45m, hai tay đang bắt ấn vô úy (Vitarva – mudra), tóc xoắn thành ba tầng, có mắt thứ ba trên trán (huệ nhãn/urna).

45. Tác phẩm được làm bằng đồng, thể hiện Quan Thế âm Bồ tát (Avalokitesvara) trong tư thế đứng, ngực nở, eo thon, mang nhiều trang sức ở tai, cổ, bắp tay, cổ tay, cổ chân,… khuôn mặt đầy đặn. Đôi mắt mở, tóc búi cao, đầu đội vương miện, chạm hình tượng Phật A Di Đà ngồi. Tượng có 4 tay, 2 tay sau hơi cong vào, một tay cầm quyển sách, 2 tay trước đưa ra cầm nụ sen và bình nước cam lồ. Kích thước: cao: 0.52m; ngang 0.30m. Tượng Avalokitesvara Đại Hữu đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 2599/QĐ-TTg, ngày 30/12/2013 công nhận là Bảo vật Quốc gia (đợt 2) [Trần Thị Diệu Hồng (2014), “Tượng đồng Avalokitesvara Chămpa Đại Hữu là bảo vật quốc gia”, TTKH & CN, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, tr. 70]. Tác phẩm này không thấy đề cập trong báo cáo của L. Finot và L. Aurousseau.

46. Tác phẩm này cũng không thấy đề cập trong báo cáo của L. Finot và L. Aurousseau.

47. EFEO (1918), “Chronique”, BEFEO N010, pp. 61; EFEO (1922), “Chronique”, BEFEO N022, pp. 372 – 375; Boisselier J. (1963), La statuaire du Champa, recherché sur cultes et L’Iconographie, Ecole Francaise D’extreme – orient, Paris, p.136; Finot L., Golubev V. (1925), đã dẫn, pp. 474 – 475.

48. Boisselier J. (1963), đã dẫn, pp. 136.

49. Boisselier J. (1963), đã dẫn, pp. 136 – 137.

50. Boisselier J. (1963), đã dẫn, pp. 136.

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phật giáo Quảng Bình xưa và nay

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)

     Còn tiếp: Mời Quý độc giả đón xem:

Phật giáo ở vùng đất Quảng Bình trước thế kỷ XI (Phần 2)
                         — sẽ cập nhật vào ngày mai —