Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231

Notice: WP_Block_Type_Registry::register được gọi là không chính xác. Tên blog phải chứa kí tự ngăn cách. Ví dụ: my-plugin/my-custom-block-type Vui lòng xem Hướng dẫn Debug trong WordPress để biết thêm thông tin. (Thông điệp này đã được thêm vào trong phiên bản 5.0.0.) in /home/thanh716/public_html/wp-includes/functions.php on line 5231
VĂN HOÁ PHÁP LUẬT của NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN ở nước ta hiện nay - THÁNH ĐỊA VIỆT NAM HỌC

VĂN HOÁ PHÁP LUẬT của NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN ở nước ta hiện nay

1. Văn hoá pháp luật của người chưa thành niên

     Nói tới văn hoá pháp luật là nói tới ý thức chấp hành pháp luật của con người, nói tới việc phát huy năng lực bản chất của con người trong các hoạt động pháp luật. Một đất nước phát triển là một đất nước trong đó nhân dân sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Tất cả mọi người dân đều phải có ý thức, trách nhiệm, thực hiện đúng những gì pháp luật đã đặt ra. Trong đó có cả những người ở độ tuổi chưa thành niên.

     Người chưa thành niên là người chưa đến tuổi trưởng thành, chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Ở Việt Nam, người ở độ tuổi chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Xử lí vi phạm hành chính năm 2013 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Trong độ tuổi này, các em hầu như chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình đã thực hiện. Nhận thức của các em thường non nớt, thiếu chín chắn, dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo bởi bạn bè xấu hoặc những người xung quanh. Đặc biệt kinh nghiệm sống và khả năng kiềm chế của người chưa thành niên còn hạn chế nên việc phạm tội của họ thường là bộc phát, nhất thời. Do vậy, người chưa thành niên là đối tượng có thể bị tác động dễ dàng hơn từ môi trường so với người đã thành niên.

     Ở bất kì chế độ nào, trẻ em – người chưa thành niên cũng luôn là đối tượng được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ. Vấn đề về sức khỏe, tri thức và văn hoá của các em luôn được coi là vấn đề cốt lõi của xã hội. Dưới thời phong kiến, vấn đề này cũng được đề cao, coi trọng. Bộ luật Hồng Đức (1483) cũng đã quy định rất rõ về nghĩa vụ của con cái đối với ông bà, cha mẹ: nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2); nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 38); nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà, cha mẹ (điều 511); nghĩa vụ che giấu tội cho ông bà, cha mẹ (các điều 9, 504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ, mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo; nghĩa vụ để tang ông bà, cha mẹ (điều 2).

     Về quan hệ thầy, trò, Bộ luật Hồng Đức cũng có ghi rõ: “Làm thầy và trò phải hết đạo… Học trò phải tôn kính thầy, chăm chỉ về đường thực học, lấy đức hạnh làm gốc”. Dưới thời nhà Mạc, học trò phải có bổn phận kính trọng thầy giáo. Luật Hồng Đức Thiện Chính thư (1541 – 1564) quy định: “khi gặp phải kính cẩn, lễ phép, không được khinh nhờn ngạo mạn”. Nếu coi thường không tôn kính thầy, thì chẳng những “học nghiệp không thành” mà còn “bị khép vào tội bất kính”, sẽ bị xử phạt bằng hình thức “roi vọt” và nộp tiền. Không chỉ với thầy dạy, nếu học trò vô lễ, xúc phạm nhân phẩm những người thân trong gia đình thầy cũng bị luật pháp trị tội. Luật còn quy định, thí sinh đi thi yêu cầu đầu tiên phải có đủ tư cách đạo đức học trò. Ví như: Để đủ điều kiện dự thi Hương, học trò phải được các xã trưởng “bảo kết” về tư cách đạo đức và phải nộp giấy “thông căn cước sắc” khai rõ lí lịch ba đời, không được giả mạo.

     Thời xưa, chúng ta rất ít gặp cảnh con cái cãi lời cha mẹ, hay cảnh học trò vô lễ với thầy giáo thì nay, những cảnh tượng này không hề hiếm, thậm chí còn xảy ra tràn lan. Điều dễ nhận thấy ở đây là những cách ứng xử cao đẹp xưa kia của những người con, người học trò ấy ở thời đại ngày nay đã ngày càng mai một. Phải chăng đa số lớp trẻ hiện nay không biết ứng xử thế nào để được coi là có văn hoá, đặc biệt là văn hoá pháp luật?

     Vậy văn hoá pháp luật của người chưa thành niên là gì? Cũng như nhiều khái niệm khác, để đưa ra một định nghĩa chuẩn về văn hoá pháp luật của người chưa thành niên là rất khó. Tuy nhiên, một cách chung nhất thì có thể hiểu văn hoá pháp luật của người chưa thành niên là tri thức, ý thức pháp luật của người chưa thành niên và những hành vi xử sự đối với các quan hệ pháp luật trong mối quan hệ xã hội của họ. Những yếu tố cấu thành văn hoá pháp luật của người chưa thành niên bao gồm:

     – Kiến thức pháp luật của người chưa thành niên: thể hiện ở sự hiểu biết, nắm vững nội dung một số văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Giao thông đường bộ; Luật Lao động; Luật Hình sự; Luật Hôn nhân gia đình;… Kiến thức pháp luật của người chưa thành niên được hình thành và phát triển thông qua hệ thống giáo dục đào tạo trong các trường lớp, qua các buổi tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật hoặc do quá trình tự tích luỹ nghiên cứu, học hỏi, tìm hiểu của người chưa thành niên.

     – Ý thức pháp luật của người chưa thành niên: thể hiện ở tình cảm và niềm tin của họ đối với pháp luật, khẳng định những giá trị pháp luật là quan trọng và cần thiết đối với xã hội, cũng như có ý thức giữ gìn, bảo vệ những giá trị ấy. Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của người chưa thành niên cũng đòi hỏi họ tự ý thức về sự cần thiết phải trau dồi nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, trình độ ứng xử phù hợp với các chuẩn mực pháp luật.

     – Hành vi hợp pháp của người chưa thành niên: thể hiện trước hết qua xử sự của họ trong đời sống nói chung và trong trường lớp nói riêng. Những biểu hiện về trình độ văn hoá pháp luật của người chưa thành niên trước hết là việc tôn trọng và tuân thủ các nội quy, quy định trong nhà trường, việc tôn trọng và chấp hành đúng các quy định pháp luật có liên quan, cũng như việc vận dụng các quy định pháp luật về các quyền của trẻ em để tự bảo vệ mình.

     Một vấn đề đặt ra là, có thước đo trình độ văn hoá pháp luật của người chưa thành niên không? Nếu có, thì thước đo đó là như thế nào? Thật khó có câu trả lời chính xác, song từ những bộ phận cấu thành nên ý thức pháp luật nói chung, có thể suy ra trình độ văn hoá pháp luật của người chưa thành niên thể hiện ở chỗ: thứ nhất, mức độ hiểu biết, mức độ nắm vững pháp luật của người chưa thành niên; thứ hai, ở hành vi xử sự có tuân thủ các quy định pháp luật của người chưa thành niên. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là các văn bản pháp luật thì nhiều (ngoài hiến pháp, còn có những bộ luật như dân sự, hình sự, lao động, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự,… và các đạo luật chuyên ngành như: hành chính, thương mại, đất đai, môi  trường,… cũng như hàng trăm các pháp lệnh, nghị định hướng dẫn khác). Hơn nữa, các văn bản đó lại được sửa đổi, bổ sung liên tục thì làm thế nào để một người ở độ tuổi chưa thành niên có thể nắm vững được nó? Đây là một vấn đề khá hóc búa đối với người ở độ tuổi chưa thành niên.

2. Sự cần thiết phải nâng cao văn hoá pháp luật cho người chưa thành niên

     Xác định trẻ em luôn là lực lượng tương lai của đất nước nên Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm giáo dục toàn diện cho thanh thiếu niên, nâng cao tri thức, trình độ văn hoá cho thanh thiếu niên. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh:“đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lí tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng nêu rõ: “Bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ.” Trên cơ sở chủ trương, chính sách nêu trên của Đảng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người chưa thành niên luôn được Nhà nước quan tâm, ban hành nhiều văn bản, đề án, chương trình về phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó người chưa thành niên luôn được xác định là đối tượng chính. Chẳng hạn, Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án: “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 – 2015”.

     Hiện nay, ở vào thời kì hội nhập nhiều em có ý chí vươn lên trong học tập, có hoài bão khát vọng lớn. Tuy nhiên, cũng dưới tác động của nền kinh tế thị trường, cơ chế mở cửa và do nhiều nguyên nhân khác, hành vi lệch chuẩn của các em có xu hướng ngày càng tăng. Một số hành vi vi phạm pháp luật của học sinh khiến gia đình và xã hội lo lắng như: vi phạm giao thông, đua xe trái phép, bạo lực học đường, quay cóp bài, mua điểm, cờ bạc, nghiện rượu, trong gia đình trẻ em thiếu kính trên nhường dưới, không vâng lời cha mẹ,… Một số hành vi lệch chuẩn khác về mặt đạo đức như: sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, vị kỉ,… cũng ngày càng nhiều hơn ở đối tượng còn ngồi trên ghế nhà trường. Chính vì vậy, việc giáo dục văn hoá pháp luật đối với người chưa thành niên là một vấn đề rất cấp thiết hiện nay.

3. Thực trạng văn hoá pháp luật của người chưa thành niên hiện nay

     3.1. Kiến thức pháp luật và ý thức tìm hiểu nghiên cứu pháp luật

     Nhìn chung, các em ở độ tuổi chưa thành niên đều có một kiến thức pháp luật nhất định. Điều này được thể hiện ở chỗ: thứ nhất, các em được học tập, nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến pháp luật trong nhà trường. Ở cấp tiểu học, mỗi tuần học sinh học một tiết đạo đức. Học sinh lớp 3 được dạy bài đạo đức tựa đề “Đoàn kết với thiếu nhi quốc tế”, học sinh lớp 5 học bài “Tìm hiểu về Liên hợp quốc”. Lên  cấp trung học cơ sở, các em được học môn giáo dục công dân. Học sinh lớp 7 học về “Bộ máy nhà nước cấp cơ sở”, học sinh lớp 8 học về “Quyền sở hữu tài sản”, học sinh lớp 9 học về “Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế”, “Quyền và nghĩa vụ công dân trong hôn nhân”,… Ở cấp trung học phổ thông, các em được học rất nhiều kiến thức về pháp luật và giáo dục công dân; thứ hai, người ở độ tuổi chưa thành niên thường là người có ý thức tự tìm tòi, học hỏi kiến thức tổng hợp về văn hoá – xã hội, trong đó pháp luật cũng được nhiều em chú ý. Đặc biệt là những quy định trực tiếp, khá sát sườn đối với các em như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Hôn nhân gia đình; Luật Giao thông đường bộ;… Bên cạnh đó còn phải kể đến việc các cơ quan, tổ chức, các cấp Đảng, chính quyền đã có nhiều nỗ lực, thường xuyên phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên. Điều này đã cho các em ít nhiều hình dung về chính sách pháp luật của Nhà nước.

     3.2. Những lỗi mà người chưa thành niên thường mắc phải

      Vì còn ở độ tuổi chưa thành niên, lứa tuổi vẫn đang còn ngồi trên ghế nhà trường, cái tuổi chưa trưởng thành cho nên người chưa thành niên còn non nớt cả về thể chất lẫn trí tuệ do đó họ rất dễ đua đòi, dễ bị lôi kéo, kích động. Tình trạng học sinh cá biệt ngày càng nhiều ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông cho thấy thực trạng đó. Những lỗi mà các em học sinh cá biệt hay mắc phải là: Thường xuyên vi phạm nội quy, nền nếp của trường lớp; không thuộc bài, không chuẩn bị bài; hút thuốc, uống rượu bia, cờ bạc; chửi thề, nói tục, đánh nhau, quậy phá; trốn học, nghỉ học không xin phép; học yếu kém, ở lại lớp, bỏ học; vô lễ với thầy cô, cha mẹ, người lớn,… Hiện nay có nhiều em có xu hướng thích làm đàn anh, đàn chị hay thích làm đại ca, thủ lĩnh, nổi đình nổi đám ở trong trường lớp. Bên cạnh đó, dưới tác động của những mặt trái của nền kinh tế thị trường và toàn cầu về văn hoá ngày càng sâu rộng cũng đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ tầng lớp học sinh có lối sống lệch lạc, sống thiếu lí tưởng, giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật; có lối sống thực dụng, đua đòi, lãng phí, có biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống, cá biệt có một số em sa vào tệ nạn xã hội, tội phạm. Theo thống kê của ngành Công an trong 3 năm gần đây (2010 – 2013) có 287 vụ án do người chưa thành niên gây ra. Giật mình hơn nữa, trẻ chưa thành niên phạm tội ở hầu hết các lĩnh vực: có 27 vụ giết người với 41 đối tượng tham gia, 44 vụ cướp tài sản với 79 đối tượng tham gia, 6 vụ hiếp dâm 1,… Nếu như trước đây, các đối tượng trong lứa tuổi chưa thành niên chủ yếu gây ra các vụ án trộm cắp vặt, đánh nhau gây thương tích hoặc gây rối trật tự công cộng, thì những năm qua, số vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng có dấu hiệu gia tăng và tính chất ngày càng phức tạp. Thậm chí, không ít trong số đó phạm một lúc 2 – 3 hành vi đặc biệt nguy hiểm như cướp của, giết người,… Tiêu biểu trong số đó có thể kể đến vụ Lê Văn Luyện giết người cướp của ngày 24/8/2011 tại tiệm vàng Ngọc Bích (xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang). Trong vụ án này, sát thủ Lê Văn Luyện đã giết chết vợ chồng chủ tiệm vàng cùng con gái nhỏ 18 tháng tuổi khi mới 17 tuổi. Hay vụ nữ sinh Nguyễn Thị Giang giết bạn học ở Hưng Yên mới 15 tuổi cũng là một trong không ít vụ án gây phẫn nộ trong dư luận.

     Ngoài ra, tình trạng vi phạm an toàn giao thông ở lứa tuổi học sinh đang diễn ra rất phổ biến. Hình ảnh các em đi xe máy đi học, không đội mũ bảo hiểm, kẹp ba, dàn hàng ngang trên đường, hay hình ảnh các em vừa đi xe máy dàn hàng ba bốn tham gia giao thông vừa vui vẻ tán chuyện… rất dễ bắt gặp. Hiện tượng một số em thiếu niên sử dụng ma tuý, thuốc lắc, xem và lưu giữ phim ảnh đồi truỵ, hành xử theo kiểu giang hồ, xã hội đen, đạo đức và lối sống xuống cấp; bạo lực gia đình, bạo hành trẻ em, bạo lực học đường,… đã không còn là hiện tượng hi hữu và thực sự đang là nỗi lo của toàn xã hội. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên:

     – Trước hết là sự thiếu hiểu biết về pháp luật của các em hiện nay. Như đã phân tích ở trên, ở lứa tuổi này các em còn đang ngồi trên ghế nhà trường, hàng ngày các em phải học rất nhiều kiến thức về văn hoá, ngoài việc học chính ở trường các em còn học thêm các môn ngoại khoá như kiến thức nâng cao, năng khiếu,… kiến thức pháp luật hầu như chưa được các bậc phụ huynh và các em quan tâm đến. Đối với những em phạm tội thì hầu như các em chưa nhận thức được hết hậu quả nguy hiểm về hành vi mà mình gây ra. Các em phạm tội do sự nông nổi, bộc phát hoặc do bị đối tượng xấu rủ rê lôi kéo, trong khi đó các văn bản, chính sách pháp luật thì nhiều, lại thường xuyên sửa đổi, bổ sung. Để nâng cao sự hiểu biết của các em về pháp luật quả là rất khó khăn.

     – Nguyên nhân từ phía gia đình – nhà trường – xã hội đã xô đẩy các em rơi vào vũng bùn tội lỗi. Trong đó, do bố mẹ quá mải mê trong công việc nên không có thời gian để trò chuyện với con; do bố mẹ quá nuông chiều, thoả mãn mọi nhu cầu của con và cho rằng thế là đã quan tâm, chăm sóc chúng một cách đầy đủ; quá kì vọng để buộc con phải đạt được những mục tiêu vượt xa khả năng của chúng, đặc biệt là trong học tập; trong việc dạy dỗ con mình thì trông chờ nhà trường với lời gửi gắm “trăm sự nhờ thầy cô”;… Những cách giáo dục như vậy của gia đình đã vô tình đẩy các em vào hoàn cảnh rất đáng thương, thiếu thốn tình cảm, khao khát được vui chơi, được quan tâm chia sẻ. Một số gia đình bắt con học quá nhiều đã dẫn đến tình trạng đứa trẻ mụ mẫm và vô cảm với mọi người xung quanh. Ngoài ra, tình trạng tổ ấm gia đình bị tan nát như: bố mẹ li hôn, li thân; bố mẹ sa vào các tệ nạn xã hội và sự thiếu gương mẫu của các bậc cha mẹ cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng phạm tội ở độ tuổi này. Bên cạnh đó, hình ảnh người thầy ít nhiều bị lu mờ trong nền kinh tế thị trường đầy biến động cũng là một nguyên nhân khiến các em không biết lấy đâu làm điểm tựa để phấn đấu, một khi vai trò của người thầy không còn được đề cao như trước thì việc giáo dục đạo đức, lối sống trong bộ phận học sinh hiện nay cũng là vấn đề rất đáng được quan tâm. Việc tuyển dụng giáo viên đang nặng về trình độ học lực, xem nhẹ lòng yêu nghề, chưa chú trọng rèn luyện kĩ năng sư phạm và nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo.

     – Công tác phòng ngừa tội phạm chưa được quan tâm đúng mức, điển hình là rất nhiều phụ huynh vô tình lục cặp sách của con em mình thì mới phát hiện ra có nhiều loại “vũ khí” như các loại dao, gậy, côn,… Khi hỏi ra thì các em trình bày do ở trường thường bị ăn hiếp, bị đánh nên mang theo để “tự vệ”. Cũng bởi những suy nghĩ và sự quan tâm không đúng mực mà có thể biến những em học sinh ngoan, trò giỏi thành tội phạm bất cứ lúc nào. Điển hình là trường hợp em Lê Thị Hà Trang, lớp 8B (sinh năm 1997 ở Mỹ Đức, Hà Nội) đã dùng dao để giải quyết mâu thuẫn với hai nữ sinh lớp bên, làm một bạn tử vong, một bạn bị thương nặng; em Trương Văn Lộc (sinh năm 1998, học sinh lớp 8D trường THCS Phổ Minh, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi) đã đâm chết bạn trong giờ ra chơi bằng con dao gọt hoa quả,…

     – Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên chưa thực sự có hiệu quả, công tác quản lí Nhà nước về văn hoá thông tin còn nhiều bất cập. Ngày nay, hệ thống truyền thông đang phát triển nhanh chóng, trẻ chưa thành niên có cơ hội tiếp cận nhiều nhưng hầu như lứa tuổi này không quan tâm đến các tin tức về việc xử lí những hành vi vi phạm. Ta thấy, nhiều clip được tung lên mạng về hành vi lột áo, đánh bạn học đã bị xử lí rất nhiều nhưng hàng tuần, hàng tháng vẫn có những trường hợp tương tự tiếp diễn.

     – Mức độ xử lí đối với hành vi phạm tội của người chưa thành niên còn thấp, chưa đủ mức răn đe, giáo dục. Chẳng hạn, khoản 5, Điều 69, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 quy định: “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội”. Điều 74, Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi năm 2009): “1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định; 2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.

___________
1. http://baobariavungtau.com.vn/phap-luat/201311/bao-dong-tinh-trang-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-419412/.

4. Một số giải pháp nâng cao văn hoá pháp luật cho người chưa thành niên hiện nay

     Để nâng cao văn hoá pháp luật cho người chưa thành niên cần kết hợp thực hiện một số giải pháp sau:

     Thứ nhất, cần phải triển khai thường xuyên chương trình tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật nên thực hiện thông qua buổi họp, sinh hoạt tại các câu lạc bộ tại nơi cư trú, trong trường học hoặc tổ chức giao lưu, sinh hoạt văn hoá, nêu gương người tốt, việc tốt trong phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, phân tích những hành vi cực đoan, vi phạm pháp luật ảnh hưởng xấu đến bản thân, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, khuyến khích các em ở cơ sở tham gia vào Đội thanh niên xung kích, tham gia tuần tra, canh gác, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn cùng lực lượng Công an xã, phường; tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông, kiềm chế ùn tắc giao thông cùng lực lượng Cảnh sát giao thông. Ngoài ra, các bộ, ngành, địa phương chú trọng việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phổ biến pháp luật; in các tài liệu pháp luật và cấp phát cho các em; tổ chức các chiến dịch, đợt cao điểm nhằm hướng các em tham gia vào các hoạt động giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội (mại dâm, ma tuý, cờ bạc, đua xe trái phép,…). Nhà trường hoặc các cơ quan chức năng ở địa phương cũng nên tổ chức cho các em đi tham quan một số nơi như trại giáo dưỡng, trại cai nghiện, nhà tù,… để các em “thấy mà sợ” và “sợ mà tránh”.

     Việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cần tập trung vào đối tượng có nguy cơ vi phạm pháp luật cao. Đối tượng có nguy cơ vi phạm pháp luật cao thường là những em sống trong gia đình, khu vực đặc biệt như: trẻ em có trình độ học vấn thấp (do bỏ học sớm); gia đình có bố mẹ li hôn, bố mẹ phạm tội, hoặc bố mẹ là những “con buôn”, chủ lô đề, cờ bạc;… đây là những đối tượng rất dễ vi phạm pháp luật do bị tác động bởi hoàn cảnh.

     Thứ hai, cần phải có sự liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội, tạo môi trường phát triển lành mạnh, trong sạch, bảo vệ các em trước những tệ nạn xã hội, những thói hư tật xấu, tránh xa những cạm bẫy và phát triển một cách bình thường. Hơn ai hết bố mẹ phải là người gần gũi với các em nhất để quan tâm, động viên và kịp thời uốn nắn những lệch lạc nếu có. Bố mẹ phải là gương để các em soi hàng ngày. Bố mẹ phải có trách nhiệm tạo mái ấm hạnh phúc cho các em. Còn về phía nhà trường, cần đề cao hơn nữa tầm quan trọng của môn học giáo dục công dân, Nhà nước và pháp luật trong các cấp học, bậc học. Nhà trường xây dựng môi trường giáo dục chuẩn mực là nơi các em có thể học tập và chia sẻ tâm tư tình cảm, nơi nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng sẽ giúp các em vững bước trên đường đời. Trẻ con thường hay bắt chước và cũng luôn coi thầy cô là thần tượng cho nên các thầy cô phải là tấm gương sáng để các em noi theo, tinh thần vượt khó tự học tự rèn, hết lòng vì học sinh, lối sống gương mẫu, ý thức kỉ luật, năng lực chuyên môn của người thầy đã, đang và mãi mãi có sức hút lớn nhất, mạnh mẽ nhất, cao quý nhất đối với tất cả các em học sinh. Vì thế, hơn ai hết, các thầy cô giáo phải là những người tiên phong trong việc giáo dục lối sống, đạo đức, pháp luật cho các em.

     Thứ ba, cần thiết lập một hệ thống tư vấn giáo dục học đường ở trường học và tư vấn cho người chưa thành niên ở các tổ chức Đoàn – Hội, các nhà văn hoá, câu lạc bộ,… để các chuyên viên tư vấn lắng nghe, chia sẻ và can thiệp kịp thời các vấn đề mà các em đang gặp phải từ thực tế cuộc sống, giúp các em bình tâm, lấy lại thăng bằng và nhìn nhận được các giá trị sống tốt mà bản thân mỗi em trước đây chưa nhận thức được do sự giáo dục khiếm khuyết, lỏng lẻo của gia đình, do ảnh hưởng của môi trường sống phức tạp xung quanh mình mà các em chưa có đủ nghị lực vượt qua những khó khăn của bản thân.

     Thứ tư, các cơ quan xét xử tư pháp nên đặc biệt chú ý đến lứa tuổi chưa thành niên, vì gần đây lứa tuổi này phạm tội ngày càng nhiều. Toà án nên lấy những vụ án nghiêm trọng, điển hình mà người phạm tội là người ở độ tuổi chưa thành niên đưa ra xét xử lưu động tại các cơ sở đào tạo. Một mặt tuyên truyền phổ biến pháp luật, một mặt mang tính răn đe giáo dục các em. Qua đó các em sẽ hiểu được hành động như bạn ý sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng như thế nào, hành vi ấy là trái pháp luật, hành vi ấy sẽ bị pháp luật trừng trị và hành vi ấy sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tương lai sau này của các em.

5. Kết luận

     Một lối sống cao đẹp cho giới trẻ là rất cần thiết trong bất kì thời đại nào. Muốn vậy điều đầu tiên là phải xây dựng được môi trường sống mang tính nhân văn cao – một xã hội học tập – năng động và sáng tạo. Ở đó, các em sớm được rèn luyện, thử thách để hình thành các phẩm chất cá nhân tốt đẹp. Để hình thành nên phẩm chất cá nhân trước hết và quan trọng nhất là sự tự thân vận động và phụ thuộc vào kinh nghiệm của bản thân, sự chín muồi về cuộc sống của các em. Bên cạnh đó, sự quan tâm, chăm sóc từ phía gia đình, nhà trường và xã hội cũng rất quan trọng. Cần kết hợp ba yếu tố rộng lớn là gia đình, nhà trường và xã hội, nhỏ là gia đình và lớp học – để học sinh được học tập và rèn luyện trở thành những công dân có tài và có đức, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Để đạt được điều đó, vấn đề nâng cao trình độ văn hoá pháp luật cho các em là việc làm hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay.

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

2. Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989.

3. Nguyễn Sỹ Giác, Hồng Đức Thiện chính thư, NXB Nam Hà, Sài Gòn, 1959.

4. http://tinhdoancamau.com.vn/home/?74642c6d72652c3334322c7067652c.

5. http://www.moj.gov.vn/pbgdpl/Lists/TraoDoiKinhNghiem/View_Detail.aspx? ItemID=24.

6. http://www.bentre.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1107:   tng-cng- giao-dc-phap-lut-va-o-c-trong-cac-nha-trng&catid=69:i-mi-phng-phap-dyhc&Itemid =96.

7. Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004.

8. Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Sử học, Cổ luật Việt Nam Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1991.   

PHẠM THỊ HUYỀN 1

__________
1. ThS, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.