Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam
NON-VERBAL IN VIETNAMESE CLASSIC LITERATURE CONCEPTION
Tác giả bài viết: Thạc sĩ LÊ ĐẮC TƯỜNG
(Trường THPT Duy Tân, Kon Tum)
TÓM TẮT
Vô ngôn trở thành một quy tắc mỹ học Trung Hoa và các nước thuộc khu vực văn hóa chữ Hán. Đề cao vô ngôn trong văn chương là quan niệm văn học xuyên suốt thời cổ điển Việt Nam. Vô ngôn không đơn thuần là không lời mà hàm chứa tất cả, tạo nên cảnh giới cao nhất của cái đẹp trong văn chương.
Từ khóa: vô ngôn, Thiền Lão…
ABSTRACT
Non-verbal becomes an aesthetic rule of China and sinology culture influenced countries. Non-verbal notion is highly recommended throughout Vietnamese classic literature. The notion doesn’t completely means that it is wordless, but it contains all of meanings which can make up the highest realm of beauty in literature.
Keywords: non-verbal, Chan Lao…
x
x x
1. Đặt vấn đề
Quan niệm trong văn học cổ điển Việt Nam tuy không phong phú và có những công trình đồ sộ như của Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác, nhưng trong suốt gần mười thế kỷ, ông cha ta đã rất có ý thức về văn học và đã có nhiều ý kiến cụ thể, rất có giá trị về văn học. Văn học cổ điển Việt Nam nói chung và quan niệm văn học nói riêng, bên cạnh những yếu tố mang bản sắc Việt, còn chịu ảnh hưởng từ các quan niệm mỹ học của Trung Hoa, trong đó Nho giáo và Thiền Lão là tiêu biểu.
Thiền Lão là một khái niệm mà nội hàm ẩn chứa cả tư tưởng Thiền tông và Lão Trang xét trên bình diện những điểm tương đồng vi diệu của hai tư tưởng này. Từ góc độ mỹ học, trong quá trình tịnh hành, hòa hợp Thiền Lão đã tạo ra những phạm trù mỹ học độc đáo và có sức ảnh hưởng sâu rộng, tiêu biểu như: Tự nhiên, Hư tĩnh, Tiêu dao, Bình đạm, Vô ngôn. Trong giới hạn cho phép, bài viết chỉ nghiên cứu phạm trù mỹ học vô ngôn với ba nội dung cơ bản: Quan niệm vô ngôn trong tư tưởng Thiền Lão; Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ Trung Quốc; Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam.
2. Quan niệm vô ngôn trong tư tưởng Thiền Lão
Lão Trang và Thiền tông thống nhất quan niệm về ngôn ngữ. Cả hai đều coi trọng cái “ngoài” ngôn ngữ, cái “sau” ngôn ngữ. Vì ngôn ngữ chỉ là phương tiện, không thể biểu đạt được hết và không thể đưa con người đến được với Đạo với chân lý giác ngộ. Chính vì thế Thiền Lão coi trọng vô ngôn. Vô ngôn được hiểu là không lời, không nói, không văn tự. Tuy nhiên, vô ngôn không chỉ đơn giản như thế, bởi trong đó hàm ẩn rất nhiều ý nghĩa tinh tế, uyên áo được rút ra từ quan niệm “Bất ngôn chi giáo” của Lão Tử, “Đắc ý vong ngôn” của Trang Tử và quan niệm “Bất lập văn tự” của Thiền tông.
Lão Tử chủ trương vô vi, “Bất ngôn chi giáo” cũng là một trong những biểu hiện của vô vi, trong Đạo Đức kinh, Lão Tử hai lần đề cập đến câu này. Ở chương 2, ông nói: “… Xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo” (Dùng vô vi mà xử sự, dùng phương pháp không lời mà dạy dỗ) [1, tr 144], đến chương 43, ông lại nói: “Bất ngôn chi giáo, vô vi chi ích, thiên hạ hi cập chi” (Dạy bảo mà không cần đến lời nói, sự lợi ích của vô vi, trong thiên hạ ít ai theo kịp)[1, tr 215]. Cả hai lần nói về “Bất ngôn chi giáo”, Lão Tử đều gắn với vô vi. Như vậy phương pháp không dùng lời nói để giáo hóa là cách đến được với vô vi, với tự nhiên, với đạo. Đạo không thể dùng lời để miêu tả “Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh”, vì thế chỉ có “Bất ngôn chi giáo” mới có thể hình dung, tiếp cận được Đạo. Đó là một trong những lý do mà Lão Tử chủ trương “Bất ngôn chi giáo”. Cái học về Đạo là dĩ tâm truyền tâm vì vậy không thể dùng lời mà chỉ có thể cảm thông. Cho nên Lão Tử bảo: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” (biết thì không nói, nói là không biết). Đây là một trong những nét nghĩa của vô ngôn. Đạo học là tâm học, vì vậy không thể dạy được bằng lời nói, chỉ có thể dùng lời để khêu gợi, người học đạo phải tự mình tìm ra chân lý. Bởi vậy, Lão Tử lại nói: “Đa ngôn sổ cùng, bất như thủ trung” (Nói nhiều bao nhiêu cũng không sao nói hết được, thà là giữ lấy mực trung)[1, tr 58]. Đây là nét nghĩa tiếp theo của vô ngôn. “Bất ngôn chi giáo” còn được Lão Tử nói cách khác: “Hy ngôn tự nhiên”. Ít nói để tự nhiên, nói mà như không nói, đó cũng là một nét nghĩa nữa của vô ngôn.
“Bất ngôn chi giáo” của Lão Tử với những nét nghĩa hàm chứa trong phạm trù vô ngôn cũng đã được Trang Tử quan niệm. Thiên Đức phù sung trong Nam Hoa kinh là thiên mà Trang Tử dùng để giải nghĩa “Bất ngôn chi giáo” của Lão Tử. Giống như Lão Tử, Trang Tử cho rằng, không dùng lời để dạy mà dân tự hóa mới là mục đích, mới thực sự là vô vi: “ Đức sung ư nội, nhi nhơn hóa ư ngoại, tự nhiên cảm hóa bất đãi giáo ngôn giả dã” (Đức mà đầy đủ nơi trong, thì người ở ngoài được hóa, tự nhiên được cảm hóa, không cần phải dùng đến lời mà dạy). Ông cũng cho rằng, Đạo không thể diễn tả bằng lời, chỉ có thể dĩ tâm truyền tâm, vì thế ông nói: “Kẻ hỏi Đạo cũng như người đáp lại đều là những kẻ không hiểu về Đạo”[2, tr 271]. Đặc biệt, Trang Tử đã thống nhất với Lão Tử về “bất ngôn” khi ông chủ trương “vong ngôn”. Ông cho rằng, ngôn ngữ chỉ là phương tiện để đạt được chân lý, khi đạt được chân lý rồi thì quên ngôn ngữ đi: “Dùng đó là để bắt cá, được cá rồi thì nên quên đó đi. Dùng lưới để bắt thỏ, được thỏ rồi thì nên quên lưới đi. Dùng lời là để diễn ý, hiểu được ý rồi thì nên quên lời đi”[2, tr 229]. Bất ngôn của Lão Tử hay vong ngôn của Trang Tử đều có những nét nghĩa của vô ngôn như đã nói ở trên. Thiền tông được xem là sản phẩm của cuộc gặp gỡ diệu kỳ giữa Phật giáo Ấn Độ và Lão Trang. Bởi vậy, Thiền tông mang tinh thần vô ngôn ở cả hai.
Tinh thần vô ngôn trong Phật giáo Ấn Độ thể hiện ở hai điểm. Thứ nhất, khi đã thành Phật và sau hơn 40 năm thuyết pháp, trước khi nhập niết bàn, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy các đệ tử rằng: Ta chưa nói lời nào. Phật còn dạy: “Nhất thiết tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ”. Hai lời dạy của đức Phật thể hiện rõ quan niệm vô ngôn trong tư tưởng Phật giáo nguyên thủy. Thứ hai, trong nhiều câu chuyện về Phật giáo, sự tích niêm hoa vi tiếu được nhiều người biết đến. Trong sự tích này, đức Phật không nói một lời nào, chỉ đưa cành hoa lên trước đại chúng, nhưng đại trưởng lão Ma ha Ca diếp mỉm cười. Đây là tiền thân của phương pháp dĩ tâm truyền tâm mà sau này Thiền tông đã kế thừa. Sự tích này cũng đã nói lên quan niệm vô ngôn trong Phật giáo.
Đến Thiền tông, với hai biểu hiện của vô ngôn như đã nói của Phật giáo Ấn Độ cùng với quan niệm vô ngôn của Lão Trang với “bất ngôn chi giáo” của Lão Tử và “đắc ý vong ngôn” của Trang Tử đã hình thành quan niệm “bất lập văn tự”. Quan niệm này hàm chứa tất cả ý nghĩa vô ngôn như đã trình bày ở trên. Từ đó vô ngôn trở thành quan niệm hết sức uyên áo của Đạo học phương Đông, sức ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn không chỉ về mặt tư tưởng mà còn trong lĩnh vực nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, đặc biệt là văn chương.
3. Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ Trung Quốc
Nghệ thuật phương Đông nói chung và văn chương nói riêng thường chú trọng cái ở ngoài lời, vừa giàu tính liên tưởng, vừa hàm chứa nhiều tầng nghĩa vừa khơi gợi trí tưởng tượng, sự khám phá nơi người đọc. Cho nên, ý nghĩa của văn chương, đặc biệt là trong thơ, không phải là cái biểu hiện trên bề mặt ngôn ngữ mà là ở khoảng không im lặng, ở chỗ không lời. Cái làm nên vẻ đẹp của tác phẩm văn chương không phải là nói ra đầy đủ, mà phải làm như thiếu sót, bỏ quên,…Một nghệ sĩ có tài cần phải biết im lặng, bỏ lửng, tạo tính mơ hồ,… Có như vậy, từ chính khoảng trống im lặng đó, ý nghĩa của văn chương mới vươn đến cảnh giới vô hạn.
Trung Quốc là trung tâm của nghệ thuật phương Đông, từ ảnh hưởng của Thiền Lão, quan niệm vô ngôn trong văn học cổ nói chung và trong quan niệm văn học nói riêng rất được quan tâm.
Ngay từ thời Ngụy Tấn, thời kỳ được xem là giai đoạn khởi phát và hình thành nền lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, quan niệm vô ngôn đã được Lục Cơ đề cập. Và từ đó quan niệm này dần trở thành tiêu chuẩn nghệ thuật cơ bản vào thời Đường, Tống và kéo dài cho đến thời nhà Thanh.
Mở đầu Văn phú, Lục Cơ viết: “Hằng hoạn ý bất xứng vật, văn bất đãi” (thường lo ý không xứng với vật, văn không theo kịp ý), ông lại nói: “Chí ư thao phủ phạt kha, tuy thủ tắc bất viễn, nhược phù tùy thủ chi biến, lương nan dĩ từ đãi” (Đến như cầm rìu đẽo cán, dẫu mẫu mực chẳng xa, nhưng mỗi tay mỗi khác, từ ngữ thì khó mà theo kịp để truyền đạt)[5, tr 41]. Hai câu mở đầu của Văn phú đề cập đến vấn đề ngôn ngữ trong văn chương, đều nói về “ngôn bất tận ý”.
Tương tự, Đào Uyên Minh, nhà thơ nổi tiếng thời Đông Tấn cũng có quan niệm về “ngôn bất tận ý”, ông nói “thử trung hữu chân ý, dục biện dĩ vong ngôn” (trong lòng có chân ý muốn nói e không đủ lời)[Dương Minh, 8, tr 73].
Lưu Hiệp, Chung Vinh là hai nhà lý luận có thể xem là đặt nền móng cho nền lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc cũng đề cao quan niệm vô ngôn.
Với Lưu Hiệp đó là quan niệm “ý tại ngôn ngoại” trong thiên Ẩn tú và Thể tính. Theo Lưu Hiệp, tinh hoa của văn chương là ở ẩn và tú. Ông quan niệm: “Ẩn dã giả, văn ngoại chi trọng chi giả dã; tú dã giả, thiên trung chi độc bạt giả dã” (Ẩn là cái nghĩa ngoài văn, tú là cái nổi bật trong toàn bài. Ẩn khéo ở chỗ có nhiều hàm nghĩa, tú hay ở chỗ đẹp hơn bình thường)[4, tr 446]. Như vậy ẩn, tức là ý tại ngôn ngoại, là tinh túy của văn chương, tạo nên dư vị vô cùng trong văn chương. Cũng từ đó, tạo ra phong cách “viễn áo”, một trong tám loại phong cách văn chương theo quan niệm của Lưu Hiệp. Theo ông, phong cách viễn áo thể hiện ở sự ẩn ý, thâm sâu ngoài ngôn ngữ và phong cách này học theo lối huyền học của Đạo gia: “viễn áo là sâu xa, ý ẩn không lộ rõ, văn thái mẫu mực, học theo lối huyền diệu của Đạo gia”[4, tr 337].
Chung Vinh, trong Thi phẩm, cũng đã bàn đến vô ngôn ở góc độ “ý tại ngôn ngoại”. Khi bàn về thơ tứ ngôn, ông nói: “Phù tứ ngôn, văn ước ý quảng” (Phàm thể thơ tứ ngôn lời ít ý nhiều)[12, tr 50]. Luận về thơ, ông cho rằng thơ gồm có ba nghĩa là hứng, tỷ, phú. Trong đó ông cho rằng hứng là “ngôn bất tận ý”: “Văn dĩ tận nhi ý hữu dư, hứng dã” (Lời tuy hết mà ý vô cùng)[12, tr 52]. Bình phẩm về cổ thi, Chung Vinh cho rằng: “Kỳ thể nguyên xuất ư Quốc phong. Lục Cơ sở nghĩ thạo tứ thủ, văn ôn dĩ lệ, ý bi nhi viễn, kinh tâm động phách, khả vị cô hồ nhát tự thiên kim” (Cổ thi khởi nguồn từ Quốc phong trong Kinh thi. 14 bài do Lục Cơ mô phỏng, lời ôn hòa đẹp đẽ, ý bi thiết xa xăm, đọc lên khiến người đọc hồn xiêu phách lạc, có thể nói một chữ đáng giá ngàn vàng). Lời nhận xét này có hai ý, một là ý bi thiết xa xăm là nói đến ý ở ngoài lời. Hai là một chữ đáng giá ngàn vàng, chữ (tự), ở đây không phải là mặt chữ mà là giá trị ý nghĩa của chữ đó. Điều đó có nghĩa là Chung Vinh đề cao cái giá trị bên kia của ngôn từ, đề cao “ý tại ngôn ngoại”.
Đến đời Đường, vô ngôn là một trong những đặc trưng của ngôn ngữ thơ Đường, thể hiện ở phương thức “gợi, không tả”, ở “khoảng lặng, mờ” “ngôn hữu hạn, ý vô cùng”,… Một số thi nhân thời Đường như Tư Không Đồ, Thích Hiệu Nhiên,… đã bày tỏ quan niệm trực tiếp về vấn đề này. Đó cũng là cách nói “tượng ở ngoài tượng, cảnh ở ngoài cảnh” của Tư Không Đồ khi bàn về tính hàm súc của thi ca: “Cảnh của nhà thơ tuyệt vời như cảnh mặt trời Lam Điền chiếu soi ấm áp, như ngọc tốt nhả khói mơ màng, có thể nhìn thấy nhưng không thể đặt nó ngay ở trước mắt được”. Đồng thời ông cũng cho làm văn phải “vận ngoại chi chi” (phải đạt đến chỗ tuyệt diệu ở ngoài vần), “vị ngoại chi chỉ” (ý vị ở ngoài vị)[10, tr 192-194]. Thích Hiệu Nhiên khi luận thơ cũng có quan niệm “ý tạo ngôn ngoại”. Ông quan niệm: “Tác dụng của thơ là xuất ý phải hiểm, đặt câu phải khó, tuy phát từ lòng ta nhưng biểu hiện như thần. Đến như những câu thơ có cốt cách cao vời vợi tranh quyền Tạo hóa thì chỉ có thể cảm được ý sâu xa chứ không thể nói rõ hình trạng, riêng người viết ra nó mới biết mà thôi.” Ông lại cho rằng “thơ của Khang Lạc đạt đến cực điểm, phải chăng được đạo của Không vương trợ giúp”. Từ đó ông đưa ra quan niệm: “Hai lời trên đều là ý tại ngôn ngoại, nếu gặp được bậc cao thủ như ông Khang Lạc lãm sát thì chỉ cần nhận biết bản ý bên trong, không cố chấp câu chữ bên ngoài, vì đã đạt đến cực điểm của đạo”[Cố Dịch Sinh, 8, tr 161].
Đến đời Tống, vô ngôn đã trở thành tiêu chuẩn nghệ thuật cơ bản. Trong Thương Lang thi thoại, Nghiêm Vũ có nói “ngôn hữu tận nhi ý vô cùng” khi ca ngợi các thi nhân thời thịnh Đường: “Các thi nhân thời thịnh Đường riêng ở chỗ hứng thú, như linh dương móc sừng lên cây, không thấy dấu vết. Cho nên thơ ấy đạt đến chỗ kỳ diệu, thấu triệt lung linh không thế dò được. Như âm thanh không trung, sắc màu hình tướng, vầng trăng đáy nước, bóng dáng trong gương, lời đã hết mà ý vô cùng”[5, tr 112].
Trong Lục nhất thi thoại của Âu Dương Tu có dẫn lời của Mai Nghiêu Thần: “Hàm bất tận chi ý, kiến ư ngôn ngoại, nhiên hậu chí hỉ” (hàm chứa ý nghĩ sâu xa, bộc lộ ra ngoài lời nói đạt đến sự mong muốn)[6, tr 591]. Dù là dẫn lời, nhưng qua đó cho thấy Âu Dương Tu rất coi trọng “ý tại ngôn ngoại” trong văn chương. Chính ông đã ca ngợi thơ Mai Nghiêu Thần là ý tứ sâu rộng, tinh tế, thâm sâu khi ông luận thơ của Mai Nghiêu Thần, Tô Tuấn Khâm: “Thánh Du, Tử Mĩ nổi danh ở thơ, mà hai nhà thơ này khác nhau về thể, Tử Mĩ bút lực mạnh mẽ, tung hoành ngang dọc lạ kỳ, Thánh Du ý tứ sâu rộng, tinh tế, lấy thâm sâu nhàn đàm làm ý. Mỗi người đều có cái hay riêng chỉ có thể luận bàn những điểm hay, không thể phẩm bình hơn kém”[Cố Dịch Sinh, 8, tr 186].
Đến đời Thanh có thuyết Thần vận của Vương Sỹ Chân cũng bày tỏ quan niệm “ý tại ngôn ngoại” trong văn chương. Kế thừa quan niệm thần vận của các tác giả trước với đặc trưng là “Hàm súc thâm viễn, ý dư ngôn ngoại”, Vương Sĩ Chân xây dựng thuyết Thần vận với yêu cầu về phong cách: “tự nhiên, siêu diệu, hàm súc tuyển vĩnh” (tự nhiên, siêu việt, kỳ diệu, hàm súc, ý vị sâu xa)[5, tr 132].
Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ Trung Quốc từ thời Ngụy Tấn đến thời Thanh không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà theo thời gian, vô ngôn đã trở thành lý tưởng thẩm mỹ, phong cách nghệ thuật và trở thành nét truyền thống trong văn học cổ Trung Quốc. Về mặt mỹ học, vô ngôn ở Trung Quốc có ảnh hưởng đến “yosei” (dư tình) của Nhật Bản. Yosei xuất hiện ở Nhật Bản từ thế kỷ XI và trở thành khái niệm quan trọng, cơ bản nhất của nền mỹ thuật và văn học Nhật Bản. Theo tiếng Hán thì khái niệm này có nghĩa là “cái tình ý còn dư ba” hay là “hàm ý”. Dư tình còn được hiểu như là “ý ở ngoài lời”. Như vậy vô ngôn của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến dư tình của Nhật Bản. Cả hai cơ bản có cùng một ý nghĩa và đều có sự ảnh hưởng lan tỏa rộng lớn.
4. Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam
Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam biểu hiện khá đa dạng và xuyên suốt. Vì vậy, để có cái nhìn tương đối toàn diện, chúng tôi tìm hiểu quan niệm vô ngôn trong văn học cổ điển trên hai thời kỳ. Thời kỳ văn học thời Lý, Trần gắn với kiểu tác giả Thiền sư, quý tộc. Thời kỳ văn học từ Hậu Lê đến Nguyễn, gắn với kiểu tác giả nhà văn-nhà nho.
4.1. Quan niệm vô ngôn trong kiểu tác giả Thiền sư, quý tộc thời Lý, Trần
Kiểu tác giả Thiền sư, quý tộc ở đây chỉ giới hạn ở một số tác giả mà trong thơ văn của họ có đề cập đến quan niệm vô ngôn. Quan niệm “vô” trong Thiền tông hết sức uyên áo, nhiều sắc thái như vô tâm, vô niệm, vô ngã, vô tướng, vô pháp, vô lự, vô sự,… Vô ngôn cũng là một đặc sản của Thiền tông. Thiền tông không dùng lời nói làm phương tiện để dạy dỗ, truyền đạo, Thiền tông dĩ tâm truyền tâm, vì vậy vô ngôn là quan niệm cốt tử của các Thiền sư.
Ni sư Diệu Nhân và Tuệ Trung Thượng sĩ đồng quan niệm khi cho rằng, dùng lời nói làm phương tiện để cầu Thiền, niệm Phật là mê lầm. Vô ngôn mới thật sự quan trọng để đạt được cảnh giới cao nhất, mới giác ngộ, đạt đạo. Ni sư Diệu Nhân, trước khi viên tịch đã thấu được lẽ sinh, lão, bệnh, tử của đời người. Dù là người đứng đầu dòng Thiền Nam phương, quan niệm về Phật và Thiền của Ni sư mang tính phá chấp, chỉ có vô ngôn mới có được giải thoát, mới là Thiền, là Phật:
Mê chi cầu Phật,
Hoặc chi cầu Thiền.
Thiền Phật bất cầu,
Đỗ khẩu vô nghiên (ngôn)
(Thị tịch kệ)
Dịch thơ:
Vì lầm cầu Phật… thế thôi
Cầu Thiền bởi trót mê lời u mê
Cầu Thiền cầu Phật mà chi
Ngồi im chả nói năng gì là hơn
(Nguyễn Duy dịch)
Cũng với tinh thần phá chấp đó, trong bài thơ Ngẫu tác (I), Tuệ Trung Thượng sĩ đã gắn vô ngôn với sự an nhiên, tự tại, tiêu dao của một con người đã thoát tục, ngộ đạo. Với Tuệ Trung, đã vô ngôn ( ngộ đạo) rồi thì không cần quan tâm bất kỳ thứ gì, kể cả Thiền, Phật:
Ðường trung đoan tọa tịch vô nghiên,
Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên.
Tự thị quyện thời tâm tự tức,
Bất quan nhiếp niệm bất quan thiền.
(Ngồi ngay giữa nhà lặng yên không nói,
Nhàn nhã ngắm một làn khói bay lên trên núi Côn Luân.
Khi nào tự thấy mệt mỏi thì tâm tự nghỉ ngơi,
Không cầu niệm cũng không cầu thiền.)
Chính quan niệm vô ngôn, nên dĩ tâm truyền tâm là phương thức duy nhất để Thiền tồn tại và lan tỏa. Đã lấy tâm truyền tâm rồi thì ngôn ngữ không còn ý nghĩa gì, nếu có lấy ngôn ngữ để truyền tâm cũng chỉ dành cho những hạng người si độn trong vườn Thiền. Tịnh Giới Thiền sư đã cười vào việc làm đó:
Thu lai lương khí sảng hung khâm,
Bát đấu tài cao đối nguyệt ngâm.
Kham tiếu thiền gia si độn khách,
Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm.
(Thị tịch)
Dịch thơ:
Ngực áo thu về khí lạnh xâm,
Tài ngang tám đấu đối trăng ngâm.
Cười bấy khách thiền ai dại dột,
Sao đem lời lẽ để truyền tâm.
(Lê Mạnh Thát dịch)
Vô ngôn không chỉ là không nói, đối với các Thiền sư, vô ngôn còn thể hiện ở nói, nhưng nói theo kiểu của Thiền sư. Đó có thể là tiếng “đốt” trong Phàm thánh bất dị và Trữ từ tự cảnh văn, tiếng “hát” trong Phật tâm ca, tiếng “ha ha” trong Tâm vương của Tuệ Trung Thượng sĩ, đó có thể là “nhất thanh” trong Ngôn hoài của Không Lộ Thiền sư. Những âm thanh đó, có âm nhưng không có lời, âm thanh đó thay cho vạn lời nói vì âm thanh đó là tột đỉnh của vô ngôn, âm thanh của sự giác ngộ:
Hữu thời trực thượng Cô Phong Đính,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
(Ngôn hoài- Không Lộ Thiền sư)
Đó cũng là âm thanh của Lý Cao, một thi nhân, triết gia thời Đường trong bài Tặng Dược Sơn (2):
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,
Nguyệt hạ phi vân khiếu nhất thinh.
Tinh thần vô ngôn và triết lý Thiền của hai thi nhân, Thiền sư gặp nhau. Ở đó cả hai đều “nhất thanh” nhưng dụng của nó thì vô cùng. Có thể đó là sự giác ngộ tính Phật, là triết lý Thiền cũng có thể là tinh thần tự tại trong cõi đời tạm bợ,…
Vô ngôn không chỉ là không nói, là dĩ tâm truyền tâm, mà còn là ý nghĩa ẩn sau ngôn ngữ, là những khoảng lặng, khoảng mờ có sức gợi mở to lớn. Vì vậy, các Thiền thi xem ngôn ngữ có tính chất hữu hạn, chỉ có vô ngôn mới thể hiện được sự vô hạn, ý nghĩa kỳ diệu của đạo Thiền. Hình ảnh “nhất chi mai” trong bài thơ Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư là minh chứng cho điều này. Bài thơ là sự giác ngộ thấu triệt về quy luật vô thường của tạo hóa, trong đó có sự vô thường của thiên nhiên và con người. Chỉ duy nhất cái còn lại, thường hằng, đó là chân tánh, Phật tính. “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”, bí ẩn như một câu thần chú, là hình tượng vô ngôn có tác dụng gợi để người đọc thể ngộ ra tính Thiền. Đó có thể là hình ảnh của sự bất diệt, thường hằng của tính Phật trong mỗi con người, là niềm lạc quan vô biên mà tĩnh tại, là diệu dụng, tính thường chiếu của Tâm,…Vô ngôn nhưng lại mở ra nhiều ý nghĩa, gợi cho người đọc những cảm nhận, liên tưởng vô cùng phong phú, tùy theo sự giác ngộ của từng người.
Bài thơ Xuân cảnh của Trần Nhân Tông cũng là một minh chứng tuyệt vời của nghệ thuật không lời. Trong cảnh mùa xuân đến, cảnh vật thiên nhiên như phô diễn tất cả vẻ đẹp và sức sống của mình. Con người trong buổi vào xuân ấy như hòa cùng sắc xuân. Chủ và khách tuy không hỏi chuyện, vô ngôn nhưng thật ra là ngầm hiểu, là nói rất nhiều, bởi tâm cảnh và thiên nhiên đã hòa làm một:
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Hoạ đường thiềm ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thuý vi.
Dịch thơ:
Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày
Thềm hoa chiều rợp, bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế
Cùng tựa lan can ngắm núi mây”
(Huệ Chi dịch)
Vô ngôn trong quan niệm của các
Thiền sư vừa là vô ngôn trong triết lý
Thiền và cũng là vô ngôn trong thơ Thiền.
Vô ngôn nhưng mở ra cảnh giới tinh thần vô hạn không chỉ riêng ở các Thiền sư mà còn cho những người cảm thụ thơ Thiền. Không chỉ ở các Thiền sư, quan niệm vô ngôn còn được các quý tộc thể hiện trong sáng tác của mình, Trần Quang Triều là quý tộc thời Trần, quan niệm vô ngôn của ông có nét giống với các Thiền sư. Bài Đề gia lâm tự của Trần Quang Triều thể hiện rõ quan niệm vô ngôn. Cảnh sắc trong bài thơ rất mộc mạc, con người trong thơ là con người vô ngôn với tâm thiền bình lặng. Thiền gia gọi đó là cảnh giới vô ngôn, chỉ có thể hiểu bằng trực cảm lấy tâm truyền tâm. Cái tâm Thiền bình đạm và cảnh thiên nhiên cùng giao hòa trong không gian tĩnh tại, chỉ có mùi hoa thông tỏa ngát nói thay lý lẽ vi diệu:
Tâm hôi oa giác mộng,
Bộ lý đáo thiền đường.
Xuân vãn hoa dung bạc,
Lâm u thiền vận trường.
Vũ thu thiên nhất bích,
Trì tịnh nguyệt phân lương.
Khách khứ tăng vô ngữ,
Tùng hoa mãn địa hương.
(Lòng nguội lạnh với giấc mơ sừng con sên
Dạo bước đến cửa thiền
Xuân muộn, dáng hoa mỏng mảnh
Rừng sâu, tiếng ve ngân dài
Mưa tạnh, trời xanh biếc một màu
Ao trong, trăng mát dịu toả xuống
Khách ra về, sư chẳng nói
Mặt đất thơm ngáy mùi hoa thông.)
Bài thơ chỉ có tiếng ve, không gian cô tịch, không có một lời nào. Cả nhà thơ và Thiền sư đều vô ngôn, chỉ có nồng nàn mùi hoa đã nói lên tất cả. Nhà thơ thời thịnh Đường Cơ Vô Tiềm, trong bài thơ Ngộ Dung Thượng Nhân lan nhã, một lần đến thăm một Thiền sư, trong không gian cũng tĩnh lặng, u tịch, cả hai cũng không nói, chỉ có tiếng chuông chùa đã nói lên tất cả:
Sơn đầu thiền thất quải tăng y,
Song ngoại vô nhân khê điểu phi.
Hoàng hôn bán tại hạ sơn lộ,
Khước thính chung thanh liên thúy vi.
Các Thiền sư, quý tộc thời Lý Trần đã thể hiện quan niệm vô ngôn ngay chính trong tác phẩm. Từ quan niệm vô ngôn của Thiền tông, các Thiền sư, quý tộc đã thể hiện quan niệm vô ngôn trong thơ. Đó chính là những khoảng lặng, khoảng trống nhiệm màu, là không nói nhưng lại nói rất nhiều, là vô ngôn những ý lại vô cùng.
4.2. Quan niệm vô ngôn trong kiểu nhà văn- nho sĩ từ Hậu Lê đến thời Nguyễn
Sau thời Lý Trần, tuy Nho giáo chiếm thế thượng phong, nhưng trong tư tưởng và quan niệm văn chương, vị thế của Thiền Lão vẫn được duy trì và tầm ảnh hưởng vẫn lan tỏa cho đến cuối thế kỷ XIX. Nguyễn Trãi vốn là nhà Nho, tuy nhiên trong tư tưởng của ông có cả Thiền Lão. Những năm ẩn mình ở Côn Sơn, ông đã thực sự sống cùng thiên nhiên với tâm thế ung dung tự tại nhất. Thơ ông có nhiều bài thanh tao, thoát tục, lấp lánh vẻ đẹp của Thiền. Có lúc, ông cũng thấy ngôn ngữ cũng không đủ sức để diễn tả những ý nghĩa mà thi nhân cần chuyển tải:
Cá trung chân hữu ý,
Dục ngữ hốt hoàng vương.
(Du sơn tự)
Dịch thơ:
Cảnh này thật hữu ý,
Muốn nói bổng quên lời.
(Tế Hanh dịch)
Lê Thiếu Dĩnh cũng là một nhà nho thời Lê, thơ ông còn lại chỉ vài bài, trong đó có bài thơ Lễ Đễ sơn tự thể hiện tinh thần vô ngôn:
Sơn thâm thanh giản tịch,
Tự cổ bạch vân nhàn.
Khách chí tăng vô ngữ,
Tùng phong tự khải quan.
(Núi thắm khe trong cảnh lặng lẽ,
Chùa cô đám mây trắng lững lơ.
Khách đến sư không nói,
Gió tùng tự mở cửa ra.)
Bài thơ thể hiện vô ngôn của Thiền sư và cũng là vô ngôn của chính tác giả. Cả hai đều vô ngôn, khung cảnh cũng lặng lẽ, u tịch, nhưng sau đó “Tùng phong tự khải quan” đã nói lên nhiều điều. Sau này Phan Huy Chú đã nhận xét về Lê Thiếu Dĩnh qua bài thơ này là: “chuộng giản dị, cổ kính” và “lời và ý sâu xa, rất có ý thú ở ngoài” [3, tr 123]. Nhận xét của Phan Huy Chú về Lê Thiếu Dĩnh cũng là cách mà một số tác giả cổ điển Việt Nam trước và sau ông thể hiện khi bày tỏ quan niệm của mình về vô ngôn qua các bài bạt, bài tựa, lời bình trực tiếp.
Quan niệm vô ngôn qua những lời phát biểu trực tiếp là khá phong phú và tương đối thống nhất. Tựu trung lại, quan niệm vô ngôn được biểu hiện qua “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn bất tận ý”, tính hàm súc, tính dư vị trong văn chương. Sau đây là khái quát về các lời phát biểu trực tiếp nói lên quan niệm vô ngôn theo mốc thời gian từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Trong những lời bàn trực tiếp về vô ngôn trong văn chương, có lẽ Hoàng Đức Lương (Thế kỷ XV) là người đầu tiên. Đến thời ông, văn chương Đại Việt bị thất lạc, mất mát quá nhiều. Theo ông, có bốn lý do khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời, trong đó lý do đầu tiên thuộc về bản chất của văn chương. Ông nói: “Đến như thơ văn, thì lại sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được”[9, tr 28]. Mặc dù đây là lý do mà Hoàng Đức Lương cho rằng nó khiến văn chương khó bảo tồn, dễ bị mất mát, nhưng qua đó, chúng ta thấy rằng, ông coi trọng vô ngôn trong văn chương. Vô ngôn ở đây gắn với tính dư vị trong văn chương.
Tương tự, Nguyễn Dữ quan niệm, ý nghĩa của văn chương nằm ngoài câu chữ. Trong Cuộc nói chuyên ở Kim Hoa, Nguyễn Dữ có nói “Thơ của người đời xưa, lấy hùng hồn làm gốc, bình đạm làm khéo, câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy gần nhưng nghĩa thì xa”[9, tr 42].
Nguyễn Cư Trinh cũng rất dề cao vô ngôn trong sáng tác. Ông cho rằng “lòng người là thứ khó lường”, vì vậy khi phát ra thành thơ “đến nỗi một chữ mà nghĩ ba năm mới được, giảng ngàn năm chưa xong”. Ông quan niệm văn chương phải giản dị, ý nghĩa phải hàm súc: “Tóm lại, người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị”[11, tr 63].
Lê Hữu Kiều quan niệm trong sáng tác cần miêu tả được cái thần của từng sự vật, có như vậy thì thơ mới chân thật, mới giàu ý nghĩa. Còn nếu chỉ hời hợt bề ngoài thì chỉ là theo đuổi cái hư ảo, mà xem như chưa đạt đến điều thơ cần đạt tới. Chính vì thâu tóm được cái thần của sự vật, nên chỉ một câu thơ có thể thấy được muôn hình cảnh. Đó chính là quan niệm nghệ thuật nói ít nhưng lại gợi nhiều. Ông ca ngợi thơ cận thể nhà Đường như sau: “Mô tả đường nét bên ngoài mà nổi lên cái thần, nói một câu có thể tỏ được trăm ý, xem kỹ lưỡng có thể được muôn cảnh. Nghệ thuật thơ văn đến thế thật là thần diệu!” (Bài tựa tập thơ Tàng Chuyết tập)[11, tr 71].
Ngô Thì Nhậm trong bài tựa Hoàng Công thi tập cũng chú trọng đến vô ngôn và cái thần của thơ. Thơ hay là phải “ngụ ý sâu xa ngoài cảnh vật” và “có cái thần rộng đến ngàn xưa”, ông nói: “Ông bạn già của ta là Hoàng Công, theo nếp thi thư nổi tiếng ở trong kinh, ngoài nước. Từ khi ta được vào chầu trong điện, cùng làm việc với ông, từng thấy những bài vịnh sử và ngâm vịnh của ông đều là những bài có cái thần rộng đến ngàn xưa, ngụ ý sâu xa ngoài cảnh vật, thật đã ngang hàng với họ Khuất họ Tống sánh vai với họ Thẩm, họ Tạ” (Bài tựa Hoàng Công thi tập)[11, tr 146].
Lê Quý Đôn có nhiều ý kiến bàn về văn học, mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, trong đó có ý kiến về vô ngôn. Trong sách Vân đài loại ngữ, Lê Qúy Đôn tâm đắc khi dẫn lời Tô Đông Pha: “Ý dứt mà lời hết là lời nói hay trong thiên hạ. Nhưng lời dứt mà ý không hết thì lại càng hay hơn nữa”[11, tr 98].
Mọi vật đều ẩn chứa điều kỳ diệu và có tính tương đối “trong cái thối nát, xuất hiện cái thần kỳ”, và “trong cái thô thiển chứa đựng cái tinh vi”,… cho nên ngay cả văn chương cũng không đủ sức khám phá hết sự vật. Và chỗ tuyệt diệu của văn chương cũng có chỗ đâu phải dùng lời mà biểu đạt được. Đó là quan niệm của Ngô Thì Vị: “Tôi đọc đi đọc lại thơ ông và tham cứu bài tựa của Nguyễn hầu, giống như người vẽ nó thì lại càng nắm bắt hết được cái hình dung của nó. Kinh Dịch nói:“Thư không thể nói hết lời, lời không thể nói hết ý, tôi quên mình quê vụng, hết thảy trình bày lời lẽ của mình để viết lời bạt này” (Bài bạt Cấn Trai thi tập)[ 7, tr 111].
Lê Hữu Trác quan niệm, đối với thơ điều quan trọng là ở ý, làm thơ phải chú trọng ở những khoảng lặng, khoảng trống, vô ngôn để gợi mở và làm cho người đọc phải suy nghĩ mới hiểu được thì thơ mới hay: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa, thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ. Như thế mới là thơ có giá trị.”[11, tr 101].
Nhữ Bá Sĩ khi bàn về thiên Thục khách giải trào của một người bạn vong niên, ông nói có ba điều đáng lấy và bảy điều đáng bàn. Điều đáng bàn thứ sáu, tương tự quan niệm của Nguyễn Cư Trinh là chú trọng hàm súc của ngôn từ: “Cái ý của văn quý ở chất mà càng quý ở hàm súc”. Ông xem trọng ý nghĩa ngoài lời và xem đó mới là cái đích của thơ ca: “dù một lời mà bao quát trăm nghìn dặm cũng không ngại là thừa”, tất cả cũng chỉ cố “cho tinh thần ý thái của phong vật núi sông nơi muôn dặm, nhãy múa trên tờ giấy”[11, tr 219].
Đặng Huy Trứ khi viết lời tựa tập thơ của Trương Băng Nhiên, ông đã ca ngợi tài thơ của Trương Băng Nhiên với những lời lẽ hết sức bay bổng, từ đó chúng ta cũng thấy được quan niệm coi trọng ý hơn lời và ý tại ngôn ngoại của Đặng Huy Trứ: “Tôi mở ra đọc, thấy ý tứ trung hậu tràn trề ngoài lời lẽ…Ý thơ viên mãn mà rộng rãi, khí thơ hùng hồn mà thẳng ngay, lời thơ gọn mà đẹp, vị thơ đậm mà tươi,…” [11, tr 279].
Nguyễn Miên Thẩm, trong bài tựa Tập tiểu nhạc phủ vịnh sử ghi lại những bài thơ đề ở bình phong của nhà vua, cho rằng: “năm điều tuyệt diệu, có mấy điều khó như sau: Ví như bức họa của Tiêu Bôn chỉ rộng bằng một thước mà thu cả phong cảnh muôn dặm; tấm thêu của Mỵ Nương, trên một mảnh lụa mà thêu đủ chữ của bảy quyển sách. Chín lời nói của Du Cát, lời ít mà ý xa; ba tiếng trả lời của Nguyễn Chiêm, nói đơn giản mà lí lẽ đầy đủ”[11, tr 258]. Bốn điều khó mà Miên Thẩm nêu ra đều hàm nghĩa ngôn bất tận ý, ý tại ngôn ngoại.
Nguyễn Mại cũng đề cao tính cô đọng, súc tích, lời gần mà ý xa trong sáng tác văn chương. Đồng thời ông cũng cho rằng thi liệu sáng tác văn chương đó chính là hiện thực. Việc sáng tác thơ vốn xuất phát từ cảm hứng chân thực trước sự vật hiện tượng ngoài thực tế. Cho nên, ông cũng đề cao loại ca dao thế tục, vốn trước kia không được đề cao và ngay cả những vật chi ly nhất như cây cỏ, chim sâu cũng là văn chương cả. Tự nhiên chính là nguốn thi liệu dồi dào, và ẩn chứa ý nghĩa vô hạn: “Phong đó chăng? Sử đó chăng? Kể ra loại ca dao của thế tục, xem qua chỉ là loại thơ kém không đủ để lên đàn đại nhã, mà nghiền ngẫm cho sâu thì gió, mây, sương, móc đều là văn chương, cây cỏ chim sâu lời gần mà ý xa, hầu như có cái thể tài phát huy phong, nhã” (Bài tựa Phong dao là quốc sử)[11, tr 278].
Để kết thúc những lời phát biểu trực tiếp về vô ngôn, có lẽ quan niệm của Vũ Duy Thanh sẽ phần nào khái quát được quan niệm vô ngôn trong văn chương. Trong Bồng Châu thi văn tập, ông quan niệm: “…Cái nguyên cớ của văn chương mặc ai muốn hiểu; chỉ nghe tới cái vô thanh sẽ ngộ được cái hữu thanh” [7, tr 76].
Như vậy, quan niệm vô ngôn đối với các Thiền sư, quý tộc thời Lý, Trần, tuy thể hiện gián tiếp qua tác phẩm, nhưng lại trực tiếp nói về quan niệm vô ngôn trong triết lý Thiền tông và trong thơ. Vô ngôn là Thiền là phương thức giao tiếp, truyền tin “dĩ tâm truyền tâm” trong Thiền. Vô ngôn trong thơ cũng mang tính Thiền, và đó còn là sự hữu hạn của ngôn ngữ, là những khoảng trống đầy gợi mở, là không nói nhưng lại nói lên nhiều điều. Khi các tác giả nhà vănnhà nho phát biểu trực tiếp về quan niệm ngôn ngữ trong văn chương, vô ngôn lại được gián tiếp thể hiện qua “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn bất tận ý”, tính hàm súc và dư vị.
5. Kết luận
Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam có nội hàm phong phú, sâu sắc và trở thành hạt nhân của khuynh hướng Thiền Lão – một trong những khuynh hướng cơ bản của văn học cổ điển Việt Nam. Vô ngôn đã tạo cho thế giới ngôn ngữ văn chương trở lên bí ẩn, đầy màu sắc, nhiều tầng nghĩa, làm cho văn chương trở nên thần diệu. Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam không đơn thuần là một yếu tố thẩm mỹ, mà đã được nâng lên thành lý tưởng thẩm mỹ, phong cách nghệ thuật. Từ đó, vô ngôn trở thành một nét truyền thống độc đáo, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học cổ điển Việt Nam. Có thể nói rằng chính vô ngôn đã góp phần quan trọng tạo nên tính uyên thâm, giá trị trường tồn cho văn học cổ điển Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Duy Cần (2013), Lão Tử Đạo Đức kinh, Nxb Trẻ, TP.HCM.
2. Nguyễn Duy Cần (2013), Trang Tử Nam Hoa kinh, Nxb Trẻ, TP.HCM.
3. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo (2007), Lưu Hiệp Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, Hà Nội.
5. Lê Giang (2006), Tư tưởng lý luận văn học văn học cổ Trung Quốc, chuyên luận dùng cho cao học, Nxb ĐHQG TPHCM.
6. Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh (2000), Trung Quốc văn học sử, tập 2, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.
7. Đỗ Văn Hỷ (1993), Người xưa bàn về văn chương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
8. Khoa Văn học và Báo chí (2006), Một số vấn đề về lý luận, phê bình văn học cổ Trung Quốc, Báo cáo Hội nghị khoa học, Nxb Trường ĐHKHXH & NV TP.HCM.
9. Nguyễn Minh Tấn (chủ biên) (1981), Từ trong di sản…, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
10. Khâu Chấn Thanh (1995), Lý luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
11. Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn (2007) Mười thế kỷ bàn về văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
12. Chung Vinh (2008), Thi Phẩm tập bình, Nguyễn Đình Phức, Lê Quang Trường tuyển dịch, Nxb Văn nghệ, TP.HCM.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn, Số 6 (31) – Tháng 8/2015
Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)
| Download file (PDF): Vô ngôn trong quan niệm văn học cổ điển Việt Nam (Tác giả: ThS. Lê Đắc Tường) |