Hiện tượng “Gian đạo sĩ” ở Nam Bộ thế kỷ 19 (Phần 1)

THE PHENOMENON OF “UNRIGHTEOUS CLERGYMEN”
IN THE SOUTH OF VIETNAM IN THE 19TH CENTURY

Tác giả bài viết: NGUYỄN THANH PHONG
(Khoa Sư phạm, Đại học An Giang)

TÓM TẮT

     “Gian đạo sĩ” là cách nhà Nguyễn từ thời Thiệu Trị trở về sau và cả chính quyền thuộc địa của người Pháp sau này thường dùng để gọi những người lãnh đạo các phong trào tôn giáo dân gian ở Nam Bộ. Đây không phải là việc ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc sâu xa, bởi lẽ nhà cầm quyền trong thời gian này dường như đã nhìn thấy mối quan hệ mật thiết giữa các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ với các phong trào đấu tranh vũ trang chống chính quyền của nhiều giáo phái dân gian ở Hoa Nam, Trung Quốc. Trong bài viết này, tác giả kết hợp phân tích các dữ kiện lịch sử, dựa trên điểm tương đồng cốt lõi trong hình thức tín ngưỡng Ngũ Công Vương Phật, và khảo cứu các câu truyện truyền miệng và tư liệu thành văn ghi chép về các ông đạo từng bị mệnh danh là “gian đạo sĩ” nhằm làm rõ một hiện tượng văn hóa, tôn giáo thú vị ở Nam Bộ thế kỷ 19.

Từ khóa: Nam Bộ; gian đạo sĩ; tôn giáo nội sinh; thế kỷ 19.

ABSTRACT

     The “unrighteous clergymen” used to call leaders of folk religious movements in the South of Vietnam from the reign of King Thieu Tri of the Nguyen dynasty to the French colonial government. It was not a random because the authorities had realized the close relationship between the indigenous religions of the South with armed movements anti-government of many folk religions in South of China. This article explores folk tales and documentaries of the “unrighteous clergymen” in the South, analyses of historical data based on the similarities of the belief of Ngu Cong Vuong Phat, thereby clarifying an interesting cultural and religious phenomenon in the 19th century.

Keywords: The South of Vietnam; “unrighteous monk”; folk religion; the 19th century.

x
x x

1. “Gian đạo sĩ” – Từ Trung Quốc đến Việt Nam

     “Gian đạo sĩ” là một khái niệm khá quen thuộc của Đạo giáo ở Trung Quốc, dùng để chỉ những tu sĩ Đạo giáo tu hành không chân chính, không giữ nghiêm giới luật thanh quy, có những hành vi bất chính, như: tham sắc, tham tài, lừa dối, trộm cắp, gian dâm, v.v… làm ảnh hưởng đến thanh thế của đạo quán, nếu phát hiện sẽ bị trục xuất khỏi sư môn. Đến thời Minh – Thanh, Nho – Phật – Đạo hợp lưu, nhiều giáo phái dân gian ra đời, khái niệm “gian đạo sĩ” còn bao hàm cả những người tu hành bất chính theo Phật giáo lẫn Nho giáo. Đặc biệt đến thời cuối thời Minh đầu Thanh, nhiều thế lực chính trị bất mãn ngoại di thống trị, muốn khôi phục quyền lực Hán tộc, đã lợi dụng các giáo phái dân gian ra đời trước đó, giải thích thuyết “thiên mệnh thần quyền” cố hữu theo hướng “trời đã trao sứ mệnh cho ta” để kêu gọi khởi nghĩa “phản Thanh phục Minh”. Triều đình nhà Thanh đã dùng cách gọi “gian đạo sĩ” để chỉ những thế lực chính trị không tu hành thuần túy, mà sử dụng tôn giáo làm ngọn cờ quần tụ nghĩa sĩ chống phá triều đình.

     Do thế lực nhà Thanh ngày một mạnh, đặc biệt đạt đến thịnh trị dưới các đời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, nên các thế lực phản Thanh bị tiễu trừ và đàn áp, phải di cư sang khắp các nước Đông Nam Á. Sau 2 lần thất bại trong Chiến tranh Nha phiến (1839-1842, 1856- 1860), nhà Thanh phải ký kết bồi thường và cắt đất cho thực dân phương Tây, các giáo phái nổi dậy khắp nơi chống ngoại xâm, trong đó thế lực Thiên Địa Hội lớn mạnh khắp vùng lưu vực sông Trường Giang và Chu Giang. Đặc biệt là sau khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1851-1864) thất bại, tiếp tục có một làn sóng người Hoa di cư xuống phía Nam, góp phần đưa các tôn giáo dân gian, các hội kín mang màu sắc tôn giáo vùng Hoa Nam truyền đến Việt Nam, mà chủ yếu là vùng đất Nam Bộ.

     Ở Nam Bộ, truyện kể về các ông đạo bị mệnh danh là “gian đạo sĩ” lưu truyền rộng rãi ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi các tôn giáo dân gian ra đời và phát triển rầm rộ ở nửa cuối thế kỷ 19. Trong đó, phần lớn các câu chuyện ra đời tại tỉnh An Giang, nơi giáp ranh với tỉnh Kampot của Campuchia, gắn liền với những truyền thuyết ly kỳ về giới đạo sĩ tu luyện huyền thuật trên các ngọn núi thiêng trong dãy Thất Sơn hoặc Tà Lơn (Bokor). Vùng đất biên thùy hẻo lánh này không chỉ là nơi phát tích của nhiều tôn giáo nội sinh Nam Bộ nửa cuối thế kỷ 19, như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, mà còn là chốn dung thân tụ nghĩa của các chí sĩ, đạo sĩ Trung Hoa lẫn Việt Nam sau thất bại của nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân phương Tây xâm lược. Chính vì thế mà cuối thế kỷ 19, các ông đạo nơi đây luôn bị chính quyền nhà Nguyễn lẫn thực dân Pháp để ý, can thiệp lưu trú, nhiều lần đưa quân giải tán, thậm chí đàn áp. Dưới đây là nội dung khảo sát về một số ông đạo tiêu biểu bị nghi ngờ là “gian đạo sĩ” ở thế kỷ 19.

2. Truyền thuyết dân gian và tư liệu thành văn về các “gian đạo sĩ” ở Nam Bộ

     2.1. Tô Quang Xuân ở Quan Âm Cổ Tự (chùa Phật Tổ, Cà Mau)

     Năm 2013, chúng tôi tiến hành điền dã tại chùa Phước Điền (Trại Ruộng), một trong những cứ điểm quan trọng của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ở Tịnh Biên, An Giang. Đem chuyện “Đức Phật Vương là ai?” trong câu sấm truyền miệng quen thuộc “Tứ bửu linh tự”1 của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ra hỏi một vị tín đồ cao niên. Ông bảo “Phật Vương là Tô Quang Xuân ở chùa Phật Tổ, Cà Mau, tổ đường ở đó trước đây có thờ trần điều”. Trả lời xong, ông còn đọc nhiều câu sấm giảng bí truyền mà ông cho rằng rất ít người biết vì chưa được công bố, chỉ tín đồ cao niên mới biết. Người tín đồ từ chối cho biết danh tánh ấy đã để lại trong tôi nhiều nghi hoặc, thế là tôi bắt đầu tìm hiểu về ngôi chùa và vị tu sĩ họ Tô kỳ bí này.

     Liên quan đến Tô Quang Xuân (?-1842) có nhiều truyền thuyết dân gian, nhưng những ghi chép chính thức và đáng tin cậy nhất đến từ quyển Cà Mau xưa và An Xuyên nay, xuất bản năm 1972 mà tác giả Nghê Văn Lương là một người am tường vùng đất Cà Mau đã cất công sưu tầm. Trong phần Chùa Đức Phật Tổ Sư có giới thiệu hoàn cảnh ra đời Chùa Phật Tổ và hành trạng ngài Tô Quang Xuân. Nội dung tạm lược thuật như sau:

     Đời vua Tự Đức, ngài Tô Quang Xuân gốc ở Đầm Dơi xã Tân Duyệt (Cà Mau), là người sùng bái đạo Phật, tuy không trường chay khổ hạnh nhưng sống ngay thẳng chan hòa nên ai cũng mến yêu. Lớn lên, cha mẹ có hứa hôn, ngài vào rừng đốn củi may gặp được cuốn kinh Năm Ông, đem về nhà đọc càng tỏ ngộ, nên quyết tâm tu hành, khước từ hôn nhân, dứt tình quyến thuộc. Ngài ra Cà Mau chọn nơi lập am tu hành, bị nhiều người mỉa mai nhưng vẫn kiên trì theo đạo, vài năm sau mở phòng thuốc trị bệnh, cứu giúp những người bệnh trầm kha được mạnh lành. Nhờ đó danh tiếng ngài đồn đãi xa gần, bổn đạo kéo đến ngày một đông. Ít lâu, có kẻ ganh ghét vu cáo ngài là gian đạo sĩ, cố tâm làm loạn, nên bị quan trên bắt giải về Gia Định2.

    Bổn đạo khóc than thảm thiết xin theo, ngài vỗ về an ủi, giải đi đến đâu được mọi người hâm mộ sùng bái đến đó. Quan trên bày ra nhiều trò thử thách như lót tượng phật dưới chiếu cho ngài ngồi, trộn thịt với đồ chay bảo ngài ăn, nhưng đều bị ngài phát hiện và hóa giải. Chừng đó, quan trên thấy ngài là bậc chân tu đắc đạo, bèn dâng sớ về triều đình, vua bèn ban sắc phong Hòa thượng. Ngài được an trí tại chùa Kim Chưởng, lòng buồn bã chẳng yên, ngày 3 tháng 6 năm 1842 ngài viên tịch, vua hay tin ban cho hai cây gấm để tẩm liệm thi hài và cho đem linh cữu ngài về Cà Mau an táng3.

     Câu chuyện trên tiết lộ Tô Quang Xuân bị người khác vu cáo là gian đạo sĩ vì “cố tâm làm loạn”, tương ứng với câu thơ lưu truyền trong dân gian:

Tập trung đông đúc cả ngày,

Toan mưu làm phản có ngày phế vua.

     ám chỉ ông lôi kéo tín đồ âm mưu phản loạn, soán ngai vua. Tiếp đó, ông rơi vào vòng lao lý, trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt để cuối cùng được giải oan và công nhận là bậc tu hành chân chính. Ngày nay, ngôi chùa ra đời năm 1840 này, dù không còn giữ sắc phong gốc được ban ngày 3 tháng 6 năm Nhâm Dần (Thiệu Trị thứ 2, 1842), nhưng trong chùa vẫn còn tấm bia đá khắc bài Sắc tứ Quan Âm Cổ Tự do một vị Hàn lâm Viện học sĩ vâng lệnh vua biên soạn với nội dung như sau:

     Chiếu rằng: Trẫm nghĩ, chốn Kỳ Viên sum xuê, trăm hoa đua nở đầy cành; cảnh sắc ta bà, muôn xưa không sinh không diệt. Bờ giác xa xôi, từng nghe nương một cành lau mà đến; trời tây vời vợi, chỉ có thuyền rỗng mới vượt đến nơi. Đã trưng việc cổ, để nghiệm đời nay. Vừa đọc tố chương, ngỡ như ve vàng trước mắt; duyệt qua văn sớ, mới tường ngài đã cỡi hạc quy tiên. Người linh trời đất cũng linh, vương pháp tâm đồng Phật pháp. Gấm vóc ban cho, cầu siêu lạc quốc, hòa thượng hóa thân rực rỡ, còn phải phong sắc làm chi. Lúc đó ngài thoát xác, hiển danh tháp tịnh trang nghiêm, vinh dự cùng với ân điển nước nhà. Hỡi ôi! Tiên cảnh không vướng bụi trần, thiên đường ắt là có nẻo. Ta ban một đạo sắc, thể hiện tấm lòng sùng thượng, gấm vóc đôi cây, để ghi ân huệ triều đình, làm sáng rõ công đức của ngài. Khá kính thay!4.

     Đáng chú ý, cuối tấm bia là dòng chữ Hán “Tự Lâm Tế chánh tông, tam thập thất thế, thượng Trí hạ Tâm, tánh Tô Quang Xuân, sắc phong hòa thượng giác linh” (Sắc phong trước giác linh hòa thượng kế thừa dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 37, pháp danh Trí Tâm, tục danh Tô Quang Xuân), tương ứng với câu thơ trong dân gian:

Sắc phong Hòa thượng cho Thầy Quang Xuân,

Pháp hiệu thượng Trí hạ Tâm,

Chùa thì sắc tứ Quan Âm đời đời.

     Nếu đạo sắc này có thật, thì dường như ngài Tô Quang Xuân đã được triều đình sắp đặt cho quy y theo dòng Lâm Tế chính thống đương thời. Một điều đáng suy ngẫm là, từ một người bị nghi là gian đạo sĩ, trở thành một người được vua Thiệu Trị tiếc thương ban sắc phong với lời lẽ nhún nhường tôn kính như vậy, ắt phải có nguyên nhân bên trong của nó.

     2.2. Sư Cố Hà Minh Nhựt (Cù lao Ông Chưởng, Chợ Mới, An Giang)

     Sư Cố Hà Minh Nhựt (1802-1877) hay Minh Nhựt thiền sư là người sáng lập chùa An Long Cổ Tự (người dân quen gọi là chùa Cố, chùa Sư Cố), hiện tọa lạc tại cù lao Ông Chưởng, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. So với các vị còn lại, tên tuổi ngài ít được nhiều người biết đến. Tư liệu thu thập điền dã tại chùa giới thiệu về hành trạng cuộc đời của ngài như sau:

     Sư Cố tên thật là Hà Văn Giáo, sinh năm 1802, người gốc xã Long Kiến, thiếu thời giúp gia đình cày cấy, bẩm tính hiền từ, chỉ dùng chay lạt, bắt đi coi chim nhưng ngài không đuổi, chỉ lo lấy đất sét nặn đủ các loại tượng Phật theo trí tưởng tượng rồi cất trong chòi. Thân sinh ngài đến thăm lúa, thấy sự tình nổi giận, đem hết tượng Phật quăng xuống sông, lạ là tượng nổi không chìm, Sư Cố bèn chạy xuống dưới dòng vớt hết lên, từ đó cha ông cho con tự do hành đạo. Ngài lập am tu hành, dân chúng nghe đồn linh nghiệm kéo đến càng đông, am được xây dựng to lớn hơn. Sư Cố bắt đầu trị bệnh cứu đời, đặc biệt là bệnh “tà trí rối loạn”, “dùng thuật ngữ thuyết cho người bệnh nghe lần lần hết bệnh, rồi quy y đầu Phật tu hành”. Sự mầu nhiệm đó khiến tin đồn lan xa, ông bắt đầu thuyết pháp thu nhận tín đồ, thuyền ghe lui tới tấp nập. Khoảng năm 1825, ngài Đoàn Minh Huyên có ghé qua thăm – “Lại chùa sư Nhựt ở rày hôm mai; Ghé chùa sư Nhựt ở rày đêm nay”, gọi bằng “Ngài” và tỏ ra ái mộ sự tu hành của Sư Cố. Mấy năm sau, quan Tổng trấn An Giang5 mời Sư Cố đăng đàn thuyết pháp, rồi chỉ thị ngài đến Cái Bè học hành giáo lý bài bản với Hòa thượng Tổ, được thầy đổi tên là Hà Minh Nhựt, còn xin triều đình ban sắc phong Hòa thượng. Ít lâu sau ngài trở về chùa tu hành và tiếp tục trị bệnh, năm 1840 cứu vợ quan Tổng trấn bị bệnh nan y khỏi bệnh bằng “thuật ngữ và uống nước lã”. Quan Tổng trấn biết ơn tâu lên triều đình, “triều đình ban cây gươm dài lưỡi bằng vàng, cán khắc chạm tứ quý và bản văn ấn khuyết ghi rõ sát tà trị bệnh, cây gươm truyền đến đời Cần Vương sau khi Sư Cố tịch diệt. Đến thời Thiên Địa Hội chống Pháp xâm lăng, quân địch lùng kiếm những người đời sau có liên hệ đến ngôi chùa, vì sợ quá nên sư trụ trì đem kiếm quăng dưới lòng sông Ông Chưởng”, đến nay không tìm gặp. Năm 1877, ngài già yếu rồi tịch diệt, hưởng thọ 75 tuổi6.

     Văn bản giới thiệu trong chùa An Long không nhắc đến việc Sư Cố bị quan trên tình nghi là gian đạo sĩ. Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là Sư Cố trước đây tu hành theo môn phái nào, vì sao quan Tổng trấn lại mời đăng đàn thuyết pháp rồi chỉ thị cho đi học giáo lý Phật pháp chính tông với Hòa thượng Tổ tại Cái Bè dù ông thuyết pháp rất lưu loát và được nhiều người mến mộ? Đáng chú ý hơn, Sư Cố và Phật Thầy Tây An có mối quan hệ gì, để khiến cho cách thức hành đạo và hóa độ chúng sinh của hai ông lại gần gũi nhau đến vậy. Nghi vấn này được tác giả Lê Thu Vân đặt ra trong bài viết Văn hóa của người Việt vùng Cù lao Ông Chưởng nhìn từ truyện kể dân gian: “Phật Thầy Tây An từng ghé thăm và đàm đạo với Sư Cố, Phật Thầy còn ký thác một bức tượng Phật A Di Đà cho nhà chùa, rất có thể từ lần gặp gỡ này, Phật Thầy Tây An đã gặp được một bậc chân tu và ái mộ sự tu hành trên nền tảng chính pháp cùng khả năng dùng thuật ngữ trị bệnh vô cùng mầu nhiệm của Sư Cố, từ đó Phật Thầy có cơ sở để tạo lập Bửu Sơn Kỳ Hương với tôn chỉ và phương pháp hành đạo cũng có nhiều nét tương tự, đặc biệt là cách dùng bùa thuật để chữa bệnh cứu người”7. Rõ ràng, có mối quan hệ mật thiết về mặt nguồn gốc tông phái tu hành giữa Sư Cố Hà Minh Nhựt với ngài Đoàn Minh Huyên.

     Một chi tiết rất quan trọng khác tiết lộ mối quan hệ giữa Sư Cố với tổ chức Thiên Địa Hội và triều đình nhà Nguyễn là việc sắc phong và ban gươm trừ tà. Cũng giống như trường hợp ngài Tô Quang Xuân phía trên, triều đình Thiệu Trị, Tự Đức có vẻ rất quan tâm đến các ông đạo Nam Bộ này. Việc triều đình gia ân ban sắc để công nhận vị thế tôn giáo của các ông đạo dường như lưu lại trong ký ức dân gian rất sâu sắc. Hơn nữa, liệu có mối liên hệ nào giữa Sư Cố với Thiên Địa Hội, chùa An Long với phong trào Cần Vương sau này hay không? “Gươm báu” trong trường hợp này có ý nghĩa tượng trưng gì? Vì sao Pháp lùng bắt những người tham gia phong trào chống đối của Thiên Địa Hội lại tìm đến chùa Sư Cố? Những vấn đề quan trọng này cần được giải đáp để làm sáng tỏ những uẩn khúc lâu nay đang bao trùm lấy một nhân vật được người dân cù lao Ông Chưởng lưu truyền qua nhiều thế hệ.

     2.3. Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (Đồng Tháp, An Giang)

     Liên quan đến hành trạng của ngài Đoàn Minh Huyên (1807-1856), tư liệu hiện nay khá phong phú, nghĩa là có nhiều người đề cập tới, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ về cuộc đời ngài đều sáng tỏ. Ngoài truyền khẩu dân gian và nhiều sấm giảng tương truyền do các đồ đệ ghi chép lời thầy, các tài liệu nghiên cứu quan trọng, như: Đức Phật Thầy Tây An của Vương Kim và Đào Hưng, Sa Đéc xưa và nay của Huỳnh Minh, Sấm truyền đức Phật Thầy Tây An của Nguyễn Văn Hầu và Nguyễn Hữu Hiệp… đều có những ghi chép khá giống nhau về Đoàn Minh Huyên. Chúng tôi dựa vào khảo cứu của tác giả Nguyễn Văn Hầu để lược thuật về hành trạng cuộc đời ngài như sau:

     Ngài Đoàn Minh Huyên sinh năm 1807 (năm Gia Long thứ 6) tại làng Tòng Sơn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc Lấp Vò, Đồng Tháp). Tuổi thơ đến lúc rời quê quán lên núi tu hành không thấy tư liệu nào ghi chép, từ năm 1844 ngài vân du qua Gò Công, Mỏ Cày, Bến Tre, Cần Chông, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Thất Sơn rồi trở về Tòng Sơn năm Kỷ Dậu (1849), khi dịch bệnh đang hoành hành đáng sợ ở nhiều nơi của trấn Vĩnh Thanh. Sống nương tựa tại đình làng Tòng Sơn, ngài giả ngây giả dại, khi hư khi thực, nói chuyện úp úp mở mở khiến nhiều người hiếu kỳ. Sau dịch bệnh lan rộng, người ta đến nhờ ngài ra tay chữa trị. Ngài dùng “cây thẻ Năm Ông” (cây cờ ngũ sắc), bùa chú, nước lã, tro nhang, giấy vàng… điều trị, ấy vậy mà rất công hiệu, tiếng đồn lan xa, bệnh nhân theo về càng đông. Ngày rao giảng giáo lý trong quyển sấm giảng mang theo người, dạy thờ trần điều, kính thờ Năm Ông, học Phật tu nhân, phát phái thu nhận tín đồ, bắt đầu sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Có người ghét ganh tố cáo ngài là gian đạo sĩ, tụ tập dân chúng khởi loạn, Tổng đốc An Giang ra lệnh bắt ngài về Châu Đốc câu lưu. Qua nhiều thử thách, thấy ngài là bậc chân tu huyền diệu, hùng biện trôi chảy, chính quyền bèn đưa ngài đến an trí tại chùa Tây An do Tổng đốc Doãn Uẩn cho xây năm 1847, thế phát quy y với Thiền sư Hải Tịnh. Dù vậy, ngài vẫn tới lui hướng dẫn tín đồ khẩn hoang lập ruộng mở làng, cấp phái phát phù trị bệnh, tín đồ quy tụ càng đông. Ngài viên tịch tại chùa Tây An năm 1856, thọ 50 tuổi8.

     Giải thích lý do ngài Đoàn Minh Huyên bị chính quyền nghi kỵ là gian đạo sĩ, Nguyễn Văn Hầu cho rằng vì An Giang là xứ biên thùy hiểm yếu, dân cư phức tạp, mê tín dẫy đầy, phù thủy đồng bóng khắp nơi, giặc giã thường hay nhiễu nhương, sư sãi bị kích động từng xưng vương khởi loạn nhiều chỗ, khiến triều đình Thiệu Trị đau đầu đối phó, không thể không cảnh giác. Đó là nguyên nhân gián tiếp, còn nguyên nhân trực tiếp là do bọn lang băm phù thủy địa phương chỉ trích cách chữa bệnh, truyền giáo và hành giáo của ngài, nên đã ác ý tố giác với quan trên. Cụ thể là ngài chữa bệnh không dùng thuốc, tu hành mà vẫn búi tóc để râu, không tụng kinh gõ mõ mà chỉ lâm râm mặc niệm, không thờ tượng cốt mà chỉ thờ trần điều, không cúng chè xôi mà chỉ dùng hoa tươi nước lã… Những điều khác xa so với truyền thống trước đó9. Đó là những phỏng đoán của Nguyễn Văn Hầu, còn chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính có lẽ là việc tập hợp tín đồ và truyền bá giáo thuyết của ngài chứa những yếu tố chính trị đặc biệt, khiến triều đình không thể yên tâm tin tưởng đây là một giáo đoàn thuần túy lo việc tu hành.

     Ngoài ra, trong dân gian cũng lưu truyền nhiều truyền thuyết về mối quan hệ giữa ngài với ông đạo Kiến và Sư Cố Hà Minh Nhựt. Ngài nhiều lần tới lui cốc ông đạo Kiến (nay là Tây An Cổ Tự, cù lao Ông Chưởng, Chợ Mới, An Giang), đến năm 1849 bắt đầu phát bùa trị bệnh và sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tại đây. Ông đạo Kiến là ai? Tu hành thế nào? Quan hệ với ngài Đoàn Minh Huyên ra sao? đến nay vẫn chưa ai biết tường tận. Ngày 12/8/2018, chúng tôi tiến hành điền dã tại ngôi chùa này phát hiện nơi hậu liêu có một bài vị cổ ghi dòng chữ Hán “Phụng thỉnh Sư Cố Lê Văn Kiến tọa vị”, và bước đầu xác định đây là bài vị ông đạo Kiến, ngoài ra không còn thông tin gì khác. Đáng chú ý là ông đạo Kiến cũng được tín đồ gọi là “Sư Cố” giống như ngài Hà Minh Nhựt.

     2.4. Đức Bổn Sư Ngô Lợi (Núi Tượng, Tri Tôn, An Giang)

     Ông Ngô Lợi (1831-1890) là người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, một tôn giáo có mối quan hệ mật thiết với đạo Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên. Hai tôn giáo này ban đầu luôn bị triều đình nhà Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp xem là tổ chức hoạt động tôn giáo – chính trị của các “gian đạo sĩ” để mưu đồ soán ngai vua, đánh đổ ách thống trị của người Pháp tại Nam Bộ.

     Trong số các ông đạo ở Nam Bộ ở thế kỷ 19, Đức Bổn Sư Ngô Lợi là người còn được lưu lại nhiều tư liệu sách vở nhất, đặc biệt là 3 quyển Ngọc lịch đồ thơ tập chú ghi chép về quá trình cất chùa và khai hoang lập làng tại vùng Núi Tượng, một số kinh điển chữ Hán do ông và đệ tử viết, cùng nhiều truyền thuyết về hành trạng cuộc đời mà tín đồ trong đạo thường kể cho nhau nghe. Ông cũng là người trực tiếp tham gia lãnh đạo các phong trào vũ trang chống Pháp, ủng hộ nhiệt tình cho nhiều chí sĩ yêu nước đấu tranh, chịu nhiều lần “pháp nạn” khi thực dân Pháp kéo quân vào Núi Tượng đàn áp, đốt phá chùa chiền.

     Hà Tân Dân trong quyển Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa có giới thiệu tổng quát về thân thế cuộc đời ông. Ngô Lợi được mô tả sinh tại Mỏ Cày (Bến Tre) trong một gia đình làm nghề thợ mộc. Cha mất sớm, mẹ ở góa nuôi ông đến lúc trưởng thành. Năm 20 tuổi (1851), ông sáng tác Bà La Ni kinh, một quyển kinh ca ngợi đức hạnh và uy lực của Bồ Tát Quán Âm. Năm 1867, ông đi thiếp 7 ngày đêm rồi tỉnh dậy, chứng đắc đạo quả, dạy đời hành đạo, phát phái quy y cho thiện tín. Sau đó, ông đi khắp nơi truyền đạo, rồi cho tín đồ vào Núi Tượng khai hoang (trảm thảo khai sơn), xây dựng chùa miếu, quy tụ tín đồ lẫn nghĩa sĩ khắp Nam Kỳ. Sau đó, mật thám Pháp theo dõi nghiêm ngặt, phát hiện các hoạt động chính trị bí mật theo hình thức Thiên Địa Hội giữa Núi Tượng với tổ chức ở Sài Gòn và Campuchia, nên người Pháp đã 7 lần đưa quân ruồng bố giải tán và đốt phá chùa chiền. Theo mô tả, nhờ tài trí hơn người và tài biến hóa kỳ diệu, ông đều may mắn thoát khỏi, rồi sang Campuchia lánh nạn, đợi tình hình im ắng trở về Núi Tượng chỉ đạo tín đồ tái thiết lại cơ sở chùa miếu10.

     Trong mắt nhà cầm quyền Pháp, ông Ngô Lợi cũng được xếp vào hàng “gian đạo sĩ” vì các hoạt động hộ quốc an dân, mưu đồ khởi nghĩa chống thực dân xâm lược.

     Còn tiếp. Kính mời Quý độc giả xem tiếp

Hiện tượng “Gian đạo sĩ” ở Nam Bộ thế kỷ 19 (Phần 2)

Nguồn: Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 – 2019

Thánh Địa Việt Nam Học
(https://thanhdiavietnamhoc.com)