Sự ảnh hưởng của ĐẠO KHỔNG đến hoạt động QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ở Việt Nam hiện nay
Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo (đạo Khổng hoặc Nho học, Khổng học) là một tư tưởng chính trị, đạo đức do Khổng Tử lập ra. Chủ trương của đạo Khổng là dùng “lễ trị”, “đức trị” để tổ chức và quản lí xã hội, mong muốn xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam, từ xa xưa trong lịch sử, đạo Khổng đã ảnh hưởng đến đời sống văn hoá, xã hội, đến việc xây dựng các triều đại phong kiến, giúp cha ông ta thiết lập nên những bộ máy hành chính khá vững chắc. Ngày nay, “Lễ trị” và “Đức trị” của đạo Khổng đã và đang tiếp tục tham gia quản lí nhà nước, tham gia vào quá trình xây dựng một nền hành chính công vừa hiện đại vừa truyền thống và mang bản sắc riêng rất Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích những ảnh hưởng tích cực và những hạn chế của đạo Khổng đến các hoạt động quản lí nhà nước. Từ đó, đề cập đến một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa những ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng đến hoạt động quản lí nhà nước ta hiện nay.
1. Những ảnh hưởng tích cực của tư tưởng đạo Khổng đến hoạt động quản lí nhà nước
Một là, ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng trong việc xây dựng một số bộ luật ở Việt Nam hiện nay
Chịu ảnh hưởng từ thuyết “chính danh” của đạo Khổng, ngay trong bản Hiến pháp được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2014 đã thể hiện sự phân công, phân nhiệm rất cụ thể, rõ ràng cho từng cá nhân lãnh đạo, từng cấp, từng bộ ngành của nhà nước Việt Nam. Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng có nhiều điều khẳng định vai trò của đạo đức. Cụ thể, Hiến pháp khẳng định và ghi nhận về quyền con người, song quyền công dân đó có thể bị hạn chế trong trường hợp cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt là đạo đức xã hội. Như vậy, đạo đức vẫn là một tiêu chí, một yêu cầu đối với mỗi công dân Việt Nam trong giai đoạn mới. Chỉ có điều, những chuẩn mực đạo đức cũ sẽ dần dần nhường chỗ cho những chuẩn mực đạo mức mới: đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa,…
Đạo Khổng coi gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách con người. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Những quan niệm đó đương nhiên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng Luật Hôn nhân và Gia đình ở nước ta. Trong Luật ghi rõ: “Để đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống, những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; xây dựng chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình,… kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững…” 1. Rõ ràng, các điều khoản của Luật này đã đề cao truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình và vai trò của nó trong việc giáo dục nhân cách cho mỗi cá nhân trong xã hội.
Ngoài ra, theo Nho giáo, đạo đức người cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Khổng Tử khuyên người cầm quyền phải “tu thân” để làm tấm gương cho người dưới. Với việc đề cao “tu thân”, coi đây là cái gốc trong rèn luyện nhân cách, Nho giáo đã thật sự tạo nên một lớp người sống có đạo đức, có nhân cách, nhất là người làm quan. Bởi theo Nho giáo, người làm quan phải có đức, phải lấy nhân nghĩa, lấy chữ tín làm mục tiêu để cảm hoá lòng người và để cai trị. Muốn vậy, vua – quan phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên lợi ích của mình. Ngày nay, người cán bộ trong bộ máy nhà nước cũng cần phải có đức, có lương tâm và có trách nhiệm. Đó là điều kiện đầu tiên để dân tin yêu, kính phục. Xuất phát từ mục đích nêu trên và chịu ảnh hưởng tư tưởng đức trị của Khổng Tử, các đạo luật quy định về tiêu chuẩn, đạo đức, trách nhiệm đối với cán bộ, công chức ở nước ta đã ra đời như: Luật Cán bộ, công chức (2008), Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí (năm 2005, sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực ngày 1-7-2014), Luật Phòng chống tham nhũng (2006), Luật Lao động (2002), Luật Dân sự (2005),…
Như vậy, có thể nói, những năm gần đây, hàng loạt các văn bản pháp luật của nhà nước đã thể hiện sự pháp luật hoá những giá trị đạo đức thành chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh những quan hệ phát triển không ngừng của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, sự thừa nhận và khuyến khích của nhà nước đối với xây dựng hương ước mới, xây dựng bảo tồn những phong tục tập quán có ý nghĩa trong hình thành và phát triển nhân cách con người mới lại một lần nữa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của nhà nước về vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội. Có thể thấy, giữa pháp luật và đạo đức luôn có mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo là rất lớn đến các hoạt động quản lí nhà nước.
Hai là, ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng trong việc xây dựng tổ chức bộ máy hành chính
Theo Khổng Tử, “chính danh” là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình, không giành vị trí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn kỉ cương, trật tự của tổ chức; không ở chức vị ấy thì không được bàn việc, không được hưởng quyền lợi, bổng lộc của chức vị ấy. Do ảnh hưởng của tư tưởng này, ở Việt Nam hiện nay đã áp dụng chế độ thi tuyển công chức hành chính và trả lương công chức gắn chặt với năng lực của công chức và kết quả thực hiện công vụ; thực hiện mô hình nhân sự theo chức nghiệp đối với viên chức nhà nước và chế độ theo việc làm đối với công chức lãnh đạo, quản lí. Tuyển dụng và đề bạt công chức lãnh đạo trên cơ sở cạnh tranh và tài năng. Hơn nữa, với thuyết “trung dung”, “tam cương” và “ngũ thường” buộc mỗi con người trong một tổ chức phải tuân thủ những ràng buộc khắt khe.
Những quan điểm đó trong tư tưởng của đạo Khổng hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển ổn định lâu dài của một tổ chức.
__________
1. Luật Hôn nhân và Gia đình.
Khổng Tử còn bày tỏ quan điểm của mình về chữ “hoà”. Trong một tổ chức, chữ “hoà” có hai nghĩa: Một là, làm tiêu tan những căng thẳng, xung đột giữa con người với con người, có lợi cho sự ổn định của tổ chức. Hai là, trong một tổ chức, chữ “hoà” thể hiện ở việc hiểu, thông cảm, sự đồng tâm nhất trí, chung sức hợp tác. Về điều này, đạo Khổng cho rằng “quần mà không đảng” có nghĩa là tụ hợp, tạo sức mạnh đoàn kết chứ không phải là “cấu kết” đồng lòng mưu lợi riêng; đó là mối quan hệ hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau, cùng vì mục đích chung của tổ chức. Như vậy, chữ “hoà” thực sự đã tạo sức mạnh đoàn kết trong tổ chức.
Có thể khẳng định sự tác động mạnh mẽ nhất của Đạo Khổng đến nước ta chính là đã tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống coi trọng người có học trong xã hội Việt Nam hiện đại. Và đương nhiên, trên con đường phấn đấu xây dựng một Nhà nước hùng mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức vừa “hồng” vừa “chuyên” – một đội ngũ trí thức thực sự, thì giáo dục phải được coi như một quốc sách hàng đầu. Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) của Đảng đã đánh giá cao vị trí và vai trò của đội ngũ trí thức và thể hiện rõ những quan điểm lớn trong xây dựng đội ngũ trí thức những năm tới.
Ba là, ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Có thể nói, tư tưởng đạo Khổng ảnh hưởng rất sâu sắc đến việc đào tạo, tuyển dụng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ngày nay.
Về đào tạo: Theo quan điểm Nho giáo, để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu – người lí tưởng này gọi là quân tử. Người quân tử phải không ngừng tu thân. Ngày nay, người cán bộ cũng phải không ngừng học tập và rèn luyện, từ đó các kiến thức học tập sẽ được tích luỹ, sẽ có điều kiện để duy trì và phát triển, sẽ có điều kiện để cống hiến tài năng cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội phồn vinh. Ngoài ra, học tập và rèn luyện còn tạo cho con người biết đạo ăn, đạo ở, biết quan tâm đến người khác, biết sống có văn hoá và đạo đức. Đó vừa là ý thức trách nhiệm vừa là nghĩa vụ, vừa là tình cảm đạo đức của mỗi người đối với cộng đồng, xã hội ngày nay.
Về tuyển dụng: Thời phong kiến ở nước ta, tư tưởng đạo Khổng đã tạo được cơ chế tuyển dụng người tài qua thi cử. Bất kể xuất thân ra sao (nông dân, người thợ, lính tráng,…) nếu học giỏi đỗ đạt thì có thể ra làm quan giúp nước (ở phương Tây thời kì này, chức tước chỉ được chuyển giao nội bộ trong các gia đình quý tộc, dân thường hầu như không với đến). Từ đó, tạo nên một tâm lí xã hội: “Không tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ”. Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi cử làm mục tiêu cao nhất trong cuộc đời mình. Xã hội nhờ vậy coi trọng sự học tập cần cù. Ngày nay, tất cả những điều đó vẫn còn nguyên giá trị. Hơn nữa, ngày nay còn có các quy định rõ ràng trong thi tuyển công chức, thi tuyển các chức danh lãnh đạo. Một số nơi đã tiến hành thử nghiệm và đạt kết quả tốt, đó là: lựa chọn được những người tài, có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực đảm nhiệm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời nâng cao chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản lí.
Về sử dụng: Những người trực tiếp tham gia vào bộ máy nhà nước, tham gia vào công tác quản lí phải là người được dân tin, dân yêu, dân kính trọng với các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, trách nhiệm, yêu cầu về năng lực. Tất cả những yêu cầu đó được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như Luật Cán bộ, công chức; Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những quy định khác,… Và đương nhiên, nếu không đáp ứng yêu cầu hoặc vi phạm những quy định trên, cán bộ, công chức sẽ bị xử lí bằng các hình phạt: khiển trách, cảnh cáo, cách chức…
Bốn là, ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng đến tư duy quản lí kinh tế
Trong văn hoá phương Tây, tư duy quản lí chú trọng theo đuổi lợi ích và hiệu quả, đặc biệt nhấn mạnh lợi ích vật chất. Việc chỉ nhấn mạnh đến vật chất sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, lệch lạc. Hơn nữa, sự phát triển của vật chất và những đòi hỏi về nó sẽ làm cho mâu thuẫn tăng lên, gây mất ổn định xã hội. Còn tư tưởng của đạo Khổng vừa thừa nhận lợi ích, vừa nhấn mạnh nghĩa vụ, chú ý đến sự thống nhất giữa nghĩa vụ và lợi ích để đạt được sự “trung dung”, cân bằng, không thiên lệch. Tư tưởng đạo Khổng còn chủ trương lấy “hoà” làm phương tiện khắc phục những thiếu sót trong thương trường, “né” sự cạnh tranh khốc liệt; thúc đẩy sự hài hoà trong mối quan hệ giữa con người với con người. Trong xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế ngày nay, tư tưởng trọng nghĩa, trọng chữ tín khi làm việc với đối tác rất cần được phát huy. Bởi tín có nghĩa là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau, là lòng tin của con người với nhau. Tín góp phần củng cố lòng tin giữa người với người.
2. Những hạn chế của tư tưởng đạo Khổng ảnh hưởng đến hoạt động quản lí nhà nước
Thứ nhất, vì quá đề cao Lễ và đạo đức nên hạn chế tính sáng tạo, tính tự chủ của con người
Nho giáo chỉ nói đến “trí dục” và “đức dục” mà không xét đến mặt “thể dục”, không nhắc đến những kiến thức về khoa học tự nhiên, các hoạt động thực tiễn và khả năng thực hành. Ngày nay, biểu hiện của nó là học lí thuyết mà không đi liền với thực tiễn. Hơn nữa, việc quá đề cao lễ và đức đã kìm hãm tự do của nhân cách tới mức không chấp nhận bất kì sáng kiến nào của con người, làm cho con người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ biết phục tùng theo chủ trương “thuật nhi bất tác” (chỉ làm theo mà không sáng tác gì thêm) – nguồn gốc của bệnh bảo thủ. Bệnh bảo thủ, kinh nghiệm chủ nghĩa đã trở thành khuôn thước chật hẹp gò bó sự phát triển, gắn liền với thái độ coi thường cái mới của một bộ phận cán bộ nhà nước hiện nay.
Thứ hai, tư tưởng chính danh đã quá đề cao danh phận, trọng danh hơn thực và là cơ sở hình thành nên bệnh hình thức chủ nghĩa
Hình thức chủ nghĩa đã dẫn đến việc “làm thì láo, báo cáo thì hay”, khoa trương thành tích, chạy theo thành tích trong một số cơ quan nhà nước. Và đâu đó trong bộ máy nhà nước còn mang nặng tính tôn ti, đẳng cấp, còn tâm lí háo danh, địa vị, bằng cấp,… Tâm lí háo danh và địa vị, đẳng cấp còn ảnh hưởng cả đến thế hệ trẻ. Họ thường không chọn một nghề, đi học làm thợ, mà luôn hướng đến, vươn lên làm “tướng”,… Mà muốn làm “tướng” thì phải thi đỗ một trường đại học nào đó. Họ mơ ước sẽ được làm công sở, được “ăn trắng, mặc trơn” chứ không “chân lấm tay bùn”, không phải lao động chân tay, không phải là hạng “thứ dân” như quan niệm của đạo Khổng,… Việc trọng danh hơn thực ở trên còn dẫn đến bệnh quan liêu, xa rời thực tế của một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay.
Thứ ba, việc đề cao tôn ti trật tự trong mối quan hệ tam cương của đạo Khổng: cha – con, vợ – chồng, vua – tôi là nguyên nhân tạo nên tính gia trưởng trong cơ quan nhà nước hiện nay
Thói gia trưởng trong gia đình đã được người cán bộ, công chức đem đến công sở. Ở công sở, những lãnh đạo gia trưởng thường kiêu căng, hống hách, khinh nhờn phép nước, nịnh nọt cấp trên. Thái độ tôn kính “thủ trưởng” một cách mù quáng của công chức đã khiến vai trò của tập thể mờ nhạt và bản thân thủ trưởng càng thêm táo tợn trong hành động, gia trưởng trong quyết định. Tính gia trưởng đi liền với độc đoán, chuyên quyền. Bệnh gia trưởng cũng cản trở bước tiến của người phụ nữ hiện đại, không cho phụ nữ có quyền được gánh vác những trọng trách lãnh đạo như đàn ông,…
Thứ tư, tư tưởng duy tình, duy nghĩa của đạo Khổng để tình cao hơn lí tạo nên tính không công bằng trong cơ quan nhà nước
Trong xu hướng phát triển như vũ bão của khoa học- công nghệ, tư tưởng “thượng hiền” – đề cao nhân tài rất được coi trọng. Tuy nhiên, lại “thượng hiền trong khuôn khổ thân thân”. Tức là đề cao những người tài trước hết trong phạm vi ruột già, thân tộc. Chính tư tưởng này làm cho chính sách sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay thiếu khách quan. Mối quan hệ cơ quan trở thành anh – em, chú – cháu. Việc “một người làm quan cả họ được nhờ”, việc kéo bè, kết cánh, cục bộ địa phương sẽ trở thành một mối hoạ lớn cho các cơ quan nhà nước hiện nay. Ngoài ra, việc quá coi trọng “lễ trị”, “đức trị” mà coi nhẹ “pháp trị”, đã làm giảm tính nghiêm minh trong thực thi công vụ.
3. Một số giải pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những điểm tích cực nêu trên
Một là, cần kiên quyết gạt bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng đạo Khổng đến đạo đức người cán bộ, công chức hiện nay. Cần có thái độ phê phán mạnh mẽ và triệt để đối với những tư tưởng ấu trĩ, lạc hậu của Nho giáo,… Đẩy mạnh công tác đấu tranh phê và tự phê, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, công chức.
Hai là, cần áp dụng phương pháp giáo dục đạo đức cơ bản của đạo Khổng. Đó là phương pháp đi từ thấp đến cao, từ rộng đến hẹp, từ nhà nước đến gia đình, từ gia đình ra xã hội, từ thuyết phục đến cưỡng bức. Trong đó, cần chú trọng đến việc tự rèn luyện, hay còn gọi là tự “tu thân” của đạo Khổng.
Ba là, bên cạnh việc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần tiến hành xây dựng một nền đạo đức mới được chắt lọc từ tinh hoa văn hoá dân tộc. Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, công chức. Đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, phấn đấu xây dựng một đội ngũ vừa hồng, vừa chuyên, vừa có đạo đức, vừa có tri thức đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Bốn là, thực hiện tốt các chính sách đào tạo, tuyển và sử dụng cán bộ, công chức. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước kết hợp với nhiệm vụ mở mang giáo dục, công bằng, chặt chẽ trong tuyển dụng; thực thi tốt chính sách tiến cử người có đức, có tài vào các vị trí quản lí, đồng thời kiên quyết, thẳng tay thải loại những cá nhân tham ô, tham nhũng, tha hoá, biến chất.
Năm là, đề cao đức trị, lễ trị nhưng cần kết hợp pháp trị để đạt được hiệu quả quản lí cao nhất. Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, chúng ta đặc biệt ghi nhận vai trò của vua Lê Thánh Tông ở thế kỉ XV – người đã tiến hành cuộc cải cách hành chính thành công với đường lối và phương thức cai trị “ngoại Nho” – “nội pháp” – một sự kết hợp nhuần nhuyễn đạo đức với pháp luật trong thuật trị nước của mình. Ngày nay, với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc kết hợp đạo đức với pháp luật để quản lí nhà nước là một biện pháp hiệu quả nhất.
Tóm lại, tư tưởng đạo đức Nho giáo đã có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động quản lí nhà nước ở nước ta. Sự tác động, ảnh hưởng này vừa có tính tích cực, vừa có những hạn chế nhất định. Điều quan trọng là chúng ta cần phải biết tiếp thu có chọn lọc để phát huy vai trò thực sự của tư tưởng này trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở Việt Nam hiện nay.
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Quang Đạm, Nho giáo xưa và nay, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999.
2. Vũ Khiêu, Về giá trị đương đại của Nho giáo Việt Nam, Triết học, số 8, 2009.
3. Đỗ Hoài Nam – Tu Weiming – Trịnh Khắc Mạnh…; Chu Tuyết Lan dịch tiếng Anh, Nho giáo ở Việt Nam, Kỉ yếu hội thảo quốc tế = International conference proceedings, NXB Khoa học Xã hội, 2006.
4. Nguyễn Đức Sự, Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Triết học, số 10, 2005.
NGUYỄN THỊ THU HOÀ 1
__________
1. ThS, Học viện Hành chính Quốc gia.